Hệ sinh thái số ngân hàng: Cơ hội tăng trưởng cho doanh nghiệp

(TBTCO) - Không dừng lại ở các giao dịch ngân hàng thông thường, doanh nghiệp khi tham gia vào hệ sinh thái số của ngân hàng có thể gặp gỡ các doanh nghiệp khác, chia sẻ sản phẩm với khách hàng trong hệ sinh thái đó và tối ưu hoá chi phí cho chuyển đổi số. Đó là những chia sẻ của ông Vũ Hồng Phú – thành viên Ban điều hành MB, tại Diễn đàn Shark Tank Forum 2022 vừa qua.
aa
Hệ sinh thái số ngân hàng: Cơ hội tăng trưởng cho doanh nghiệp
Ông Vũ Hồng Phú – thành viên Ban điều hành MB kiêm Tổng giám đốc MB Ageas Life, chia sẻ kinh nghiệm chuyển đổi số của MB.

Sáng 25/11, Diễn đàn Shark Tank Forum 2022 - STF5, với chủ đề “Đột phá tăng trưởng trong nền kinh tế số - Hacking growth in the digital economy”, do TVHub và VTV Digital được tổ chức tại TP. Hồ Chí Minh. Tại sự kiện, ông Vũ Hồng Phú – thành viên Ban điều hành MB kiêm Tổng giám đốc MB Ageas Life, đã chia sẻ những kinh nghiệm của MB trên hành trình chuyển đổi số cho doanh nghiệp trong bài thuyết trình “Ngân hàng số: Cơ hội tăng trưởng mới trong nền kinh tế số”.

Mở đầu bài tham luận, lãnh đạo MB lý giải vì sao chuyển đổi số là xu hướng tất yếu đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME) sau đại dịch Covid-19. Ông cho biết, hơn 50% doanh nghiệp SME tại châu Á chưa được tiếp cận nguồn vốn chính thức, đồng nghĩa với khoảng 1,1 nghìn tỷ USD vốn vay ngân hàng cho SME chưa được triển khai. “Đây là tiềm năng rất lớn đối với nền kinh tế số của nước ta” - vị lãnh đạo cho hay. Bên cạnh đó, theo ông, vẫn tồn tại những thách thức cũ với doanh nghiệp SME, ví dụ, 45% SME gặp khó khăn với thời gian xử lý hồ sơ vay dài dù các ngân hàng đẩy mạnh đổi mới về sản phẩm và trải nghiệm khách hàng.

Theo số liệu khảo sát 2260 doanh nghiệp của McKinsey tại Đông Nam Á và Ấn Độ (năm 2022), trong 3 năm tới, khoảng 70% doanh nghiệp sẽ chuyển đổi sang nền tảng kinh doanh số (digital sales). Với chuyển dịch đó, dự kiến đến năm 2025, doanh thu đến từ nền tảng số sẽ chiếm khoảng 69%, trong khi doanh thu từ kênh truyền thống sẽ giảm xuống còn 31%. “Điều này đặt ra thách thức mới đối với doanh nghiệp SME, song cũng cho thấy tiềm năng về hợp tác số giữa ngân hàng và các merchant thúc đẩy bán chéo các dịch vụ tích hợp ngân hàng và ngoài ngân hàng (Beyond Banking)” - ông Phú chia sẻ.

Với mục tiêu trở thành doanh nghiệp số, trong 5 năm qua, MB tập trung làm chủ công nghệ, đẩy mạnh các dịch vụ, sản phẩm trên kênh số. Nền tảng số BIZ MBBank hiện có hơn 200.000 người dùng (user), với hơn 100.000 user giao dịch thường xuyên – chiếm khoảng 10% số lượng doanh nghiệp tại Việt Nam. Còn đối với App MBBank, nền tảng này đang phục vụ khoảng 20 triệu khách hàng, trong đó giao dịch thường xuyên hàng tháng là khoảng 12 triệu.

Trên cơ sở đó, lãnh đạo MB chỉ ra bốn trụ cột của một hệ sinh thái hợp tác thành công cho ngân hàng và các doanh nghiệp SME, bao gồm: xây dựng hệ sinh thái hợp tác chuẩn – đây là yếu tố quan trọng nhất đối với các doanh nghiệp SME khi chuyển đổi số; luôn lấy khách hàng làm trọng tâm; duy trì bằng quá trình hợp tác mạnh mẽ – giải quyết các yếu tố về tính độc quyền, chia sẻ dữ liệu, chia sẻ doanh thu…; và thúc đẩy thông qua sức mạnh phân tích dữ liệu.

Phân tích case study về hệ sinh thái số của MB, ông Vũ Hồng Phú cho biết, hiện MBBank có hai nền tảng số chủ lực là App MBBank (dành cho khách hàng cá nhân) và BIZ MBBank (dành cho khách hàng doanh nghiệp). “Trên nền tảng này không đơn thuần chỉ là dịch vụ ngân hàng mà chúng tôi cung cấp rất nhiều các dịch vụ khác cho khách hàng doanh nghiệp và khách hàng cá nhân”. Hiện có hơn 200 doanh nghiệp đang liên kết cung cấp sản phẩm, dịch vụ trên hai nền tảng ứng dụng này của MB, ông cho hay.

Lãnh đạo MB chia sẻ, hệ sinh thái tài chính dành cho doanh nghiệp của MB gồm ba cấu phần chính. Cấu phần thứ nhất là Dịch vụ ngân hàng (Business Banking) như mở tài khoản online, onboarding, bảo lãnh online… Hai cấu phần còn lại là Quản trị doanh nghiệp (Business Management) và Market Place – đây là điểm tạo nên sự khác biệt trong hệ sinh thái số dành cho doanh nghiệp của MB.

Cụ thể, hệ sinh thái số của MB tích hợp nền tảng quản trị cho doanh nghiệp như quản trị tài chính kế toán, quản trị nhân sự, quản lý bán hàng… “Trong tương lai, sau khi được nâng cấp, nền tảng này có thể tích hợp thành một giải pháp ERP trọn gói cho khách hàng” - ông Phú chia sẻ. “Bên cạnh đó, với cấu phần Market Place, các doanh nghiệp tham gia hệ sinh thái của MB có thể gặp gỡ nhau, chia sẻ sản phẩm với các khách hàng trong hệ sinh thái và tối ưu hoá chi phí khi tham gia vào một hệ sinh thái số. Đây là đặc thù của mô hình ngân hàng số mà MB đang triển khai cho doanh nghiệp” - lãnh đạo MB nhấn mạnh.

Hệ sinh thái số ngân hàng: Cơ hội tăng trưởng cho doanh nghiệp

Nền tảng BIZ MBBank dành cho khách hàng doanh nghiệp.

Cùng với đó, MB là ngân hàng tiên phong triển khai blockchain cho doanh nghiệp xuất nhập khẩu. “Giải pháp này giúp kết nối khách hàng xuất khẩu, nhập khẩu, ngân hàng của bên xuất khẩu, nhập khẩu, hải quan, hãng tàu…, cho phép người dùng theo dõi toàn bộ quy trình trên nền tảng Contour” - ông Phú cho biết. Theo lãnh đạo MB, đây là bước tiến mới của nhà băng trong lộ trình chuyển đổi số hoạt động tài chính ngân hàng, cụ thể là số hóa sản phẩm dịch vụ dành cho khách hàng xuất nhập khẩu, tối ưu trải nghiệm của khách hàng.

Với mục tiêu trở thành doanh nghiệp số, trong năm năm qua, MB tập trung làm chủ công nghệ, đẩy mạnh các dịch vụ, sản phẩm trên kênh số. Nền tảng số BIZ MBBank hiện có hơn 200.000 người dùng (user), với hơn 100.000 user giao dịch thường xuyên – chiếm khoảng 10% số lượng doanh nghiệp tại Việt Nam. Còn đối với App MBBank, nền tảng này đang phục vụ khoảng 20 triệu khách hàng, trong đó giao dịch thường xuyên hàng tháng là khoảng 12 triệu.

“So với 380 triệu giao dịch trong năm 2021 thì năm nay chúng tôi đã đạt 1 tỷ giao dịch trên kênh số, với doanh số giao dịch khoảng 8 triệu tỷ đồng. MB cũng đứng số 1 về thị phần số lượng giao dịch qua Napas” - lãnh đạo MB cho hay.

Việc hoàn thiện hệ sinh thái tài chính cộng với chiến lược kinh doanh số được triển khai quyết liệt đã giúp MB khởi sắc ngay trong giai đoạn nền kinh tế gặp khó khăn vì Covid-19, đạt được sự tăng trưởng ngoạn mục cả chiều rộng lẫn chiều sâu. Theo lãnh đạo MB, ngân hàng coi chuyển đổi số là một hành trình tất yếu, trong đó, thước đo chính cho chuyển đổi số là số lượng khách hàng sử dụng dịch vụ, số lượng giao dịch trên kênh số và trải nghiệm vượt trội của khách hàng.

Cũng mới đây, Fitch Ratings đã nâng xếp hạng tín nhiệm của MB từ B+ lên BB- với triển vọng tích cực, tạo điều kiện thuận lợi để MB tiếp tục đồng hành cùng các doanh nghiệp xuất nhập khẩu vừa và nhỏ cũng như các doanh nghiệp quy mô lớn, đồng thời khẳng định hoạt động an toàn, bền vững của MB trong thời gian qua.
Lê Thanh

Đọc thêm

ABBank kết nối hệ sinh thái, gia tăng giải pháp tài chính cho khách hàng

ABBank kết nối hệ sinh thái, gia tăng giải pháp tài chính cho khách hàng

(TBTCO) - Liên tiếp ký kết hợp tác với 4 đối tác trong lĩnh vực bảo hiểm, tư vấn tài chính, công nghệ và Đại học Kinh tế Quốc dân, ABBank mở rộng liên kết nguồn lực, phát triển hệ sinh thái dịch vụ tài chính đa dạng, đồng thời đầu tư đào tạo, nghiên cứu và tạo cơ hội nghề nghiệp cho nguồn nhân lực trẻ.
Doanh nghiệp muốn vay vốn phải minh bạch, không có chuyện hai bảng cân đối kế toán

Doanh nghiệp muốn vay vốn phải minh bạch, không có chuyện hai bảng cân đối kế toán

(TBTCO) - Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Đức Ấn cho biết doanh nghiệp phải minh bạch tài chính, chứng minh khả năng trả nợ để ngân hàng có cơ sở cấp tín dụng. Không thể có tình trạng doanh nghiệp dùng một bảng cân đối kế toán để nộp thuế, một bảng để vay ngân hàng.
Eximbank công bố kết quả kinh doanh Quý III: Tiếp tục định hướng phát triển thận trọng và bền vững

Eximbank công bố kết quả kinh doanh Quý III: Tiếp tục định hướng phát triển thận trọng và bền vững

(TBTCO) - Trong 9 tháng đầu năm 2026, Eximbank ghi nhận tổng thu nhập hoạt động thuần đạt 4.692 tỷ đồng. Ngân hàng tiếp tục tăng cường kỷ luật tài chính, tối ưu hóa vận hành với chi phí hoạt động ở mức 2.831 tỷ đồng, giảm 1,9% so với cùng kỳ, đồng thời duy trì nguồn lực đầu tư cho các sáng kiến chiến lược.
HDBank đạt 18.379 tỷ đồng lợi nhuận 9 tháng, tổng tài sản vượt 1,14 triệu tỷ đồng

HDBank đạt 18.379 tỷ đồng lợi nhuận 9 tháng, tổng tài sản vượt 1,14 triệu tỷ đồng

(TBTCO) - Lợi nhuận tăng 24,2%, hệ sinh thái phục vụ hơn 34 triệu khách hàng; HDBank tiếp tục mở rộng nguồn vốn quốc tế, thúc đẩy tài chính số và đồng hành cùng các động lực tăng trưởng của nền kinh tế.
Tỷ giá USD hôm nay 31/10: USD phân hóa giữa tuần 4 trong 5 ngân hàng trung ương lớn giữ nguyên lãi suất

Tỷ giá USD hôm nay 31/10: USD phân hóa giữa tuần 4 trong 5 ngân hàng trung ương lớn giữ nguyên lãi suất

(TBTCO) - Sáng 31/10, tỷ giá trung tâm tăng 10 đồng so với cuối tuần trước, lên 25.637 đồng, trong khi USD tại các ngân hàng đồng loạt giảm. Chỉ số DXY biến động hẹp trong tuần, song giữ đà tăng lên 101,96 điểm, giữa bối cảnh 5 ngân hàng trung ương lớn công bố quyết định lãi suất, trong đó Canada tăng lãi suất, 4 ngân hàng còn lại giữ nguyên.
Lãi 9 tháng hơn 5.400 tỷ đồng nhờ đà tăng lãi thuần, MSB rục rịch chào bán cổ phiếu

Lãi 9 tháng hơn 5.400 tỷ đồng nhờ đà tăng lãi thuần, MSB rục rịch chào bán cổ phiếu

(TBTCO) - Lũy kế 9 tháng 2026, MSB lãi trước thuế đạt 5.439,8 tỷ đồng, tăng 14,3%, nhờ thu nhập lãi thuần tăng 21,7%, chi phí dự phòng giảm. Tổng tài sản ngân hàng tiến sát 440.000 tỷ đồng, để tiếp tục mở rộng quy mô hoạt động, MSB đang triển khai kế hoạch chào bán cổ phiếu và lên kế hoạch mở rộng hệ sinh thái tài chính.
Giá vàng hôm nay ngày 31/10: Vàng thế giới và trong nước đồng loạt giảm mạnh

Giá vàng hôm nay ngày 31/10: Vàng thế giới và trong nước đồng loạt giảm mạnh

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm khoảng 145 USD/ounce, trong khi vàng miếng và vàng nhẫn trong nước cùng mất từ 900.000 đến 1,5 triệu đồng/lượng.
Bảo hiểm tử kỳ tạo sức bật, mở các hướng đi mới

Bảo hiểm tử kỳ tạo sức bật, mở các hướng đi mới

(TBTCO) - Nhu cầu về “tấm lá chắn” bảo vệ thuần túy, thực chất ngày càng rõ nét, đưa bảo hiểm tử kỳ dẫn đầu với hơn 50% số hợp đồng nhân thọ khai thác mới trong 9 tháng. Với chi phí hợp lý, quyền lợi bảo vệ cao, sản phẩm này được nhiều doanh nghiệp chú trọng phát triển, mở rộng kênh phân phối, thậm chí trở thành "mũi nhọn" kinh doanh.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 133,600 137,600
Hà Nội - PNJ 133,600 137,600
Đà Nẵng - PNJ 133,600 137,600
Miền Tây - PNJ 133,600 137,600
Tây Nguyên - PNJ 133,600 137,600
Đông Nam Bộ - PNJ 133,600 137,600
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,600 13,900
Miếng SJC Nghệ An 13,600 13,900
Miếng SJC Thái Bình 13,600 13,900
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,400 13,800
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,400 13,800
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,400 13,800
Trang sức 99.9 13,080 13,680
Trang sức 99.99 13,090 13,690
Vàng 99.9 12,550
Vàng 99.99 12,700
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 139
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 136 13,902
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 136 13,903
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,318 1,358
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,318 1,359
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,298 1,348
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 126,465 133,465
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 9,146 10,126
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 82,023 91,823
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 72,586 82,386
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 68,946 78,746
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 46,567 56,367
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 139
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 139
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 139
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 139
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 139
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 139
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 139
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 139
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 139
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 139
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 139
Cập nhật: 01/11/2026 15:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17606 17879 18468
CAD 17934 18209 18825
CHF 30632 31008 31646
CNY 0 3835 3931
EUR 28164 28379 29467
GBP 33752 34141 35078
HKD 0 3158 3361
JPY 157 160 167
KRW 0 18 20
NZD 0 14212 14810
SGD 19642 19923 20507
THB 680 743 796
USD (1,2) 25541 0 0
USD (5,10,20) 25579 0 0
USD (50,100) 25606 25620 25990
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,600 25,600 25,980
USD(1-2-5) 24,576 - -
USD(10-20) 24,576 - -
EUR 28,265 28,288 29,635
JPY 159.23 159.52 169.21
GBP 33,914 34,006 35,181
AUD 17,787 17,851 18,530
CAD 18,105 18,163 18,837
CHF 30,955 31,051 31,974
SGD 19,762 19,823 20,602
CNY - 3,798 3,944
HKD 3,220 3,230 3,366
KRW 17.82 18.58 20.22
THB 729.58 738.59 790.91
NZD 14,209 14,341 14,769
SEK - 2,578 2,670
DKK - 3,792 3,927
NOK - 2,744 2,843
LAK - 0.87 1.21
MYR 5,942.82 - 6,708.6
TWD 713.71 - 864.77
SAR - 6,753.85 7,115.12
KWD - 81,408 86,635
AED - 6,767 7,292
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,580 25,610 25,990
EUR 28,275 28,417 29,646
GBP 33,899 34,069 35,104
HKD 3,215 3,234 3,352
CHF 30,825 30,980 31,925
JPY 159.11 160.72 168.70
AUD 17,784 17,909 18,507
SGD 19,739 19,918 20,516
THB 734 749 786
CAD 18,077 18,204 18,802
NZD 14,304 14,859
KRW 18.62 20.60
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25600 25600 26000
AUD 17782 17882 18812
CAD 18132 18232 19245
CHF 31001 31031 32620
CNY 3817.4 3842.4 3977.6
CZK 0 1130 0
DKK 0 3845 0
EUR 28447 28477 30200
GBP 34145 34195 35953
HKD 0 3300 0
JPY 160.49 160.99 171.52
KHR 0 6.097 0
KRW 0 19 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6450 0
NOK 0 2778 0
NZD 0 14351 0
PHP 0 373 0
SEK 0 2605 0
SGD 19820 19950 20671
THB 0 710.3 0
TWD 0 785 0
SJC 9999 13840000 13840000 14140000
SBJ 12500000 12500000 14140000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,490 25,640 26,000
USD20 25,460 25,640 26,000
USD1 25,440 25,640 26,000
AUD 17,711 17,861 19,054
EUR 28,208 28,308 30,008
CAD 18,055 18,155 19,490
SGD 19,877 20,027 20,900
JPY 160.92 162.42 168.22
GBP 33,976 34,126 35,455
XAU 13,838,000 0 14,142,000
CNY 0 3,794 0
THB 0 746 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 01/11/2026 15:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30