Lãi suất cho vay điều chỉnh nhẹ nhưng vẫn ở mức cao so với nhu cầu thực tế

Thái Duy
(TBTCO) - Mặt bằng lãi suất huy động và lãi suất cho vay niêm yết tại nhiều ngân hàng đã có điều chỉnh nhẹ, nhưng nhìn chung vẫn ở mức cao so với nhu cầu thực tế của nền kinh tế.
aa

Doanh nghiệp đang vay ở mức 11-12%/năm cho kỳ hạn 12 tháng

Báo cáo thị trường tiền tệ tuần của SSI Research cho biết, xu hướng rút ròng tiếp tục được duy trì thông qua kênh hoạt động thị trường mở trong tuần qua.

Cụ thể, 140,55 nghìn tỷ đồng được phát hành trên kênh tín phiếu, ở kỳ hạn 7 và 91 ngày; trong đó, kỳ hạn 7 ngày phát hành 91,5 nghìn tỷ đồng và kỳ hạn 91 ngày là 44 nghìn tỷ đồng. Lãi suất trúng thầu tăng lên 6% ở cả 2 kỳ hạn về cuối tuần. Bên cạnh đó, trong tuần thanh khoản tại một số ngân hàng thương mại (NHTM) cũng gặp khó khăn sau sự kiện liên quan trên thị trường trái phiếu doanh nghiệp và có 10,7 nghìn tỷ đồng trên kênh mua kỳ hạn được thực hiện.

Kết tuần, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã hút ròng 43,7 nghìn tỷ đồng trên kênh thị trường mở. Khối lượng lưu hành trên kênh cầm cố tăng nhẹ lên 31,7 nghìn tỷ đồng, trong khi đó khối lượng lưu hành trên kênh tín phiếu là 160,55 nghìn tỷ đồng.

Lãi suất cho vay điều chỉnh nhẹ nhưng vẫn ở mức cao so với nhu cầu thực tế

Theo các chuyên gia của SSI Research, NHNN đang từng bước quay lại xu hướng hút ròng trên kênh thị trường mở, nhằm đẩy mặt bằng lãi suất thị trường 2 lên cao hơn so với lãi suất USD, tạo khoảng cách an toàn chuẩn bị cho cuộc họp Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) trong tháng 3. Mặt bằng lãi suất liên ngân hàng kỳ hạn đảo chiều tăng mạnh ở tất cả các kỳ hạn, kết tuần ghi nhận tại 6,0% (tăng 140 điểm so với tuần trước) ở kỳ hạn qua đêm. Chênh lệch giữa lãi suất VND và USD duy trì ở trạng thái dương.

Mặt bằng lãi suất cho vay trên thị trường cho doanh nghiệp sản xuất thông thường đang dao động ở mức 10 - 10,5%/năm cho kỳ hạn 6 tháng và 11 - 12%/năm cho kỳ hạn 12 tháng, trong khi lãi suất vay tiêu dùng đã được đẩy lên mức 14 - 16%/năm.

Cũng theo các chuyên gia của SSI Research, mặt bằng lãi suất huy động và lãi suất cho vay niêm yết tại nhiều ngân hàng đã có điều chỉnh nhẹ, nhưng nhìn chung vẫn ở mức cao so với nhu cầu thực tế của nền kinh tế.

Ở chiều huy động, mức lãi suất niêm yết cao nhất dành cho khách hàng cá nhân tại các NHTM cổ phần là 9,5%/năm (giảm 50-100 điểm cơ bản so với thời kỳ cao điểm vào cuối năm 2022) và 7,4%/năm tại 4 NHTM Nhà nước. Trong khi đó, lãi suất niêm yết dành cho khối khách hàng tổ chức chưa có nhiều sự thay đổi, dao động từ 6,5-8,5%/năm ở kỳ hạn 12 tháng.

“Một số chương trình hỗ trợ giảm lãi suất cho vay (giảm từ 1 - 2%/năm) từ các NHTM được công bố (Agribank, BIDV, MBB…), tuy nhiên, điều này mới chỉ xuất hiện ở phạm vi nhỏ, với từng sản phẩm được thiết kế riêng dành cho một số nhóm ngành cụ thể. Mặt bằng lãi suất cho vay trên thị trường cho doanh nghiệp sản xuất thông thường đang dao động ở mức 10 - 10,5%/năm cho kỳ hạn 6 tháng và 11 - 12%/năm cho kỳ hạn 12 tháng, trong khi lãi suất vay tiêu dùng đã được đẩy lên mức 14 - 16%/năm” - chuyên gia của SSI Research cho biết thêm.

Tỷ giá USD/VND tiếp tục tăng giá

Báo cáo về thị trường ngoại hối, SSI Research cho biết, ở trong nước, áp lực từ thị trường quốc tế đã khiến tỷ giá niêm yết tại các NHTM, tỷ giá chợ đen và tỷ giá liên ngân hàng tiếp tục bật tăng trong tuần trước.

Kết tuần, tỷ giá niêm yết từ Vietcombank tăng 20 đồng/USD, trong khi tỷ giá chợ đen tăng 175 đồng/USD. Tỷ giá trên thị trường liên ngân hàng tăng 0,27%, lên 23.790 VND/USD.

Lãi suất cho vay điều chỉnh nhẹ nhưng vẫn ở mức cao so với nhu cầu thực tế
Sau giai đoạn cao điểm về dòng tiền kiều hối, nguồn cung ngoại tệ sẽ không còn quá dồi dào và phần nào tạo áp lực lên tỷ giá, trong bối cảnh xu hướng USD thế giới tăng dần theo kỳ vọng tăng lãi suất của FED

Số liệu mới công bố từ Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho thấy, giải ngân FDI trong 2 tháng đầu năm đạt 2,55 tỷ USD, giảm 4,9% so với cùng kỳ. “Sau giai đoạn cao điểm về dòng tiền kiều hối, nguồn cung ngoại tệ sẽ không còn quá dồi dào (từ cả dòng vốn trực tiếp và gián tiếp) phần nào tạo áp lực lên tỷ giá, trong bối cảnh xu hướng USD thế giới tăng dần theo kỳ vọng tăng lãi suất của FED” - chuyên gia của SSI Research dự báo.

Trong khi đó, trên thị trường quốc tế, trong tuần qua, giá trị đồng USD (thông qua chỉ số DXY) và lợi suất trái phiếu chính phủ Mỹ tiếp tục xu hướng tăng sau khi các số liệu về chỉ số giá tiêu dùng cá nhân (PCE) và chỉ số nhà quản trị mua hàng (PMI) Mỹ được công bố, khiến thị trường nâng tỷ lệ đặt cược cho việc FED sẽ tăng lãi suất thêm 3 lần nữa trong năm nay.

Lợi suất trái phiếu chính phủ Mỹ kỳ hạn 10 năm tăng hơn 12 điểm cơ bản trong tuần trước, trong khi đó chỉ số DXY tăng tới 1,3% so với cuối tuần trước đó. Các đồng tiền chủ chốt đều giảm giá so với USD như JPY -1,74%, EUR -1,37%, GBP -0,77%.

Sau khi tăng giá so với USD trong những tuần đầu tháng 1, các đồng tiền chủ chốt và trong khu vực châu Á đều đã quay lại xu hướng giảm so với USD. Lũy kế từ đầu năm, DXY tăng 1,6% trong khi đó các đồng tiền khác giảm như JPY -4,1%, KRW -3,5%, THB -0,95%, SGD -0,83%…/.

Thái Duy

Đọc thêm

Hình thành hệ sinh thái tài chính toàn diện hiện đại, an toàn và bao trùm

Hình thành hệ sinh thái tài chính toàn diện hiện đại, an toàn và bao trùm

(TBTCO) - Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia giai đoạn 2026 - 2030 vừa được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 928/QĐ-TTg ngày 25/5/2026, với mục tiêu hình thành hệ sinh thái tài chính toàn diện hiện đại, an toàn và bao trùm, góp phần nâng cao đời sống của người dân, đảm bảo không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình phát triển.
Room tín dụng siết chặt, ngân hàng giảm tốc cho vay bất động sản

Room tín dụng siết chặt, ngân hàng giảm tốc cho vay bất động sản

(TBTCO) - Tín dụng kinh doanh bất động sản quý đầu năm đang dần giảm nhiệt khi nhiều ngân hàng chủ động hãm đà cho vay dưới áp lực siết room tín dụng, thậm chí đã có 3 nhà băng ghi nhận dư nợ giảm so với đầu năm. Tuy nhiên, việc giảm phụ thuộc vào lĩnh vực này vẫn không dễ, khi dư nợ bất động sản tại nhiều ngân hàng tiếp tục tăng nhanh hơn dư nợ cho vay khách hàng.
Vinhomes khởi động chương trình chuyển hóa nguồn lực vàng vào nền kinh tế

Vinhomes khởi động chương trình chuyển hóa nguồn lực vàng vào nền kinh tế

(TBTCO) - Ngày 25/5/2026, Công ty cổ phần Vinhomes chính thức triển khai chương trình hỗ trợ khách hàng sử dụng vàng để giao dịch bất động sản, góp phần đưa nguồn vàng nhàn rỗi đang tích trữ trong dân trở thành dòng vốn năng động phục vụ tăng trưởng. Chương trình được triển khai trong 5 năm, với sự đồng hành của các công ty vàng bạc đá quý nhằm bảo đảm an toàn tối đa về quyền lợi và giá trị tài sản cho khách hàng.
Ngân hàng lấn sân, doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ tính lại “nước cờ” giữ thế

Ngân hàng lấn sân, doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ tính lại “nước cờ” giữ thế

(TBTCO) - Sự nhập cuộc ngày càng mạnh mẽ của các ngân hàng đang khiến thị trường bảo hiểm phi nhân thọ bước vào một giai đoạn cạnh tranh mới. Khi nhóm doanh nghiệp gắn với ngân hàng đã nắm khoảng 35% thị phần, “ván cờ” thị phần trở nên khó đoán hơn, kéo theo những tính toán chiến lược mới của doanh nghiệp hiện hữu.
Giá vàng hôm nay ngày 25/5: Giá vàng trong nước tăng trở lại

Giá vàng hôm nay ngày 25/5: Giá vàng trong nước tăng trở lại

(TBTCO) - Mở cửa phiên ngày 25/5, giá vàng trong nước đồng loạt tăng tại nhiều doanh nghiệp lớn. Ở phân khúc vàng miếng, Bảo Tín Mạnh Hải, PNJ, DOJI, Tập đoàn Vàng bạc Đá quý Phú Quý và Bảo Tín Minh Châu đồng loạt tăng 500.000 đồng/lượng ở cả hai chiều mua vào và bán ra, mặt bằng giá giao dịch ở quanh mức 159 - 162 triệu đồng/lượng.
VCCI và Bảo hiểm PVI thiết lập hợp tác toàn diện, đồng hành nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp

VCCI và Bảo hiểm PVI thiết lập hợp tác toàn diện, đồng hành nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp

(TBTCO) - Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) và Tổng công ty Bảo hiểm PVI (Bảo hiểm PVI) đã ký kết thỏa thuận hợp tác nhằm thiết lập khuôn khổ hợp tác toàn diện trong giai đoạn 2026 – 2027, hướng tới mục tiêu đồng hành cùng doanh nghiệp Việt Nam nâng cao năng lực cạnh tranh, phát triển bền vững và hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế toàn cầu.
Thêm một ngân hàng phối hợp thu thuế xuất nhập khẩu với hải quan

Thêm một ngân hàng phối hợp thu thuế xuất nhập khẩu với hải quan

(TBTCO) - Cục Hải quan vừa bổ sung Ngân hàng Bank of Communications (BOCOM) - Chi nhánh TP. Hồ Chí Minh vào hệ thống phối hợp thu ngân sách nhà nước (NSNN) và nộp thuế điện tử 24/7. Việc mở rộng thêm ngân hàng phối hợp thu giúp doanh nghiệp có thêm kênh thanh toán thuế nhanh chóng, giảm thời gian thông quan.
Bảo hiểm Việt Nam trước bước chuyển từ bán sản phẩm sang thiết kế trải nghiệm

Bảo hiểm Việt Nam trước bước chuyển từ bán sản phẩm sang thiết kế trải nghiệm

(TBTCO) - Chuyển đổi số đang mở ra cách tiếp cận mới cho ngành bảo hiểm: không chỉ mở rộng kênh phân phối, mà còn giúp doanh nghiệp hiện diện đúng lúc, đúng nhu cầu và đúng bối cảnh trong hành trình tài chính của khách hàng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 15,850 ▼50K 16,150 ▼50K
Kim TT/AVPL 15,850 ▼50K 16,150 ▼50K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 15,850 ▼50K 16,150 ▼50K
Nguyên Liệu 99.99 14,850 ▼50K 15,050 ▼50K
Nguyên Liệu 99.9 14,800 ▼50K 15,000 ▼50K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,600 ▼50K 16,000 ▼50K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,550 ▼50K 15,950 ▼50K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,480 ▼50K 15,930 ▼50K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 158,500 ▼500K 161,500 ▼500K
Hà Nội - PNJ 158,500 ▼500K 161,500 ▼500K
Đà Nẵng - PNJ 158,500 ▼500K 161,500 ▼500K
Miền Tây - PNJ 158,500 ▼500K 161,500 ▼500K
Tây Nguyên - PNJ 158,500 ▼500K 161,500 ▼500K
Đông Nam Bộ - PNJ 158,500 ▼500K 161,500 ▼500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 15,850 ▼50K 16,150 ▼50K
Miếng SJC Nghệ An 15,850 ▼50K 16,150 ▼50K
Miếng SJC Thái Bình 15,850 ▼50K 16,150 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 15,850 ▼50K 16,150 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 15,850 ▼50K 16,150 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 15,850 ▼50K 16,150 ▼50K
NL 99.90 14,450
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,500
Trang sức 99.9 15,340 ▼50K 16,040 ▼50K
Trang sức 99.99 15,350 ▼50K 16,050 ▼50K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,585 ▲1426K 1,615 ▲1453K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,585 ▲1426K 16,152 ▼50K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,585 ▲1426K 16,153 ▼50K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 158 ▼1427K 161 ▼1454K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 158 ▼1427K 1,611 ▼5K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 156 ▼1409K 1,595 ▲1435K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 151,421 ▼495K 157,921 ▼495K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 110,887 ▼375K 119,787 ▼375K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 99,721 ▼340K 108,621 ▼340K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 88,555 ▲79669K 97,455 ▲87679K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 84,248 ▼291K 93,148 ▼291K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 57,768 ▼209K 66,668 ▼209K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,585 ▲1426K 1,615 ▲1453K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,585 ▲1426K 1,615 ▲1453K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,585 ▲1426K 1,615 ▲1453K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,585 ▲1426K 1,615 ▲1453K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,585 ▲1426K 1,615 ▲1453K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,585 ▲1426K 1,615 ▲1453K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,585 ▲1426K 1,615 ▲1453K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,585 ▲1426K 1,615 ▲1453K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,585 ▲1426K 1,615 ▲1453K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,585 ▲1426K 1,615 ▲1453K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,585 ▲1426K 1,615 ▲1453K
Cập nhật: 26/05/2026 11:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18355 18631 19207
CAD 18551 18828 19442
CHF 32985 33371 34016
CNY 0 3842 3934
EUR 30023 30296 31321
GBP 34738 35131 36057
HKD 0 3232 3434
JPY 159 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 15119 15707
SGD 20087 20370 20896
THB 724 787 841
USD (1,2) 26085 0 0
USD (5,10,20) 26126 0 0
USD (50,100) 26154 26169 26394
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,164 26,164 26,394
USD(1-2-5) 25,118 - -
USD(10-20) 25,118 - -
EUR 30,143 30,167 31,427
JPY 161.24 161.53 170.28
GBP 34,912 35,007 36,009
AUD 18,535 18,602 19,195
CAD 18,735 18,795 19,375
CHF 33,224 33,327 34,113
SGD 20,209 20,272 20,945
CNY - 3,810 3,933
HKD 3,296 3,306 3,424
KRW 16.08 16.77 18.14
THB 771.75 781.28 832.18
NZD 15,103 15,243 15,600
SEK - 2,784 2,867
DKK - 4,034 4,153
NOK - 2,800 2,883
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,222.52 - 6,984.38
TWD 757.37 - 912.24
SAR - 6,903.38 7,229.28
KWD - 83,608 88,446
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,144 26,164 26,394
EUR 30,109 30,230 31,409
GBP 34,938 35,078 36,087
HKD 3,295 3,308 3,423
CHF 33,062 33,195 34,131
JPY 161.90 162.55 169.87
AUD 18,546 18,620 19,210
SGD 20,284 20,365 20,947
THB 790 793 828
CAD 18,747 18,822 19,390
NZD 15,196 15,729
KRW 16.75 18.36
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26145 26145 26394
AUD 18526 18626 19549
CAD 18727 18827 19842
CHF 33220 33250 34833
CNY 3822.6 3847.6 3983
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30197 30227 31950
GBP 35034 35084 36837
HKD 0 3355 0
JPY 162.22 162.72 173.23
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15217 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20246 20376 21102
THB 0 753.6 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 15850000 15850000 16150000
SBJ 14000000 14000000 16150000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,185 26,235 26,394
USD20 26,185 26,235 26,394
USD1 23,882 26,235 26,394
AUD 18,589 18,689 19,808
EUR 30,369 30,369 31,798
CAD 18,692 18,792 20,108
SGD 20,333 20,483 21,060
JPY 162.79 164.29 170
GBP 34,958 35,308 36,188
XAU 15,898,000 0 16,202,000
CNY 0 3,735 0
THB 0 791 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/05/2026 11:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80