Khoa học công nghệ tạo sức bật cho nông nghiệp
Khoa học công nghệ góp sức nâng giá trị nông sản
Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đang tạo ra những chuyển biến rõ nét trong nhiều lĩnh vực nông nghiệp, từ chọn tạo giống, cơ giới hóa, tự động hóa đến chế biến nông sản. Theo Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Đặng Ngọc Điệp, đây là một trong những yếu tố góp phần nâng năng suất, cải thiện chất lượng và gia tăng sức cạnh tranh của ngành.
Giai đoạn 2021 - 2026, nông nghiệp tiếp tục khẳng định vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế, bảo đảm an ninh lương thực, cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và tạo sinh kế cho người dân nông thôn. Năm 2025, ngành nông nghiệp đạt tốc độ tăng trưởng 3,78%; kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt 70,63 tỷ USD. Trong 9 tháng năm 2026, con số tương ứng là 4,02% và 56,3 tỷ USD.
![]() |
| Chăn nuôi lợn tại trang trại của Tập đoàn Dabaco Việt Nam. Ảnh: Dabaco |
Một minh chứng rõ nét là việc ứng dụng giống lúa mới và quy trình canh tác tiên tiến, góp phần nâng năng suất khoảng 9,9%, tăng sản lượng khoảng 2,4 triệu tấn mỗi năm, tương ứng giá trị kinh tế gia tăng khoảng 12.000 tỷ đồng. Trong khi đó, công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản duy trì tốc độ tăng giá trị gia tăng khoảng 7,5 - 8%/năm. Tỷ trọng sản phẩm chế biến sâu, có giá trị gia tăng cao tăng từ khoảng 20% trong năm 2020, lên trên 30% trong năm 2025.
Những kết quả này khẳng định vai trò của khoa học, công nghệ không chỉ nằm ở nghiên cứu, mà còn ở khả năng chuyển hóa thành năng suất, chất lượng và giá trị kinh tế.
Doanh nghiệp, địa phương đưa công nghệ vào chuỗi sản xuất
Đối với khu vực doanh nghiệp, Tập đoàn Dabaco Việt Nam là một ví dụ về việc gắn nghiên cứu, đổi mới sáng tạo với yêu cầu thực tiễn. Theo ông Nguyễn Như So, Chủ tịch HĐQT Tập đoàn Dabaco, trong 30 năm phát triển, Dabaco luôn lấy hiệu quả ứng dụng khoa học, công nghệ làm thước đo cho đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Dabaco đã phát triển chuỗi giá trị 3F+ (Feed - Farm - Food - Future), khép kín từ thức ăn chăn nuôi, con giống, chăn nuôi đến chế biến thực phẩm và các lĩnh vực bổ trợ, với 60 đơn vị sản xuất, kinh doanh trên cả nước. Năm 2024, Dabaco đạt doanh thu 1 tỷ USD, tương đương hơn 25.000 tỷ đồng; năm 2026, tổng tài sản của Tập đoàn đạt trên 18.000 tỷ đồng.
Dabaco có đàn lợn nái khoảng 80.000 con, năng suất bình quân đạt 30,5 con cai sữa/nái/năm; đơn vị xuất sắc nhất đạt 35 con. Tập đoàn ứng dụng công nghệ trong chọn lọc, đánh giá giá trị di truyền để cải thiện năng suất sinh sản, khả năng sinh trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn. Ở lĩnh vực gia cầm, Dabaco có năng lực cung ứng khoảng 60 triệu con giống mỗi năm. Đồng thời, doanh nghiệp đẩy mạnh nghiên cứu, chọn tạo các giống phù hợp với điều kiện chăn nuôi trong nước...
Ở cấp địa phương, Nghệ An cho thấy hiệu quả của việc kết hợp công nghệ, đầu tư doanh nghiệp và liên kết vùng nguyên liệu trong phát triển ngành hàng bò sữa. Theo bà Võ Thị Nhung, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Nghệ An, trong 9 tháng năm 2026, ngành nông nghiệp và môi trường tỉnh duy trì tăng trưởng 4,64%. Sản lượng sữa tươi đạt khoảng 315 triệu lít; đàn bò sữa ứng dụng công nghệ cao đạt 65.000 con, trong đó sữa từ chăn nuôi công nghệ cao chiếm 98% tổng sản lượng sữa.
Xác định 4 trọng tâm thúc đẩy khoa học, công nghệBộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trịnh Việt Hùng cho biết, thời gian tới, Bộ sẽ tập trung 4 nhiệm vụ trọng tâm thúc đẩy khoa học, công nghệ, bao gồm: đổi mới quản lư và tổ chức thực hiện nhiệm vụ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; nâng cao hiệu quả cơ sở nghiên cứu, tăng liên kết với doanh nghiệp và thị trường; tháo gỡ vướng mắc về cơ chế, chính sách; phát triển dữ liệu số phục vụ quản lư sản xuất và kết nối thị trường. |
Tại các trang trại quy mô lớn, công nghệ được ứng dụng đồng bộ từ quản lý đàn bằng chip điện tử, xây dựng khẩu phần dinh dưỡng, kiểm soát môi trường chuồng nuôi đến xử lý nước thải và chế biến phân hữu cơ. Đáng chú ý, Tập đoàn TH đã làm chủ và ứng dụng công nghệ thụ tinh trong ống nghiệm cho bò sữa HF thuần chủng tại trang trại Nghĩa Đàn; tỷ lệ đậu thai từ cấy truyền phôi đạt tới 50%, góp phần nhân nhanh cá thể ưu tú và chủ động nguồn giống cao sản.
Không chỉ nâng năng suất, mô hình này còn tạo liên kết kinh tế. Doanh nghiệp chăn nuôi liên kết thu mua trung bình khoảng 100 tỷ đồng thức ăn thô xanh như ngô, rơm, ngọn mía mỗi năm từ nông dân.
Đối với khối viện, trường, theo GS.TS. Nguyễn Thị Lan, Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam, giai đoạn 2016 - 2026, Học viện có 10 bằng độc quyền sáng chế, giải pháp hữu ích; 25 bằng bảo hộ giống cây trồng; 128 giống cây trồng được công nhận lưu hành và 42 tiến bộ kỹ thuật. Nhiều kết quả nghiên cứu đã được ứng dụng vào sản xuất, từ chỉnh sửa gen bò Mông, sản xuất khoai tây sạch bệnh đến phát triển vắc-xin, chế phẩm sinh học và kháng thể phòng bệnh vật nuôi.
Đáng chú ý, Công ty cổ phần Công nghệ sinh phẩm thú y do Học viện thành lập đã thương mại hóa sản phẩm kháng thể IgY cho vịt, đạt doanh thu khoảng 12 tỷ đồng. Kết quả này cho thấy tiềm năng thương mại hóa nghiên cứu khoa học, tạo nguồn thu tái đầu tư cho hoạt động nghiên cứu. Tháo gỡ điểm nghẽn, mở rộng ứng dụng khoa học công nghệ.
Từ những mô hình đã triển khai, yêu cầu tiếp theo là mở rộng ứng dụng khoa học, công nghệ, tạo cơ chế để kết quả nghiên cứu đến được với doanh nghiệp và người sản xuất.
Tại Hội nghị Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số thúc đẩy tăng trưởng ngành nông nghiệp và môi trường khu vực phía Bắc do Bộ Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với Bộ Công an tổ chức mới đây, Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng nhấn mạnh, nông nghiệp là trụ đỡ của nền kinh tế, có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sinh kế, đời sống người dân. Đây cũng là lĩnh vực có khả năng ứng dụng khoa học, công nghệ nhanh, hiệu quả và có thể triển khai ngay.
Phó Thủ tướng đề nghị Bộ Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với Bộ Công an, Bộ Khoa học và Công nghệ rà soát hiện trạng, xác định các vấn đề lớn cần tập trung giải quyết, ưu tiên nghiên cứu và ứng dụng công nghệ trong phát triển giống cây trồng, vật nuôi, thức ăn chăn nuôi, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật; phòng, chống dịch bệnh; cơ giới hóa sản xuất; truy xuất nguồn gốc nông sản và phát triển nông nghiệp gắn với bảo vệ môi trường, kinh tế tuần hoàn.
Một nhiệm vụ trọng tâm là đổi mới thực chất cơ chế liên kết giữa Nhà nước, nhà khoa học, doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ sản xuất theo chuỗi giá trị, khắc phục khó khăn trong thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Bộ Nông nghiệp và Môi trường được giao đóng vai trò kết nối nhu cầu của ngành hàng, địa phương với doanh nghiệp, lựa chọn đơn vị chủ trì và phối hợp đưa sản phẩm nghiên cứu ra thị trường.
Phó Thủ tướng cũng yêu cầu hoàn thiện cơ chế đặt hàng nghiên cứu, thử nghiệm, chuyển giao và thương mại hóa; tháo gỡ vướng mắc về sở hữu trí tuệ, định mức kinh tế - kỹ thuật và huy động nguồn lực xã hội.
Đẩy nhanh chuyển đổi số, phát triển sàn giao dịch nông sảnPhó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng yêu cầu hoàn thành Kế hoạch hành động 100 ngày xử lý các điểm nghẽn về chuyển đổi số trong hệ thống chính trị; đẩy mạnh xây dựng, khai thác dữ liệu, nhân rộng nền tảng số và mô hình sản xuất thông minh phù hợp với từng ngành, địa phương. Cụ thể, Bộ Nông nghiệp và Môi trường hoàn thiện danh mục nhiệm vụ ưu tiên trước ngày 15/12/2026, đề xuất sàn giao dịch nông sản quốc gia trước ngày 31/12/2026. Các địa phương phía Bắc lựa chọn 3 - 5 nhiệm vụ trọng tâm trước ngày 15/11/2026; cơ sở nghiên cứu đề xuất giải pháp công nghệ trước ngày 15/12/2026. Bộ Khoa học và Công nghệ nghiên cứu mô hình sàn giao dịch khoa học, công nghệ chung, kết nối trong nước và quốc tế. Doanh nghiệp, hợp tác xã chủ động đăng ký nhu cầu ứng dụng công nghệ vào sản xuất, kinh doanh. |


