Kéo giảm ICOR: Nâng chất tăng trưởng từ đầu tư công
PV: Kế hoạch đầu tư công trung hạn 2026 - 2030 với tổng vốn dự kiến 8,22 triệu tỷ đồng đặt mục tiêu kéo ICOR xuống 4,5 - 4,8. Việc giảm ICOR có ý nghĩa như thế nào đối với hiệu quả sử dụng vốn và chất lượng tăng trưởng, thưa ông?
![]() |
| TS. Nguyễn Quốc Việt |
TS. Nguyễn Quốc Việt: ICOR của Việt Nam giai đoạn 2021 - 2025 ở mức 6,4, cao hơn so với mức 5,2 của Indonesia; 4,5 của Malaysia hay 4,2 của Thái Lan. Điều này cho thấy, hiệu quả sử dụng vốn của Việt Nam còn khoảng cách đáng kể so với các nước trong khu vực. Nhiều ngành, khu vực kinh tế có chỉ số ICOR cao đã được chỉ ra như: công nghiệp, nhất là công nghiệp khai khoáng, bất động sản, khu vực kinh tế nhà nước…
Vì vậy, việc giảm hệ số ICOR trong giai đoạn 2026 - 2030 có ý nghĩa quan trọng, giúp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, giảm lãng phí và chuyển dịch tăng trưởng từ chiều rộng sang chiều sâu (tăng chất lượng và bền vững). ICOR thấp hơn đồng nghĩa với việc cần ít vốn hơn để tạo ra một đơn vị GDP. Khi ICOR giảm từ 6,4 xuống 4,5 - 4,8, thay vì cần 6,4 đồng vốn, nền kinh tế chỉ cần khoảng 4,5 - 4,8 đồng để đạt cùng một mức tăng trưởng. Điều này giúp tối ưu hóa nguồn lực khổng lồ 8,22 triệu tỷ đồng dự kiến cho giai đoạn tới.
PV: Theo ông, cần những điều kiện cốt lõi nào để vốn đầu tư công thực sự đóng vai trò “vốn mồi”, dẫn dắt và kích hoạt dòng vốn đầu tư tư nhân, đặc biệt trong các mô hình đối tác công - tư (PPP)?
TS. Nguyễn Quốc Việt: Trước hết, cần phân bổ nguồn lực một cách hài hòa, tránh tình trạng “bỏ trứng vào một giỏ”. Trong bối cảnh ngân sách và dư địa nợ công đều có hạn, việc dồn quá nhiều nguồn lực vào một lĩnh vực hay một nhóm dự án có thể gây mất cân đối vĩ mô và tiềm ẩn rủi ro hệ thống. Bài toán phân bổ nguồn lực cũng chính là nghệ thuật điều hành chính sách tài khóa, đòi hỏi sự cân nhắc kỹ lưỡng để vừa đảm bảo hiệu quả đầu tư, vừa giữ ổn định kinh tế vĩ mô.
Thứ hai, đầu tư công cần được định hướng vào các lĩnh vực nền tảng, có tính lan tỏa cao như hạ tầng, các ngành công nghiệp mũi nhọn, cũng như những lĩnh vực gắn với xu thế mới như kinh tế xanh, kinh tế số, khoa học - công nghệ. Đồng thời, thúc đẩy cơ chế PPP, trong đó Nhà nước - khu vực tư nhân cùng chia sẻ rủi ro và lợi ích. Khi đó, đầu tư công không chỉ là nguồn vốn mồi dẫn dắt, mà còn đóng vai trò “đặt hàng”, tạo không gian và động lực để khu vực tư nhân tham gia sâu hơn.
Việc thu hút khu vực tư nhân vào các lĩnh vực như hạ tầng, năng lượng, viễn thông, chuyển đổi số hay đổi mới sáng tạo không chỉ giúp huy động thêm nguồn lực, mà còn mang lại các chuẩn mực quản trị và kinh nghiệm quốc tế. Đây chính là yếu tố quan trọng góp phần nâng cao hiệu quả đầu tư và chất lượng cung cấp dịch vụ công.
![]() |
| Tổng nguồn vốn đầu tư công giai đoạn 2026 - 2030 là 8,22 triệu tỷ đồng. Ảnh tư liệu |
PV: Quan sát thực tế nền kinh tế Việt Nam, theo ông, đâu là những thuận lợi và khó khăn đối với mục tiêu kéo chỉ số ICOR xuống mức 4,5 - 4,8 trong thời gian tới?
TS. Nguyễn Quốc Việt: Nếu thực hiện phân bổ nguồn lực hợp lý, lựa chọn dự án có trọng tâm, thúc đẩy cơ chế phối hợp hiệu quả giữa khu vực công và tư, thì thách thức đối với mục tiêu này sẽ không lớn. Ngược lại, thách thức sẽ gia tăng nếu chúng ta quay lại tư duy “bỏ trứng vào một giỏ”, hoặc đặt nặng vai trò của Nhà nước theo hướng “làm thay, làm hết”, thay vì dẫn dắt và tạo lập thị trường.
Về thách thức cụ thể, trước hết là khả năng không cân đối được nguồn lực như kỳ vọng. Trong bối cảnh kinh tế thế giới còn nhiều bất định do địa chính trị và các cú sốc bên ngoài, nếu tăng trưởng không đạt mục tiêu, thu ngân sách sẽ bị ảnh hưởng, kéo theo áp lực lên cân đối ngân sách và kế hoạch đầu tư. Bên cạnh đó, các yếu tố như lãi suất tăng, chi phí vay nợ cao hơn cũng có thể làm gia tăng áp lực lên trần nợ công và hiệu quả đầu tư.
| Theo kế hoạch đầu tư công giai đoạn 2026 - 2030, tổng nguồn vốn đầu tư công là 8,22 triệu tỷ đồng. Trong đó, ngân sách trung ương là 3,8 triệu tỷ đồng và ngân sách địa phương là 4,42 triệu tỷ đồng. |
Tôi muốn nhấn mạnh một thuận lợi quan trọng là nền tảng ổn định vĩ mô của Việt Nam hiện vẫn được nhiều tổ chức đánh giá tích cực. Tuy nhiên, cần tránh mở rộng đầu tư thiếu kiểm soát, các địa phương không nên chạy theo tăng trưởng ngắn hạn, làm méo mó phân bổ nguồn lực và ảnh hưởng đến hiệu quả dài hạn, bao gồm cả mục tiêu cải thiện ICOR.
PV: Vậy trong giai đoạn tới, những lĩnh vực nào nên được ưu tiên để tối đa hóa hiệu quả lan tỏa của đầu tư công, thưa ông?
TS. Nguyễn Quốc Việt: Tôi cho rằng, các lĩnh vực như hạ tầng, chuyển đổi số và năng lượng vẫn cần được ưu tiên trong giai đoạn tới, nhưng điều quan trọng là phải xác định rõ trọng tâm, trọng điểm, tránh đầu tư dàn trải. Thực tế cho thấy, nếu phân tán nguồn lực, sẽ dễ dẫn tới tình trạng thiếu vốn, dự án kéo dài hoặc dang dở, gây lãng phí lớn như đã từng xảy ra với không ít công trình hạ tầng thiếu tính kết nối.
Định hướng giảm tối thiểu 30% số lượng dự án trong kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026 - 2030 là một bước đi cần thiết để tập trung nguồn lực và nâng cao hiệu quả đầu tư. Tuy nhiên, cũng cần nhìn nhận rằng, đầu tư công không thể đơn độc kéo tổng cung, mà phải là sự kết hợp hài hòa của nhiều yếu tố trong nền kinh tế. Nếu không cân đối tốt giữa tổng cung và tổng cầu, áp lực lạm phát, lãi suất và bất ổn vĩ mô có thể gia tăng.
PV: Nhìn rộng hơn, để việc kéo giảm ICOR thực sự bền vững và không chỉ là mục tiêu ngắn hạn về con số, theo ông, Việt Nam cần thay đổi cách tiếp cận tăng trưởng và sử dụng đầu tư công như thế nào trong giai đoạn tới?
TS. Nguyễn Quốc Việt: Mục tiêu kéo hệ số ICOR xuống 4,5 - 4,8 là phù hợp về định hướng, nhưng cốt lõi không nằm ở con số, mà ở chất lượng tăng trưởng. Tinh thần này gắn với yêu cầu nâng tỷ trọng đóng góp của TFP (năng suất nhân tố tổng hợp) lên khoảng 55% tại Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIV, tức là tăng trưởng phải dựa nhiều hơn vào năng suất, thể chế, khoa học - công nghệ và chất lượng nguồn nhân lực, thay vì mở rộng vốn và lao động một cách cơ học.
Trong bối cảnh đó, đầu tư công cần được nhìn như công cụ “vốn mồi” để thúc đẩy TFP và đổi mới sáng tạo, chứ không chỉ là chi cho các dự án cụ thể. Trọng tâm là tạo nền tảng cho tăng trưởng hiệu suất động thông qua chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển các lĩnh vực mới như kinh tế số, trí tuệ nhân tạo (AI), năng lượng xanh, đồng thời khuyến khích đầu tư vào nghiên cứu và phát triển (R&D), thu hút nguồn lực từ khu vực tư nhân, nhà đầu tư nước ngoài.
Đặc biệt, đầu tư vào con người - nhất là giáo dục đại học và đào tạo nghề chất lượng cao - là yếu tố then chốt để hình thành lực lượng lao động đủ năng lực hấp thụ, dẫn dắt các xu thế mới. Nhìn rộng hơn, chính sách tài khóa cần được điều hành theo hướng nâng cao năng lực cạnh tranh và hỗ trợ phía cung của nền kinh tế, từ đó mới có thể cải thiện ICOR một cách bền vững.
PV: Xin cảm ơn ông!
Dành cho bạn
Đọc thêm
Sớm thành lập sàn vàng quốc gia để minh bạch thị trường
Bài cuối: Khó đảo chiều xu hướng thanh toán không dùng tiền mặt
Doanh nghiệp Hàn Quốc kỳ vọng nâng tầm hợp tác đầu tư với Việt Nam
Cải cách thể chế, phát triển thị trường vốn: Nền tảng bền vững cho mục tiêu tăng trưởng cao
Định hình “luật chơi” mới cho Quỹ bảo hiểm hưu trí bổ sung
Thu hút vốn FDI: Cơ hội nào cho Việt Nam trước biến động toàn cầu?



