Giá vàng sẽ tiếp tục ‘nín lặng’ đợi thông tin lãi suất

Đỗ Minh
Giá vàng thế giới tuần qua tiếp tục sụt giảm khoảng gần 2%, còn giá vàng SJC chỉ giảm nhẹ với 80 ngàn đồng/lượng. Trong tuần tới, các dự báo về giá vàng đều cho thấy trạng thái lưỡng lự và thể hiện tâm lý chờ đợi thông tin từ cuộc họp của Fed vào ngày 17 và 18.9 tới...
aa

gia vang tuan toiChênh lệch giá vàng nội – ngoại lại tăng lên hơn 4 triệu đồng/lượng

Giá vàng trong nước tuần qua biến động trong biên độ khá hẹp, trong đó mức giá của vàng SJC bán ra cao nhất được ghi nhận ở mức 34,22 triệu đồng/lượng, thấp nhât ở mức 34,02 triệu đồng/lượng. Kết thúc tuần, giá vàng SJC cũng bị sụt giảm nhẹ với mức giảm 80 ngàn đồng/lượng so với tuần trước.

Cụ thể, giá vàng SJC đóng cửa tuần trên bảng giá niêm yết của Công ty Vàng bạc Đá quý Sài Gòn áp dụng tại TP. Hồ Chí Minh đứng ở mức 33,88 – 34,13 triệu đồng/lượng, tại Hà Nội và các địa phương khác đứng ở mức 33,88 – 33,15 triệu đồng/lượng (giá mua vào – bán ra).

Còn trên bảng giá của Tập đoàn DOJI, giá vàng SJC đóng cửa tuần áp dụng tại Hà Nội có cùng mức giá cho cả giao dịch buôn và giao dịch lẻ là 33,98 – 33,08 triệu đồng/lượng, còn tại TP. Hồ Chí Minh ở chiều giao dịch lẻ là 33,95 – 34,05 triệu đồng/lượng, giao dịch buôn là 33,96 – 34,04 triệu đồng/lượng.

Trong tuần qua, có thời điểm giá vàng SJC đã giảm về sát mức 34 triệu đồng/lượng, nhưng sau đó đã nhích nhẹ lên, nhưng mức giá đóng cửa tuần vẫn thấp hơn khoảng 80 ngàn đồng/lượng so với tuần trước và tính chung từ đầu tháng 9 đến nay, giá vàng SJC đã bị sụt giảm 170 ngàn đồng/lượng.

Trong khi đó, giá vàng trên thị trường thế giới trong tuần qua lại có mức sụt giảm sâu hơn mức sụt giảm của giá vàng trong nước, vì vậy mức chênh lệch giữa giá vàng trong nước và thế giới đã lại kéo lên hơn 4 triệu đồng/lượng.

Cụ thể, đóng cửa phiên giao dịch tuần qua (11/9), giá vàng giao ngay niêm yết trên sàn giao dịch Kitco của Singapore đứng ở mức 1.108,01 USD/ounce (giá bán ra), giảm khoảng 8 USD/ounce so với mức giá đóng cửa tuần trước. Qui đổi theo tỷ giá bình quân liên ngân hàng, giá vàng thế giới đóng cửa tuần tương đương mức 30,06 triệu đồng/lượng, thấp hơn giá vàng SJC bán ra tại TP. Hồ Chí Minh khoảng 4,07 triệu đồng/lượng.

Trái ngược về dự báo giá vàng tuần tới

Đối chiếu kết quả giá vàng tuần qua với kết quả khảo sát ý kiến của các nhà đầu tư và các chuyên gia thị trường của Kitco News ở cuối tuần trước cho thấy, sự dè dặt của các ý kiến về xu hướng của giá vàng tuần qua là khá sát với thực tế. Tuy nhiên, theo tỷ lệ kỳ vọng của số đông về sự gia tăng của giá vàng tuần qua đã không diễn ra trên thực tế và giá vàng cả tuần đã để mất gần 2%.

Còn kết quả khảo sát của Kitco News về dự báo cho giá vàng tuần tới đây cho thấy, xu hướng dự đoán giá vàng có sự “lệch pha” giữa ý kiến của chuyên gia với các nhà đầu tư mua bán lẻ.

Cụ thể, thông tin công bố của bản tin Kitco News về kết quả 2 cuộc khảo sát cho biết, ở cuộc khảo sát trực tuyến có tổng số 195 người tham gia trả lời, trong đó có 74 người (38%) đưa ra dự báo giá vàng có thể tăng lên trong tuần tới, trong khi có 81 cử tri (45%) người đưa ra dự báo giá vàng sẽ giảm trong tuần tới và 34 người (17%) đưa ra dự đoán giá vàng sẽ đi ngang (tuần trước có 44% số người được hỏi trả lời lạc quan về giá vàng).

Khác với các nhà đầu tư, kết quả khảo sát từ các chuyên gia lại có kết quả ngược lại, khi có tới 45% ý kiến chuyên gia (9 trên 20 người trả lời) dự đoán giá vàng tuần tới sẽ tăng lên, trong khi có 35% (7 trên 20 người trả lời) đưa ra dự đoán giá vàng sẽ giảm và 20% (4 trên 20 người trả lời) đưa ra dự đoán giá vàng sẽ chỉ đi ngang trong tuần tới.

gia vang tuan toi
Giới đầu tư và các chuyên gia có tỷ lệ trái ngược nhau về tỷ lệ dự báo tăng - giảm của giá vàng tuần tới.

Số ý kiến của chuyên gia có dự đoán lạc quan cho giá vàng tuần tới chủ yếu dựa trên suy đoán Fed sẽ chưa đưa ra quyết định tăng lãi suất trong cuộc họp tới. Kitco News trích dẫn ý kiến của ông Adrian Day, Chủ tịch Adrian Day Asset Management cho biết: "Không tăng lãi suất sẽ chứng minh một lần nữa sự rụt rè Fed trong bối cảnh kinh tế hiện nay của Mỹ. Nhưng nếu có tăng, thì cũng sẽ tăng ở mức khiêm tốn, theo đó giá vàng sẽ diễn biến theo chiều hướng tích cực hơn”.

Kitco News cũng trích dẫn ý kiến của bà Erica Rannestad - nhà phân tích cao cấp tại Thomson Reuters GFMS, nói rằng: Việc tăng lãi suất đã được định giá vào thị trường vàng trong nhiều tháng qua, do vậy khi thông tin đưa ra có việc tăng lãi suất thì cũng sẽ không gây tác động mạnh đến giá vàng nữa và có thể giá vàng lại được kỳ vọng tăng trở lại trong ngắn hạn.

Tuy nhiên, Kitco News trích dẫn ý kiến của nhiều chuyên gia rằng, khả năng quyết định về việc tăng hoặc chưa tăng lãi suất trong cuộc họp của Fed trong tuần tới vẫn là 50/50.

Kitco News cũng trích dẫn phân tích của ông Ronald-Peter Stoeferle, quản lý quỹ tại Incrementum AG với việc ông này cho rằng, trong ngắn hạn, giá vàng sẽ chịu áp lực, vì nó thiếu một chất xúc tác để đẩy giá cao hơn.

Stoeferle nói thêm rằng ông không nghĩ rằng vẫn sẽ có một tỷ lệ tăng trong tháng Chín, cũng không các phần còn lại của năm 2015, nhưng yếu tố đó sẽ không đủ để quay lại xu hướng giảm hiện tại. "Có quá nhiều áp lực giảm phát trong nền kinh tế toàn cầu và thị trường đã mất niềm tin vào vàng," ông nói.

Còn Sean Lusk, Giám đốc bảo hiểm rủi ro thương mại tại Walsh Trading cũng được Kitco News trích dẫn ý kiến rằng, ông đang tư vấn cho các thương nhân để nhìn xa hơn phản ứng ban đầu của vàng và biến động theo việc tăng lãi suất.

Sean Lusk đưa ra hai kịch bản. Trong kịch bản đầu tiên của mình, Sean Lusk cho biết nếu Fed tăng giá lãi suất thì ban đàu đồng đô la Mỹ sẽ được hưởng lợi và tăng giá, còn vàng sẽ bị tác động tiêu cực, nhưng việc này có thể tạo ra một đợt bán tháo trên thị trường cổ phiếu và vốn có thể bắt đầu chuyển sang vàng.

Trong kịch bản thứ hai của mình, Sean Lusk nói rằng nếu Fed trì hoãn việc tăng lãi suất, thì nó làm cho giá đồng Đô la Mỹ phản ứng tiêu cực và sẽ tạo tích cực cho giá vàng trong phản ứng ban đầu. Tuy nhiên, các chính sách tiền tệ nới lỏng sẽ hỗ trợ thị trường cổ phiếu và vốn sẽ chảy ra khỏi vàng và trở lại vào cổ phiếu./.


Đỗ Minh

Đỗ Minh

Đọc thêm

Bảo hiểm xã hội Việt Nam "siết" quản lý tổ chức hỗ trợ phát triển đối tượng

Bảo hiểm xã hội Việt Nam "siết" quản lý tổ chức hỗ trợ phát triển đối tượng

Bảo hiểm xã hội Việt Nam yêu cầu bảo hiểm xã hội các tỉnh, thành phố tăng cường rà soát, chấn chỉnh hoạt động của các tổ chức hỗ trợ phát triển đối tượng, bảo đảm thu - nộp đúng quy định, quản lý chặt nguồn tiền và quyền lợi người tham gia.
Mở rộng hưu trí tự nguyện, tăng nguồn lực tài chính dài hạn

Mở rộng hưu trí tự nguyện, tăng nguồn lực tài chính dài hạn

(TBTCO) - Việt Nam đang đối mặt với tốc độ già hóa dân số nhanh, hưu trí tự nguyện được kỳ vọng bổ sung một lớp an sinh cho người lao động. Đồng thời trở thành công cụ phúc lợi giúp doanh nghiệp thu hút, giữ chân nhân tài.
Mở thêm “van” tín dụng bất động sản cho khách sạn, khu nghỉ dưỡng tại 25 ngân hàng

Mở thêm “van” tín dụng bất động sản cho khách sạn, khu nghỉ dưỡng tại 25 ngân hàng

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước mở thêm dư địa tín dụng cho 25 ngân hàng, khi không tính phần dư nợ tăng thêm đối với nhà hàng, khách sạn, khu du lịch, sinh thái, nghỉ dưỡng vào dư nợ bất động sản khi kiểm soát tăng trưởng tín dụng năm 2026. Cơ chế này tiếp nối chính sách tương tự đã áp dụng với nhà ở xã hội, khu công nghiệp và khu chế xuất.
Ký kết hợp tác chiến lược toàn diện giữa Xuân Mai Corp và BAC A BANK - Hướng tới sự phát triển bền vững

Ký kết hợp tác chiến lược toàn diện giữa Xuân Mai Corp và BAC A BANK - Hướng tới sự phát triển bền vững

(TBTCO) - Ngày 16/09/2026, tại Hà Nội, Lễ ký kết Hợp tác chiến lược toàn diện giữa Công ty Cổ phần Đầu tư và Xây dựng Xuân Mai (Xuân Mai Corp) và Ngân hàng TMCP Bắc Á (BAC A BANK) - Chi nhánh Thăng Long và Chi nhánh Hà Nội đã diễn ra thành công tốt đẹp. Sự kiện đánh dấu một cột mốc quan trọng, nâng tầm mối quan hệ hợp tác gắn bó suốt nhiều năm qua trở thành đối tác chiến lược sâu rộng, mở ra hành trình bứt phá mạnh mẽ cho cả hai bên trong tương lai.
ADB vinh danh giao dịch tài trợ thương mại của Eximbank

ADB vinh danh giao dịch tài trợ thương mại của Eximbank

(TBTCO) - Ngày 17/9/2026 tại Hà Nội, Ngân hàng TMCP Xuất Nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) được trao giải “Giao dịch tài trợ thương mại tốt nhất dành cho doanh nghiệp SME” (Best SME Deal of the Year) tại Lễ trao giải lần thứ 12 của Chương trình Tài trợ Thương mại và Chuỗi cung ứng (Trade and Supply Chain Finance Program - TSCFP), thuộc Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB), được tổ chức vào ngày 10/9/2026.
Giá vàng hôm nay ngày 17/9: Vàng thế giới và trong nước diễn biến trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 17/9: Vàng thế giới và trong nước diễn biến trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm gần 30 USD/ounce sau quyết định tăng lãi suất của Fed, trong khi vàng miếng và vàng nhẫn trong nước đồng loạt tăng.
Gỡ "nút thắt", mở rộng dòng vốn cho thuê tài chính vào y tế tư nhân

Gỡ "nút thắt", mở rộng dòng vốn cho thuê tài chính vào y tế tư nhân

(TBTCO) - Với khả năng cung cấp vốn trung và dài hạn, tài trợ tới 100% giá trị thiết bị và dùng dòng tiền khai thác để trả tiền thuê, cho thuê tài chính có nhiều lợi thế với y tế tư nhân. Tuy nhiên, dư nợ cho thuê tài chính thiết bị y tế mới khoảng 1.000 tỷ đồng, đặt ra yêu cầu tháo gỡ “nút thắt”, có chính sách đặc thù để mở rộng kênh vốn này.
Prudential tổ chức ngày hội “Cùng con gìn giữ điều quý giá”

Prudential tổ chức ngày hội “Cùng con gìn giữ điều quý giá”

(TBTCO) - Prudential Việt Nam vừa tổ chức ngày hội “Cùng con gìn giữ điều quý giá” tại Lotte Mall Tây Hồ, Hà Nội. Thông qua các hoạt động trải nghiệm, chương trình giúp cha mẹ và trẻ nhận diện những giá trị cần gìn giữ, từ đó chủ động chuẩn bị cho tương lai.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 142,800 ▼700K 145,800 ▼700K
Hà Nội - PNJ 142,800 ▼700K 145,800 ▼700K
Đà Nẵng - PNJ 142,800 ▼700K 145,800 ▼700K
Miền Tây - PNJ 142,800 ▼700K 145,800 ▼700K
Tây Nguyên - PNJ 142,800 ▼700K 145,800 ▼700K
Đông Nam Bộ - PNJ 142,800 ▼700K 145,800 ▼700K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,280 ▼70K 14,580 ▼70K
Miếng SJC Nghệ An 14,280 ▼70K 14,580 ▼70K
Miếng SJC Thái Bình 14,280 ▼70K 14,580 ▼70K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,280 ▼20K 14,630 ▼20K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,280 ▼20K 14,630 ▼20K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,280 ▼20K 14,630 ▼20K
NL 99.99 13,550 ▼50K
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,450 ▼50K
Trang sức 99.9 13,940 ▼20K 14,540 ▼20K
Trang sức 99.99 13,950 ▼20K 14,550 ▼20K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,428 ▼7K 1,458 ▼7K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,428 ▼7K 14,582 ▼70K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,428 ▼7K 14,583 ▼70K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,423 ▲1280K 1,453 ▲1307K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,423 ▲1280K 1,454 ▼7K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,398 ▼7K 1,443 ▲1298K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 135,871 ▼693K 142,871 ▼693K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 98,586 ▼525K 108,386 ▼525K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 88,484 ▲79588K 98,284 ▲88408K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,382 ▼427K 88,182 ▼427K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 74,485 ▼408K 84,285 ▼408K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,529 ▼292K 60,329 ▼292K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,428 ▼7K 1,458 ▼7K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,428 ▼7K 1,458 ▼7K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,428 ▼7K 1,458 ▼7K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,428 ▼7K 1,458 ▼7K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,428 ▼7K 1,458 ▼7K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,428 ▼7K 1,458 ▼7K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,428 ▼7K 1,458 ▼7K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,428 ▼7K 1,458 ▼7K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,428 ▼7K 1,458 ▼7K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,428 ▼7K 1,458 ▼7K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,428 ▼7K 1,458 ▼7K
Cập nhật: 17/09/2026 21:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17958 18232 18811
CAD 18056 18331 18950
CHF 30877 31254 31897
CNY 0 3835 3932
EUR 29223 29443 30527
GBP 34016 34406 35357
HKD 0 3185 3387
JPY 160 164 171
KRW 0 18 20
NZD 0 14614 15204
SGD 19848 20130 20702
THB 695 758 811
USD (1,2) 25749 0 0
USD (5,10,20) 25788 0 0
USD (50,100) 25816 25830 26200
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,805 25,805 26,185
USD(1-2-5) 24,773 - -
USD(10-20) 24,773 - -
EUR 29,242 29,265 30,659
JPY 162.53 162.82 172.67
GBP 34,183 34,276 35,461
AUD 18,161 18,227 18,915
CAD 18,230 18,289 18,965
CHF 31,153 31,250 32,175
SGD 19,959 20,021 20,807
CNY - 3,801 3,947
HKD 3,246 3,256 3,393
KRW 17.34 18.08 19.67
THB 743.36 752.54 806.01
NZD 14,588 14,723 15,162
SEK - 2,601 2,692
DKK - 3,922 4,061
NOK - 2,709 2,808
LAK - 0.89 1.23
MYR 5,931.92 - 6,695.46
TWD 736.25 - 892
SAR - 6,800.69 7,163.63
KWD - 82,300 87,574
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,780 25,810 26,190
EUR 29,244 29,361 30,555
GBP 34,159 34,296 35,321
HKD 3,247 3,260 3,377
CHF 30,952 31,076 32,013
JPY 162.50 163.15 171.13
AUD 18,099 18,172 18,764
SGD 19,999 20,079 20,667
THB 759 762 799
CAD 18,242 18,315 18,904
NZD 14,615 15,157
KRW 18.02 19.98
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25828 25828 26188
AUD 18144 18244 19167
CAD 18231 18331 19350
CHF 31079 31109 32687
CNY 3817.3 3842.3 3977.5
CZK 0 1190 0
DKK 0 4010 0
EUR 29389 29419 31142
GBP 34335 34385 36143
HKD 0 3305 0
JPY 163.5 164 174.52
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2820 0
NZD 0 14708 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2660 0
SGD 19996 20126 20857
THB 0 723.9 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14250000 14250000 14550000
SBJ 13000000 13000000 14550000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,703 25,740 26,180
USD20 25,673 25,740 26,180
USD1 25,653 25,740 26,180
AUD 18,184 18,284 19,389
EUR 29,161 29,261 30,919
CAD 18,170 18,270 19,575
SGD 20,072 20,222 20,779
JPY 163.85 165.35 170.9
GBP 34,184 34,334 35,400
XAU 14,278,000 0 14,582,000
CNY 0 3,725 0
THB 0 759 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 17/09/2026 21:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30