Giảm lãi suất cho vay gặp trở lực lớn từ nợ xấu

D.T

D.T

Việc xử lý các vấn đề mang tính cấu trúc của hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM), trong đó có nợ xấu và cơ cấu lại hệ thống sẽ có ảnh hưởng đến mặt bằng lãi suất tín dụng. Do đó, mục tiêu cắt giảm lãi suất cho vay đang gặp phải một “trở lực” rất lớn là nợ xấu.
aa

Giảm lãi suất cho vay

Ảnh minh họa. Ảnh: TL

Vì sao chậm giảm lãi suất huy động?

Kể từ ngày 26/9/2016, lãi suất huy động từ dân cư và các tổ chức của các ngân hàng thương mại lớn có sở hữu nhà nước, bao gồm Vietcombank, Vietinbank và BIDV đồng loạt giảm từ 0,3% - 0,5% cho tất cả các kỳ hạn ngắn dưới một năm.

Công ty Chứng khoán Bảo Việt (BVSC) cho rằng, dư thừa thanh khoản trên thị trường liên ngân hàng đã tạo tiền đề cho việc cắt giảm lãi suất huy động vào cuối quý III vừa qua. Tuy nhiên, dường như chưa có sự liên thông tức thời giữa lãi suất trên thị trường liên ngân hàng với lãi suất huy động từ các tổ chức và dân cư.

BVSC cho rằng, sự “lệch pha” về kỳ hạn giữa dòng vốn trên thị trường 2 liên ngân hàng (đa phần mang tính ngắn hạn trên khung tuần) và thị trường 1 từ tổ chức và dân cư (đa phần với các kỳ hạn 1 tháng trở lên) có thể là nguyên nhân gây ra độ trễ nêu trên.

Thêm vào đó, theo BVSC, động lực chủ yếu giúp tăng trạng thái dư thừa thanh khoản của hệ thống đến từ hoạt động mua dự trữ ngoại hối của Ngân hàng Nhà nước (NHNN), lại rất khó đoán định về mức độ cũng như khả năng tiếp diễn, nên các NHTM cũng giữ tâm lý thận trọng nghe ngóng. Chỉ đến khi Tổng cục Thống kê công bố số liệu lạm phát tháng 9 vẫn ở mức tương đối thấp (tăng 3,34% so với cùng kỳ năm trước) và không loại trừ khả năng có tín hiệu “bật đèn xanh” từ NHNN nên top các ngân hàng lớn đã yên tâm hơn và có quyết định cắt giảm lãi suất huy động vào cuối tháng 9.

Nợ xấu là lực cản rất lớn để giảm lãi suất cho vay

Theo nhận định của BVSC, xu hướng lãi suất trong thời gian tới tiếp tục phụ thuộc chủ yếu vào hoạt động điều tiết cung tiền của NHNN và một phần từ quyết định tăng lãi suất của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED). NHNN sẽ phải cân đối giữa việc theo đuổi mục tiêu tăng trưởng tín dụng và những áp lực từ hai yếu tố lạm phát – tỷ giá theo tính mùa vụ cuối năm.

Công ty này cho rằng, mặc dù áp lực từ lạm phát và tỷ giá có thể sẽ tăng dần trong những tháng cuối năm, nhưng rủi ro chưa quá lớn (được nhận định trong các phần tương ứng của báo cáo). Trong bối cảnh đó, việc theo đuổi mục tiêu tăng trưởng tín dụng nhiều khả năng sẽ được ưu tiên hơn, nhất là khi mức tăng trưởng đang có phần chậm lại so với cùng kỳ. Tuy vào cuối tháng 9, Kho bạc Nhà nước lại tiếp tục điều chỉnh kế hoạch phát hành trái phiếu tăng thêm 31.000 tỷ đồng, sau khi hoàn thành sớm kế hoạch phát hành 250.000 tỷ đồng cho cả năm 2016, nhưng mức điều chỉnh này không gây nhiều áp lực lên lãi suất.

“Với những cơ sở đó, mặt bằng lãi suất được dự báo sẽ tiếp tục giảm nhẹ và có thể lan tỏa trên diện rộng hơn, bao gồm cả sự tham gia của nhóm các NHTM top trung, hoặc đi ngang giữ ở mức thấp tương đối, trong kịch bản FED tăng lãi suất. Cũng ở kịch bản này, trong thời gian tới, mặc dù có thể gây ra những biến động ngắn hạn đối với tỷ giá, nhưng lại giúp làm giảm áp lực đối với giá hàng hóa và lạm phát nói chung”, BVSC cho hay.

Còn về trung hạn, BVSC khẳng định, “việc xử lý các vấn đề mang tính cấu trúc của hệ thống NHTM, trong đó có nợ xấu và cơ cấu lại hệ thống sẽ có ảnh hưởng đến mặt bằng lãi suất tín dụng. Mục tiêu cắt giảm lãi suất cho vay đang gặp phải một rào cản rất lớn mang tính cấu trúc là nợ xấu”.

Tính đến cuối tháng 6/2016, tổng nợ xấu trong hệ thống NHTM là trên 129.900 tỷ đồng – tính theo tỷ lệ 2,58% dư nợ tín dụng trong cùng thời kỳ. Theo số liệu của NHNN, tổng nợ xấu được xử lý trong 6 tháng đầu năm là 59.700 tỷ đồng; trong đó 52% do khách hàng tự trả nợ, 15% bán lại cho Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng (VAMC), 12% do các ngân hàng dùng dự phòng rủi ro để xử lý nợ xấu, phần còn lại là các hình thức khác.

Như vậy, “phần nhiều trong kết quả xử lý nợ xấu là do khách hàng tự trả nợ, nhưng bao nhiêu phần trong số này là do khách hàng vay nợ mới để trả nợ cũ trong bối cảnh tín dụng tăng trưởng trở lại?”, BVSC đặt câu hỏi.

Do vậy, “việc xử lý nợ xấu vẫn cần những luật lệ rõ ràng hơn về quyền tài sản, thực thi các giao dịch có tài sản đảm bảo và thực thi phá sản để có thể giải quyết vấn đề một cách thực chất hơn. Hơn nữa, việc tái cấu trúc hệ thống NHTM cũng cần được đẩy mạnh để không những hỗ trợ giải quyết nợ xấu, mà còn giúp hệ thống NHTM phát triển lành mạnh hơn trong tương lai”, BVSC cho biết thêm./.

D.T

D.T

Đọc thêm

Tranh chấp bảo hiểm "Bảo an tín dụng" ABIC sau khi người vay qua đời, Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long ra phán quyết

Tranh chấp bảo hiểm "Bảo an tín dụng" ABIC sau khi người vay qua đời, Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long ra phán quyết

(TBTCO) - Sau khi chồng qua đời vì ung thư chỉ hơn 8 tháng kể từ ngày tham gia bảo hiểm "Bảo an tín dụng" của ABIC, bà Nguyễn Thị Ngọc Thiêu đã khởi kiện, yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm chi trả quyền lợi bảo hiểm theo hợp đồng. Liên quan đến vụ tranh chấp này, Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long đã ban hành Bản án số 507/2026/DS-PT và đưa ra phán quyết đối với yêu cầu của các bên.
Tập đoàn Bảo Việt tiếp tục được vinh danh trong danh sách Fortune 500 Đông Nam Á

Tập đoàn Bảo Việt tiếp tục được vinh danh trong danh sách Fortune 500 Đông Nam Á

(TBTCO) - Tạp chí Fortune (Hoa Kỳ) vừa chính thức công bố Bảng xếp hạng Fortune Southeast Asia 500 (500 doanh nghiệp lớn nhất Đông Nam Á) năm 2026. Bảo Việt tiếp tục được vinh danh trong bảng xếp hạng này.
Giá vàng hôm nay ngày 17/6: Vàng trong nước đồng loạt tăng, vàng nhẫn chạm 152 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 17/6: Vàng trong nước đồng loạt tăng, vàng nhẫn chạm 152 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước đồng loạt tăng tại nhiều doanh nghiệp kinh doanh vàng lớn. Vàng miếng phổ biến ở mức 149 - 151,5 triệu đồng/lượng, trong khi vàng nhẫn có nơi được niêm yết tới 152 triệu đồng/lượng.
F88 chào bán hơn 22 triệu cổ phiếu giá 71.000 đồng, huy động nghìn tỷ cho vay cầm đồ

F88 chào bán hơn 22 triệu cổ phiếu giá 71.000 đồng, huy động nghìn tỷ cho vay cầm đồ

(TBTCO) - F88 vừa điều chỉnh phương án chào bán hơn 22 triệu cổ phiếu ra công chúng với giá 71.000 đồng/cổ phiếu, qua đó, dự kiến huy động khoảng 1.563,8 tỷ đồng để tăng vốn cho công ty con phục vụ hoạt động kinh doanh dịch vụ cầm đồ. F88 cũng dự kiến các phương án trong trường hợp đợt chào bán không huy động đủ số vốn như kế hoạch.
Khảo sát WGC: 89% ngân hàng trung ương dự kiến tăng nắm giữ vàng trong 12 tháng tới

Khảo sát WGC: 89% ngân hàng trung ương dự kiến tăng nắm giữ vàng trong 12 tháng tới

Khảo sát từ Hội đồng Vàng Thế giới (WGC) cho thấy 89% nhà quản lý dự trữ dự báo các ngân hàng trung ương toàn cầu sẽ tiếp tục tăng nắm giữ vàng trong 12 tháng tới, vàng vượt qua trái phiếu chính phủ Mỹ để trở thành tài sản dự trữ được ưu tiên nhất. Các ngân hàng trung ương đã tích lũy trung bình 1.000 tấn vàng trong 04 năm qua.
Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 6/2026

Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 6/2026

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng thương mại cho thấy, mặt bằng lãi suất huy động ít "gợn sóng", Hong Leong Bank là trường hợp hiếm hoi hạ lãi suất kỳ hạn 6 tháng xuống 6,8%/năm. Dù vậy, cuộc đua huy động tiền gửi sôi động qua các chương trình cộng lãi suất và ưu đãi gửi tiền trực tuyến. Lãi suất bình quân kỳ hạn 12 tháng ở mức 8,35% theo ghi nhận của MBS, tăng 257 điểm cơ bản.
Thế hệ bánh mì kẹp: Khi một người phải gánh tương lai của cả ba thế hệ

Thế hệ bánh mì kẹp: Khi một người phải gánh tương lai của cả ba thế hệ

(TBTCO) - Bước vào độ tuổi 40, khi cha mẹ ngày một lớn tuổi, con cái bước vào những năm học tập quan trọng và bản thân cũng bắt đầu nghĩ đến tuổi nghỉ hưu, nhiều người nhận ra mình đang phải chuẩn bị cho tương lai của cả ba thế hệ. Điều khiến họ trăn trở không chỉ là những khoản chi hôm nay, mà là làm sao để những kế hoạch đã dành nhiều năm vun đắp không bị dang dở giữa chừng.
Bước qua góc khuất, cuộc chuyển mình của ngành cầm đồ tỷ USD

Bước qua góc khuất, cuộc chuyển mình của ngành cầm đồ tỷ USD

(TBTCO) - Từ những tiệm cầm đồ truyền thống vốn nhiều góc khuất, ngành cầm đồ chuyển mình mạnh mẽ, nhờ công nghệ và khung pháp lý ngày càng hoàn thiện. Với quy mô dư nợ khoảng 10,3 tỷ USD, chiếm áp đảo 68% thị trường tài chính thay thế, các chuỗi cầm đồ thế hệ mới nổi lên như kênh tiếp cận vốn minh bạch, tiện lợi cho nhóm khó vay ngân hàng và tệp khách trẻ đầy tiềm năng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,880 15,130
Kim TT/AVPL 14,900 15,150
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,900 15,150
Nguyên Liệu 99.99 14,150 14,350
Nguyên Liệu 99.9 14,100 14,300
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 14,650 15,050
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 14,600 15,000
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 14,530 14,980
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 148,300 151,300
Hà Nội - PNJ 148,300 151,300
Đà Nẵng - PNJ 148,300 151,300
Miền Tây - PNJ 148,300 151,300
Tây Nguyên - PNJ 148,300 151,300
Đông Nam Bộ - PNJ 148,300 151,300
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,880 15,130
Miếng SJC Nghệ An 14,880 15,130
Miếng SJC Thái Bình 14,880 15,130
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,880 15,130
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,880 15,130
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,880 15,130
NL 99.90 13,850
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,900
Trang sức 99.9 14,320 15,020
Trang sức 99.99 14,330 15,030
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,488 15,132
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,488 15,133
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,487 1,512
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,487 1,513
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,467 1,497
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 141,218 148,218
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 102,936 112,436
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 92,456 101,956
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 81,976 91,476
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 77,934 87,434
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 53,081 62,581
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Cập nhật: 18/06/2026 02:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18044 18318 18897
CAD 18254 18530 19146
CHF 32569 32953 33599
CNY 0 3854 3947
EUR 29890 30112 31196
GBP 34495 34887 35825
HKD 0 3228 3431
JPY 157 161 167
KRW 0 16 18
NZD 0 14986 15577
SGD 19972 20254 20826
THB 723 786 840
USD (1,2) 26056 0 0
USD (5,10,20) 26097 0 0
USD (50,100) 26126 26140 26433
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,113 26,113 26,433
USD(1-2-5) 25,069 - -
USD(10-20) 25,069 - -
EUR 30,052 30,076 31,439
JPY 159.88 160.17 169.44
GBP 34,696 34,790 35,916
AUD 18,246 18,312 18,965
CAD 18,460 18,519 19,154
CHF 32,846 32,948 33,831
SGD 20,118 20,181 20,932
CNY - 3,825 3,961
HKD 3,295 3,305 3,435
KRW 16.05 16.74 18.17
THB 771.3 780.83 834.28
NZD 14,990 15,129 15,540
SEK - 2,766 2,857
DKK - 4,021 4,153
NOK - 2,729 2,822
LAK - 0.91 1.26
MYR 6,051.24 - 6,816.75
TWD 753.53 - 910.7
SAR - 6,900.62 7,251.62
KWD - 83,531 88,666
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,093 26,113 26,433
EUR 29,988 30,108 31,297
GBP 34,704 34,843 35,862
HKD 3,290 3,303 3,419
CHF 32,631 32,762 33,682
JPY 159.89 160.53 168.33
AUD 18,247 18,320 18,912
SGD 20,169 20,250 20,836
THB 789 792 827
CAD 18,458 18,532 19,095
NZD 15,092 15,629
KRW 16.68 18.30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26147 26147 26433
AUD 18233 18333 19258
CAD 18447 18547 19558
CHF 32846 32876 34455
CNY 3835 3860 3995.1
CZK 0 1210 0
DKK 0 4060 0
EUR 30088 30118 31840
GBP 34810 34860 36615
HKD 0 3355 0
JPY 160.79 161.29 171.82
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6720 0
NOK 0 2770 0
NZD 0 15103 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2776 0
SGD 20135 20265 20993
THB 0 752.4 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14850000 14850000 15250000
SBJ 13500000 13500000 15250000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,146 26,196 26,433
USD20 26,146 26,196 26,433
USD1 23,917 26,196 26,433
AUD 18,269 18,369 19,481
EUR 30,250 30,250 31,656
CAD 18,396 18,496 19,802
SGD 20,223 20,373 20,936
JPY 161.14 162.64 167.21
GBP 34,711 35,061 36,149
XAU 14,978,000 0 15,182,000
CNY 0 3,745 0
THB 0 788 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 18/06/2026 02:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80