Lãi suất tiếp tục tăng cao: Thế khó cho cả ngân hàng và khách hàng

Chí Tín
(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước nước vừa quyết định điều chỉnh tăng các mức lãi suất điều hành và động thái này có thể sẽ tiếp tục “thổi nhiệt” cho xu hướng tăng lãi suất huy động và cho vay. Điều này càng làm gia tăng sức ép cho ngành Ngân hàng trong việc giữ ổn định mặt bằng lãi suất cho vay, theo yêu cầu tại các nghị quyết của Quốc hội và Chính phủ. Trong khi đó, khách hàng vay vốn cũng gặp khó khi phải đối diện với gánh nặng chi phí tài chính tăng cao.
aa

Lãi suất tiếp tục tăng

Mới đây, Ngân hàng Nhà nước nước (NHNN) ban hành một loạt các quyết định điều chỉnh các mức lãi suất điều hành và đây cũng là lần tăng lãi suất điều hành thứ hai của NHNN chỉ trong vòng hơn 1 tháng.

Theo đó, Quyết định số 1809/QĐ-NHNN tăng lãi suất tái cấp vốn từ 5,0%/năm lên 6,0%/năm; lãi suất tái chiết khấu từ 3,5%/năm lên 4,5%/năm; lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng và cho vay bù đắp thiếu hụt vốn trong thanh toán bù trừ của NHNN đối với tổ chức tín dụng (TCTD) từ 6,0%/năm lên 7,0%/năm. Quyết định số 1812/QĐ-NHNN quy định: Lãi suất tối đa áp dụng đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 1 tháng từ mức 0,5%/năm lên 1,0%/năm. Lãi suất tối đa áp dụng đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng từ 5,0%/năm lên 6,0%/năm, riêng lãi suất tối đa đối với tiền gửi bằng đồng Việt Nam tại quỹ tín dụng nhân dân, tổ chức tài chính vi mô từ 5,5%/năm lên 6,5%/năm. Lãi suất tiền gửi có kỳ hạn từ 6 tháng trở lên do TCTD ấn định trên cơ sở cung - cầu vốn thị trường.

Việc tăng lãi suất là xu hướng chung tại các ngân hàng trong thời gian vừa qua.
Việc tăng lãi suất là xu hướng chung tại các ngân hàng trong thời gian vừa qua.

Một văn bản nữa về điều hành lãi suất cũng mới được ban hành là Quyết định số 1813/QĐ-NHNN, với lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa bằng đồng Việt Nam của TCTD đối với khách hàng vay để đáp ứng nhu cầu vốn phục vụ một số lĩnh vực, ngành kinh tế tăng từ 4,5%/năm lên 5,5%/năm; lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa bằng đồng Việt Nam của quỹ tín dụng nhân dân và tổ chức tài chính vi mô đối với các nhu cầu vốn này tăng từ 5,5%/năm lên 6,5%/năm.

NHNN cho biết, việc điều chỉnh tăng lãi suất điều hành là lạm phát toàn cầu vẫn ở mức cao, Cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED) đã 5 lần điều chỉnh tăng lãi suất mục tiêu lên mức 3 - 3,25%/năm và dự báo còn tiếp tục tăng trong các tháng cuối năm 2022 và năm 2023. Ngoài ra, đồng USD lên giá mạnh, gia tăng áp lực lên mặt bằng lãi suất và tỷ giá trong nước, tạo sức ép lên lạm phát. Theo đó, việc tăng lãi suất nhằm tiếp tục triển khai đồng bộ các biện pháp, góp phần kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, tiền tệ, đảm bảo an toàn hệ thống ngân hàng. NHNN cũng sẽ theo dõi sát diễn biến thị trường trong nước và quốc tế để kịp thời điều hành linh hoạt, đồng bộ các giải pháp, công cụ chính sách tiền tệ; sẵn sàng can thiệp thị trường tiền tệ, ngoại hối để đáp ứng nhu cầu thanh khoản của các TCTD, qua đó góp phần ổn định thị trường, đảm bảo an toàn hoạt động của hệ thống ngân hàng.

Cả ngân hàng và khách hàng đều gặp khó

Trước đó, lãi suất huy động tại các ngân hàng đã không ngừng leo dốc và thiết lập mặt bằng lãi suất mới cao hơn khá nhiều so với trước đây.

Cụ thể, thời điểm đầu tháng 9, Ngân hàng TMCP Sài Gòn (SCB) là ngân hàng có lãi suất cao nhất, nhưng cũng chỉ ở mức 7,3% đối với lãi suất tiền gửi online kỳ hạn từ 12 tháng trở lên. Sau đó, ngân hàng này đã nâng lãi suất lên mức cao nhất tới 8,9% đối với lãi suất tiền gửi online kỳ hạn 36 tháng và cũng vẫn là ngân hàng có mức lãi suất cao nhất thị trường. Bình luận về động thái này, ông Michael Kokalari - Kinh tế gia trưởng thuộc Công ty quản lý quỹ VinaCapital cho biết, NHNN và ban lãnh đạo của SCB đã có những hành động quyết liệt để ổn định tình hình.

Yêu cầu về điều hành chính sách tiền tệ quy định tại Nghị quyết 43

Theo Nghị quyết 43/2022/QH15 của Quốc hội về chính sách tài khóa, tiền tệ hỗ trợ Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội, việc điều hành đồng bộ, linh hoạt các công cụ chính sách tiền tệ để góp phần giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm an toàn hệ thống các tổ chức tín dụng, hỗ trợ tích cực cho phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội. Nghiên cứu để giữ ổn định tỷ lệ tối đa vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn, tính toán hợp lý tỷ lệ dự trữ bắt buộc, thực hiện nghiệp vụ thị trường mở, tái cấp vốn; chỉ đạo các tổ chức tín dụng tiếp tục tiết giảm chi phí hoạt động để phấn đấu giảm lãi suất cho vay khoảng 0,5% - 1% trong 2 năm 2022 và 2023, nhất là đối với lĩnh vực ưu tiên.

Việc tăng lãi suất không chỉ là hiện tượng đơn lẻ tại SCB, mà nó cũng trở thành xu hướng chung tại các ngân hàng khác trong thời gian qua và hiện tại đã nhiều ngân hàng có lãi suất tiền gửi cao hơn 8%. Cụ thể, Ngân hàng TMCP Kiên Long (KienlongBank) đã đưa lãi suất lên mức 8,6% đối với các loại tiền gửi onlines kỳ hạn từ 12 tháng trở lên. Ngoài ra, danh sách các ngân hàng có lãi suất từ 8% trở lên còn có nhiều cái tên khác như Ngân hàng TMCP Bắc Á, Ngân hàng TMCP Hàng Hải, Ngân hàng TMCP Nam Á…

Với diễn biến như trên, chỉ qua khoảng hơn 1 tháng, mặt bằng lãi suất đã cao hơn khá nhiều và điều này đương nhiên tạo ra áp lực tăng chi phí huy động vốn của các ngân hàng. Bối cảnh này đặt ra sức ép đối với các ngân hàng phải tăng lãi suất đầu ra để cân đối chi phí và đảm bảo lợi nhuận theo yêu cầu về lợi nhuận cam kết với các cổ đông.

Trong khi đó ở góc độ khách hàng vay vốn, lãi suất cho vay tăng sẽ gây ra áp lực lớn lên chi phí tài chính và doanh nghiệp có quy mô vay nợ càng lớn thì chí phí lãi vay sẽ càng trở thành gánh nặng lớn trong thời gian tới.

Chí Tín

Đọc thêm

Hà Nội thúc vốn cho dự án, mở thêm kênh huy động dài hạn

Hà Nội thúc vốn cho dự án, mở thêm kênh huy động dài hạn

(TBTCO) - Tại Hội nghị “Giải pháp khơi thông nguồn lực tài chính - ngân hàng phục vụ tăng trưởng kinh tế Thủ đô giai đoạn 2026 - 2030” do UBND TP. Hà Nội phối hợp với Ngân hàng Nhà nước tổ chức chiều 12/9, lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước và TP. Hà Nội thống nhất nhiều giải pháp nhằm khơi thông dòng vốn, tháo gỡ điểm nghẽn cho các dự án và đa dạng hóa nguồn lực tài chính phục vụ tăng trưởng.
Hà Nội: Tín dụng tăng 13,05%, bài toán khơi thông vốn cho giai đoạn mới

Hà Nội: Tín dụng tăng 13,05%, bài toán khơi thông vốn cho giai đoạn mới

(TBTCO) - Trong 8 tháng đầu năm 2026, huy động vốn trên địa bàn Hà Nội tăng 10,78%, dư nợ tín dụng tăng 13,05%, đưa Thủ đô tiếp tục dẫn đầu cả nước về quy mô huy động và cho vay.
Hà Nội khơi thông nguồn vốn, tạo động lực tăng trưởng

Hà Nội khơi thông nguồn vốn, tạo động lực tăng trưởng

(TBTCO) - Trước yêu cầu tăng trưởng GRDP từ 11% trở lên trong năm 2026 và giai đoạn 2026 - 2030, Hà Nội xác định khơi thông các nguồn lực tài chính, đặc biệt là vốn tín dụng và nguồn lực doanh nghiệp, là nhiệm vụ trọng tâm.
Thị trường tiền tệ tuần 7 - 11/9: USD hạ sâu, hút ròng mạnh 33.000 tỷ đồng nhưng lãi suất qua đêm vẫn dưới 2%

Thị trường tiền tệ tuần 7 - 11/9: USD hạ sâu, hút ròng mạnh 33.000 tỷ đồng nhưng lãi suất qua đêm vẫn dưới 2%

(TBTCO) - Tỷ giá trung tâm giảm tuần thứ hai, USD ngân hàng hạ sâu, song sự “im lặng” của Fed khiến triển vọng lãi suất khó đoán. Dù Ngân hàng Nhà nước hút ròng hơn 33.000 tỷ đồng qua kênh OMO, lãi suất qua đêm giảm mạnh về 1,68%/năm, song áp lực nguồn vốn kỳ hạn dài vẫn hiện hữu.
Giá vàng hôm nay ngày 12/9: Vàng trong nước giảm tới 1,4 triệu đồng

Giá vàng hôm nay ngày 12/9: Vàng trong nước giảm tới 1,4 triệu đồng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng 29 USD, giao dịch quanh mức 4.349 USD/ounce. Trong khi đó, thị trường trong nước ghi nhận mức giảm cao nhất 1,4 triệu đồng/lượng.
Ba “ông lớn” ngân hàng tư nhân đua tăng vốn, sắp gia nhập câu lạc bộ vốn điều lệ 100.000 tỷ đồng

Ba “ông lớn” ngân hàng tư nhân đua tăng vốn, sắp gia nhập câu lạc bộ vốn điều lệ 100.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Techcombank vừa thông qua phương án phát hành thêm 50,28% số cổ phiếu qua hai cấu phần, dự kiến nâng vốn điều lệ từ 70.862 tỷ đồng lên 106.593 tỷ đồng. Cùng với Techcombank, MB và VPBank cũng tham gia cuộc đua tăng vốn để gia nhập “câu lạc bộ” vốn điều lệ trên 100.000 tỷ đồng.
Gửi tiết kiệm an tâm hơn khi hiểu đúng về bảo hiểm tiền gửi

Gửi tiết kiệm an tâm hơn khi hiểu đúng về bảo hiểm tiền gửi

(TBTCO) - Bên cạnh lãi suất, sự thuận tiện, người gửi tiền cũng cần biết khoản tiền của mình được bảo vệ như thế nào. Hiểu đúng về chính sách bảo hiểm tiền gửi (BHTG) giúp mỗi người nắm rõ quyền lợi của mình và chủ động hơn khi lựa chọn nơi gửi tiền.
Tiền gửi co xuống dưới 60%, ngân hàng bù đắp bằng nhiều nguồn vốn "nhạy" với lãi suất

Tiền gửi co xuống dưới 60%, ngân hàng bù đắp bằng nhiều nguồn vốn "nhạy" với lãi suất

Theo ghi nhận của TCBS Research, tiền gửi khách hàng co xuống 59,8% tổng nguồn vốn, tăng 5,5%, thấp hơn mức 9% của tín dụng. Phần thiếu hụt được bù bằng vốn liên ngân hàng và giấy tờ có giá, nhạy hơn với lãi suất ngắn hạn. Trong đó, giấy tờ có giá là nguồn vốn đắt nhất, khiến chi phí vốn toàn ngành sẽ còn neo ở mức cao.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 142,700 ▼300K 145,700 ▼300K
Hà Nội - PNJ 142,700 ▼300K 145,700 ▼300K
Đà Nẵng - PNJ 142,700 ▼300K 145,700 ▼300K
Miền Tây - PNJ 142,700 ▼300K 145,700 ▼300K
Tây Nguyên - PNJ 142,700 ▼300K 145,700 ▼300K
Đông Nam Bộ - PNJ 142,700 ▼300K 145,700 ▼300K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,270 ▼30K 14,570 ▼30K
Miếng SJC Nghệ An 14,270 ▼30K 14,570 ▼30K
Miếng SJC Thái Bình 14,270 ▼30K 14,570 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,270 ▼30K 14,620 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,270 ▼30K 14,620 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,270 ▼30K 14,620 ▼30K
NL 99.99 13,600
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,500
Trang sức 99.9 13,930 ▼30K 14,530 ▼30K
Trang sức 99.99 13,940 ▼30K 14,540 ▼30K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,427 ▲1284K 1,457 ▲1311K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,427 ▲1284K 14,572 ▼30K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,427 ▲1284K 14,573 ▼30K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,422 ▼3K 1,452 ▼3K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,422 ▼3K 1,453 ▼3K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,397 ▲1257K 1,442 ▼3K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 135,772 ▼297K 142,772 ▼297K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 98,511 ▼225K 108,311 ▼225K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 88,416 ▲79554K 98,216 ▲88374K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,321 ▼183K 88,121 ▼183K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 74,427 ▼175K 84,227 ▼175K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,487 ▼126K 60,287 ▼126K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,427 ▲1284K 1,457 ▲1311K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,427 ▲1284K 1,457 ▲1311K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,427 ▲1284K 1,457 ▲1311K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,427 ▲1284K 1,457 ▲1311K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,427 ▲1284K 1,457 ▲1311K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,427 ▲1284K 1,457 ▲1311K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,427 ▲1284K 1,457 ▲1311K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,427 ▲1284K 1,457 ▲1311K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,427 ▲1284K 1,457 ▲1311K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,427 ▲1284K 1,457 ▲1311K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,427 ▲1284K 1,457 ▲1311K
Cập nhật: 14/09/2026 10:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18015 18289 18865
CAD 18159 18435 19055
CHF 31074 31452 32094
CNY 0 3823 3919
EUR 29409 29630 30708
GBP 34237 34628 35571
HKD 0 3175 3377
JPY 161 165 172
KRW 0 18 20
NZD 0 14705 15296
SGD 19906 20188 20755
THB 698 762 815
USD (1,2) 25666 0 0
USD (5,10,20) 25704 0 0
USD (50,100) 25732 25746 26112
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,730 25,730 26,110
USD(1-2-5) 24,701 - -
USD(10-20) 24,701 - -
EUR 29,441 29,465 30,864
JPY 164.05 164.35 174.28
GBP 34,402 34,495 35,695
AUD 18,179 18,245 18,938
CAD 18,339 18,398 19,075
CHF 31,310 31,407 32,346
SGD 20,017 20,079 20,868
CNY - 3,789 3,934
HKD 3,238 3,248 3,384
KRW 17.77 18.53 20.17
THB 746.57 755.79 809.04
NZD 14,700 14,836 15,274
SEK - 2,622 2,715
DKK - 3,949 4,089
NOK - 2,741 2,838
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,949.53 - 6,717.31
TWD 738.68 - 894.98
SAR - 6,781.64 7,148.25
KWD - 82,221 87,494
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,700 25,730 26,110
EUR 29,475 29,593 30,790
GBP 34,415 34,553 35,582
HKD 3,237 3,250 3,367
CHF 31,175 31,300 32,234
JPY 164.54 165.20 173.18
AUD 18,181 18,254 18,848
SGD 20,090 20,171 20,766
THB 763 766 803
CAD 18,351 18,425 19,017
NZD 14,783 15,323
KRW 18.43 20.39
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25730 25730 26100
AUD 18161 18261 19191
CAD 18332 18432 19446
CHF 31300 31330 32912
CNY 3803 3828 3963.3
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 29575 29605 31328
GBP 34527 34577 36334
HKD 0 3330 0
JPY 165.12 165.62 176.14
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6660 0
NOK 0 2790 0
NZD 0 14823 0
PHP 0 385 0
SEK 0 2705 0
SGD 20056 20186 20909
THB 0 727.7 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14350000 14350000 14650000
SBJ 13000000 13000000 14650000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,680 25,730 26,130
USD20 25,650 25,730 26,130
USD1 24,317 25,730 26,875
AUD 18,210 18,360 19,499
EUR 29,341 29,491 31,193
CAD 18,254 18,404 19,735
SGD 20,079 20,279 20,862
JPY 164.99 166.49 172.3
GBP 34,333 34,533 35,640
XAU 14,238,000 0 14,542,000
CNY 0 3,711 0
THB 0 765 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 14/09/2026 10:00
Ngân hàng