Thị trường tiền tệ tuần 26 - 30/10: "Đảo chiều" bơm ròng hơn 28.000 tỷ đồng, USD biến động trái chiều sau tuần họp lãi suất

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tuần qua, từ ngày 26 - 30/10 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước "đảo chiều" bơm ròng 28.161,7 tỷ đồng qua kênh OMO, khi lãi suất liên ngân hàng có thời điểm tăng sát 5%/năm. Trong khi đó, tỷ giá USD phân hóa sau quyết định lãi suất 5 ngân hàng trung ương.
aa
Thị trường tiền tệ tuần 19 - 23/10: Bơm vốn qua kênh OMO “nhỏ giọt”, tỷ giá USD ngân hàng hạ nhiệt Lãi suất huy động giảm tới 0,9 điểm phần trăm, ưu đãi lãi vay được “khoanh vùng” Tỷ giá USD hôm nay 27/10: USD tăng, DXY giằng co quanh 102 điểm chờ tín hiệu từ 5 ngân hàng trung ương lớn

Lãi suất qua đêm có lúc sát 5%, dòng vốn OMO đảo chiều

Trong tuần từ ngày 26 - 30/10, Ngân hàng Nhà nước đẩy mạnh hỗ trợ thanh khoản hệ thống ngân hàng thông qua nghiệp vụ thị trường mở (OMO), chuyển sang trạng thái bơm ròng sau tuần hút ròng trước đó.

Tính chung cả tuần, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng 28.161,7 tỷ đồng ra thị trường, đảo chiều so với mức hút ròng gần 9.900 tỷ đồng của tuần trước. Đáng chú ý, khối lượng trúng thầu trên thị trường mở gia tăng mạnh về cuối tuần, riêng phiên 30/10 ghi nhận mức bơm ròng 16.068,7 tỷ đồng, cao nhất trong tuần.

Qua kênh cầm cố giấy tờ có giá, Ngân hàng Nhà nước phát hành tổng cộng hơn 66.955,59 tỷ đồng trong tuần; với lãi suất giữ nguyên ở mức 4,5%/năm.

Trong khi đó, khối lượng đáo hạn ở mức cao, lên tới gần 38.793,89 tỷ đồng.

Khối lượng lưu hành trên kênh OMO đến cuối tuần tăng lên 123.226,6 tỷ đồng, cho thấy nhà điều hành đang chủ động bổ sung nguồn vốn ngắn hạn, hỗ trợ thanh khoản hệ thống.

Thị trường tiền tệ tuần 26 - 30/10:
Thị trường tiền tệ tuần 26 - 30/10: “Đảo chiều” bơm ròng hơn 28.000 tỷ đồng, USD biến động trái chiều sau tuần họp lãi suất. Ảnh minh họa.

Trên thị trường liên ngân hàng, lãi suất qua đêm có thời điểm tăng sát 5%/năm, trước khi hạ nhiệt về 3,74%/năm vào ngày 29/10, giảm 0,21 điểm phần trăm so với cuối tuần trước.

Trong khi đó, lãi suất kỳ hạn 1 tuần tăng 1,11 điểm phần trăm, lên 5,19%/năm; kỳ hạn 2 tuần tăng 0,43 điểm phần trăm, lên 5,49%/năm; kỳ hạn 3 tháng tăng 0,66 điểm phần trăm, lên 7,56%/năm.

Riêng lãi suất kỳ hạn 1 tháng giảm 0,19 điểm phần trăm, xuống 5,06%/năm.

Về thanh khoản, doanh số giao dịch qua đêm duy trì tương đối ổn định quanh mức 800.000 tỷ đồng/phiên. Đáng chú ý, doanh số kỳ hạn 1 tuần tăng mạnh vượt 55.000 tỷ đồng vào ngày 29/10, so với 7.530 tỷ đồng cuối tuần trước, cho thấy nhu cầu vay mượn vốn có xu hướng gia tăng ở kỳ hạn này.

Trong báo cáo thị trường tiền tệ mới phát hành, Công ty Chứng khoán Yuanta Việt Nam (Chứng khoán Yuanta) cho rằng, thanh khoản ngắn hạn đã bớt căng thẳng, nhưng chưa thực sự ổn định.

Về diễn biến lãi suất huy động, Chứng khoán Yuanta nhận thấy các ngân hàng thương mại đồng loạt điều chỉnh giảm, khoảng 50 điểm cơ bản tại các kỳ hạn từ 6 - 36 tháng, sau công văn của Ngân hàng Nhà nước. Từ đó, góp phần hạn chế cạnh tranh nguồn vốn giữa các ngân hàng.

“Chúng tôi cho rằng lãi suất huy động có thể đi ngang sau đợt giảm tuần trước trong hai tháng còn lại của 2026, nhờ định hướng điều hành quyết liệt của Ngân hàng Nhà nước và dư địa tăng trưởng tín dụng còn lại tại nhiều ngân hàng thương mại không lớn” - Chứng khoán Yuanta đánh giá.

Tuy nhiên, khả năng giảm sâu trong năm 2027 vẫn hạn chế khi nhu cầu vốn trung và dài hạn tiếp tục ở mức cao, trong khi quy mô huy động chưa theo kịp tín dụng.

USD phân hóa, chờ biến số từ bầu cử Mỹ

Trên thị trường ngoại hối, trong tuần từ ngày 26 - 30/10, tỷ giá USD/VND ghi nhận diễn biến trái chiều giữa các thị trường. Trong khi tỷ giá trung tâm tăng nhẹ, giá USD tại các ngân hàng thương mại tiếp tục giảm, thì thị trường tự do bật tăng mạnh vào phiên cuối tuần.

Thị trường tiền tệ tuần 26 - 30/10:

Cụ thể, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm ngày 30/10 ở mức 25.637 đồng, tăng 10 đồng so với cuối tuần trước, đảo chiều so với mức giảm 10 đồng của tuần liền trước.

Tỷ giá các đồng ngoại tệ chủ chốt tại các ngân hàng thương mại ghi nhận diễn biến phân hóa. Đối với đồng USD, tỷ giá tại Vietcombank kết thúc tuần ở mức mua vào - bán ra lần lượt 25.580 - 25.990 VND/USD, cùng giảm 30 đồng so với cuối tuần trước. Tại BIDV, tỷ giá USD được niêm yết ở mức 25.635 - 26.015 VND/USD, giảm 5 đồng ở cả hai chiều mua vào và bán ra.

Ở chiều ngược lại, thị trường tự do ghi nhận biến động mạnh hơn, tăng 130 đồng so với cuối tuần trước, giao dịch quanh 26.140 - 26.210 VND/USD.

Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY - thước đo sức mạnh đồng USD so với rổ 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) - kết tuần ở 101,96 điểm, phục hồi sau khi có thời điểm giảm xuống dưới ngưỡng 101,5 điểm, qua đó duy trì mức tăng 0,15% trong cả tuần.

Đồng USD suy yếu trong phiên giao dịch ngày 30/10 khi làn sóng bán tháo cổ phiếu công nghệ trên toàn cầu. Dù chịu áp lực giảm trong phiên cuối tuần, đồng USD vẫn hướng tới mức tăng khoảng 0,51% trong tháng 10, đánh dấu tháng tăng thứ hai liên tiếp.

Trong tuần, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB), Ngân hàng Dự trữ New Zealand (RBNZ) và Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BoJ) đều quyết định giữ nguyên lãi suất. Riêng Ngân hàng Trung ương Canada (BoC) tăng lãi suất lên 2,5% sau hơn 3 năm.

Tuy nhiên, các dữ liệu kinh tế mới nhất của Mỹ tiếp tục củng cố kỳ vọng Fed duy trì chính sách tiền tệ thắt chặt, hỗ trợ đà tăng của đồng bạc xanh. Cụ thể, kinh tế Mỹ tăng trưởng 3,4% trong quý III, vượt dự báo, trong khi chỉ số giá chi tiêu tiêu dùng cá nhân (PCE) lõi tháng 9 tăng 0,3% so với tháng trước, cho thấy áp lực lạm phát vẫn hiện hữu. Những diễn biến này khiến thị trường tiếp tục định giá khả năng Fed tăng lãi suất tại cuộc họp tháng 12.

Khối Thị trường tài chính Ngân hàng ACB còn lưu ý thêm về sự kiện quan trọng tiếp theo sẽ là kết quả cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ tại Mỹ vào ngày 3/11 sắp tới. Nếu Đảng của Tổng thống Donald Trump thất bại tại kỳ bầu cử Quốc hội lần này, khả năng sẽ khiến đồng USD suy yếu thêm trước lo ngại các chính sách của Chính phủ sẽ không dễ dàng được thông qua trong 2 năm tiếp theo.

Trong nước, Chứng khoán Yuanta kỳ vọng, tỷ giá USD/VND sẽ duy trì ổn định trong ngắn hạn, nhờ diễn biến thuận lợi của thị trường liên ngân hàng. Tuy nhiên, xu hướng giá dầu và nhu cầu ngoại tệ cuối năm có thể làm gia tăng biến động. Bên cạnh đó, việc các ngân hàng thương mại đồng loạt giảm lãi suất huy động có thể thu hẹp lợi thế lãi suất của VND trong thời gian tới./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tập đoàn Bảo Việt (BVH) đạt gần 48.000 tỷ đồng doanh thu 9 tháng đầu năm

Tập đoàn Bảo Việt (BVH) đạt gần 48.000 tỷ đồng doanh thu 9 tháng đầu năm

(TBTCO) - Tập đoàn Bảo Việt công bố kết quả kinh doanh quý III năm 2026 (trước soát xét), theo đó công ty mẹ và các đơn vị thành viên ghi nhận mức tăng trưởng khả quan với tổng doanh thu hợp nhất 9 tháng đạt 47.928 tỷ đồng, tăng 9,1% so với cùng kỳ năm 2025.
Bảo hiểm PTI lãi 245 tỷ đồng sau 9 tháng, lợi nhuận gộp hoạt động tài chính tăng gần 65%

Bảo hiểm PTI lãi 245 tỷ đồng sau 9 tháng, lợi nhuận gộp hoạt động tài chính tăng gần 65%

(TBTCO) - Lũy kế 9 tháng năm 2026, PTI ghi nhận lợi nhuận trước thuế đạt 245 tỷ đồng, trong đó lợi nhuận từ hoạt động tài chính tăng gần 65%, trở thành "điểm sáng". Doanh thu phí bảo hiểm gốc đạt 3.238,7 tỷ đồng, duy trì đà tăng 16,7% sau quá trình tái cơ cấu danh mục bảo hiểm nhiều năm.
VBI – HMFI: 8 năm hợp tác chiến lược, hướng tới tăng trưởng bền vững

VBI – HMFI: 8 năm hợp tác chiến lược, hướng tới tăng trưởng bền vững

(TBTCO) - Ngày 27-28/10, Bảo hiểm VietinBank - VBI và Hyundai Marine & Fire Insurance (HMFI) tổ chức sự kiện hội nghị thường niên, đánh dấu năm thứ 8 trong quan hệ hợp tác chiến lược. Sự kiện tạo cơ hội để VBI kết nối kinh nghiệm quốc tế, cập nhật các xu hướng về phát triển sản phẩm, nâng cao trải nghiệm khách hàng và ứng dụng công nghệ nhằm đáp ứng yêu cầu thị trường và duy trì tăng trưởng bền vững.
Bảo hiểm nông nghiệp: Cần chuyển mạnh từ 'hỗ trợ khắc phục hậu quả sau rủi ro' sang 'quản trị rủi ro chủ động'

Bảo hiểm nông nghiệp: Cần chuyển mạnh từ 'hỗ trợ khắc phục hậu quả sau rủi ro' sang 'quản trị rủi ro chủ động'

(TBTCO) - Sáng 30/10, tại TP. Cần Thơ, Bộ Tài chính phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Môi trường, UBND TP. Cần Thơ và Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam tổ chức Hội nghị phổ biến Nghị định số 346/2026/NĐ-CP ngày 5/9/2026 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 58/2018/NĐ-CP về bảo hiểm nông nghiệp.
Giá vàng hôm nay ngày 30/10: Vàng thế giới lùi về 4.021 USD/ounce, vàng nhẫn SJC giảm 300.000 đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 30/10: Vàng thế giới lùi về 4.021 USD/ounce, vàng nhẫn SJC giảm 300.000 đồng/lượng

(TBTCO) - Vàng thế giới giảm còn 4.021 USD/ounce. Trong nước, vàng miếng đứng giá, còn vàng nhẫn SJC giảm 300.000 đồng/lượng.
Ngân hàng Nhà nước làm rõ ngưỡng thanh toán 5 triệu đồng khi mua bán vàng, xử lý hành vi né quy định

Ngân hàng Nhà nước làm rõ ngưỡng thanh toán 5 triệu đồng khi mua bán vàng, xử lý hành vi né quy định

(TBTCO) - Phản hồi vấn đề của Bảo Tín Minh Châu đặt ra, Ngân hàng Nhà nước nêu rõ ngưỡng 5 triệu đồng được tính trên tổng giá trị mua, bán vàng trong ngày của một khách hàng. Trường hợp cố ý chia nhỏ giao dịch hoặc các đợt thanh toán nhằm né tránh quy định về thanh toán không dùng tiền mặt sẽ bị xem xét, xử lý.
3 năm liên tiếp - VietinBank được vinh danh “Ngân hàng Bán lẻ tiêu biểu”

3 năm liên tiếp - VietinBank được vinh danh “Ngân hàng Bán lẻ tiêu biểu”

(TBTCO) - Năm 2026 là năm thứ 3 liên tiếp thương hiệu Bán lẻ của VietinBank được ghi nhận tại Lễ trao giải thường niên của Tập đoàn Dữ liệu Quốc tế (IDG) ngày 30/9/2026 tại TP. Hồ Chí Minh. VietinBank tiếp tục khẳng định vị thế của Ngân hàng Bán lẻ hàng đầu tại Việt Nam luôn đồng hàng cùng khách hàng, đẩy mạnh chuyển đổi số và không ngừng đổi mới sản phẩm, dịch vụ.
Bảo hiểm BIDV thu gần 4.400 tỷ đồng phí bảo hiểm gốc sau 9 tháng, chi trả quyền lợi gia tăng

Bảo hiểm BIDV thu gần 4.400 tỷ đồng phí bảo hiểm gốc sau 9 tháng, chi trả quyền lợi gia tăng

(TBTCO) - Lũy kế 9 tháng năm 2026, Bảo hiểm BIDV (BIC) ghi nhận lợi nhuận trước thuế 418 tỷ đồng. Doanh thu phí bảo hiểm gốc đạt 4.357,5 tỷ đồng, tăng 7,6%, với nhiều nghiệp vụ tăng trưởng hai chữ số. Cùng với đà mở rộng kinh doanh, BIC chú trọng chi trả bồi thường kịp thời khi rủi ro xảy ra, với tổng chi bồi thường gốc hơn 1.300 tỷ đồng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 136,000 140,000
Hà Nội - PNJ 136,000 140,000
Đà Nẵng - PNJ 136,000 140,000
Miền Tây - PNJ 136,000 140,000
Tây Nguyên - PNJ 136,000 140,000
Đông Nam Bộ - PNJ 136,000 140,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,840 14,140
Miếng SJC Nghệ An 13,840 14,140
Miếng SJC Thái Bình 13,840 14,140
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,620 14,020
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,620 14,020
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,620 14,020
Trang sức 99.9 13,300 13,900
Trang sức 99.99 13,310 13,910
Vàng 99.9 12,850
Vàng 99.99 13,040
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,384 1,414
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,384 14,142
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,384 14,143
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,343 1,383
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,343 1,384
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,323 1,373
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 128,941 135,941
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 93,335 103,135
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 83,723 93,523
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 74,111 83,911
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 70,404 80,204
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 4,761 5,741
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,384 1,414
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,384 1,414
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,384 1,414
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,384 1,414
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,384 1,414
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,384 1,414
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,384 1,414
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,384 1,414
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,384 1,414
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,384 1,414
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,384 1,414
Cập nhật: 31/10/2026 08:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17619 17892 18476
CAD 17958 18233 18850
CHF 30779 31156 31799
CNY 0 3836 3932
EUR 28272 28488 29571
GBP 33854 34244 35179
HKD 0 3158 3361
JPY 157 161 168
KRW 0 18 20
NZD 0 14264 14856
SGD 19661 19942 20514
THB 681 744 798
USD (1,2) 25541 0 0
USD (5,10,20) 25579 0 0
USD (50,100) 25606 25620 25990
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,600 25,600 25,980
USD(1-2-5) 24,576 - -
USD(10-20) 24,576 - -
EUR 28,265 28,288 29,635
JPY 159.23 159.52 169.21
GBP 33,914 34,006 35,181
AUD 17,787 17,851 18,530
CAD 18,105 18,163 18,837
CHF 30,955 31,051 31,974
SGD 19,762 19,823 20,602
CNY - 3,798 3,944
HKD 3,220 3,230 3,366
KRW 17.82 18.58 20.22
THB 729.58 738.59 790.91
NZD 14,209 14,341 14,769
SEK - 2,578 2,670
DKK - 3,792 3,927
NOK - 2,744 2,843
LAK - 0.87 1.21
MYR 5,942.82 - 6,708.6
TWD 713.71 - 864.77
SAR - 6,753.85 7,115.12
KWD - 81,408 86,635
AED - 6,767 7,292
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,580 25,610 25,990
EUR 28,275 28,417 29,646
GBP 33,899 34,069 35,104
HKD 3,215 3,234 3,352
CHF 30,825 30,980 31,925
JPY 159.11 160.72 168.70
AUD 17,784 17,909 18,507
SGD 19,739 19,918 20,516
THB 734 749 786
CAD 18,077 18,204 18,802
NZD 14,304 14,859
KRW 18.62 20.60
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25600 25600 26000
AUD 17782 17882 18812
CAD 18132 18232 19245
CHF 31001 31031 32620
CNY 3817.4 3842.4 3977.6
CZK 0 1130 0
DKK 0 3845 0
EUR 28447 28477 30200
GBP 34145 34195 35953
HKD 0 3300 0
JPY 160.49 160.99 171.52
KHR 0 6.097 0
KRW 0 19 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6450 0
NOK 0 2778 0
NZD 0 14351 0
PHP 0 373 0
SEK 0 2605 0
SGD 19820 19950 20671
THB 0 710.3 0
TWD 0 785 0
SJC 9999 13840000 13840000 14140000
SBJ 12500000 12500000 14140000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,490 25,640 26,000
USD20 25,460 25,640 26,000
USD1 25,440 25,640 26,000
AUD 17,711 17,861 19,054
EUR 28,208 28,308 30,008
CAD 18,055 18,155 19,490
SGD 19,877 20,027 20,900
JPY 160.92 162.42 168.22
GBP 33,976 34,126 35,455
XAU 13,838,000 0 14,142,000
CNY 0 3,794 0
THB 0 746 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 31/10/2026 08:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30