Mới xử lý được gần 48% nợ xấu, Chính phủ đề nghị kéo dài thời hạn áp dụng

Trần Thắng
(TBTCO) - Theo Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Nguyễn Thị Hồng, đến nay đã xử lý được gần 48% nợ xấu với số tiền lên đến 380 nghìn tỷ đồng. Tuy nhiên, đến hết ngày 15/8/2022, toàn bộ cơ chế về xử lý nợ xấu theo Nghị quyết số 42/2017/QH14 sẽ không được áp dụng, do đó, Chính phủ đề xuất tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý về xử lý nợ xấu.
aa

Xử lý được hơn 380 nghìn tỷ đồng nợ xấu

Theo Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Nguyễn Thị Hồng, Nghị quyết số 42/2017/QH14 về thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng (Nghị quyết số 42) qua gần 5 năm triển khai trong thực tiễn, các mục tiêu, yêu cầu về cơ bản đã đạt được. Nghị quyết số 42 cùng với các văn bản hướng dẫn thi hành đã tạo lập khuôn khổ pháp lý để xử lý các khoản nợ xấu, góp phần tháo gỡ những khó khăn vướng mắc, hỗ trợ các tổ chức tín dụng (TCTD) trong việc xử lý nợ xấu và duy trì tỷ lệ nợ xấu nội bảng dưới mức 2%.

Bên cạnh đó, đã từng bước đảm bảo quyền của chủ nợ trong xử lý nợ xấu, thể hiện tính đúng đắn về định hướng, chính sách của Đảng, Quốc hội, Chính phủ đối với công tác xử lý nợ xấu của hệ thống các TCTD; tác động tích cực đến quá trình cơ cấu lại, phát triển của hệ thống các TCTD. Nhờ đó, các TCTD có điều kiện hạ mặt bằng lãi suất cho vay, hỗ trợ doanh nghiệp và người dân, đặc biệt trong giai đoạn chịu ảnh hưởng bởi dịch Covid-19.

Nguồn: Ngân hàng Nhà nước Đồ họa: Hồng Vân
Nguồn: Ngân hàng Nhà nước Đồ họa: Hồng Vân

Theo báo cáo của NHNN, lũy kế từ 15/8/2017 đến 31/12/2021, toàn hệ thống các TCTD đã xử lý được 380,2 nghìn tỷ đồng nợ xấu theo Nghị quyết số 42, bằng 47,9% số nợ xấu theo Nghị quyết số 42 tại thời điểm 15/8/2017 và số nợ xấu theo Nghị quyết số 42 phát sinh mới trong thời gian Nghị quyết số 42 có hiệu lực.

Tính trung bình nợ xấu đã xử lý đạt khoảng 5,67 nghìn tỷ đồng/tháng, cao hơn mức trung bình 3,25 nghìn tỷ đồng/tháng trong giai đoạn trước khi Nghị quyết 42 có hiệu lực (từ năm 2012 – 2017).

Đồng tình với báo cáo của Chính phủ, Ủy ban Kinh tế của Quốc hội cho rằng, từ khi có hiệu lực thi hành, Nghị quyết đã mang lại nhiều chuyển biến tích cực, thể hiện định hướng, chính sách đúng đắn của Đảng, Quốc hội, Chính phủ, qua đó củng cố niềm tin của xã hội đối với công tác xử lý nợ xấu của hệ thống các TCTD; đóng góp quan trọng vào kết quả cơ cấu lại hệ thống các TCTD gắn với xử lý nợ xấu và cơ cấu lại nền kinh tế giai đoạn 2016 - 2020.

Nguy cơ nợ xấu có xu hướng gia tăng

Tuy nhiên, theo Ủy ban Kinh tế, kết quả xử lý nợ xấu chưa thực sự vững chắc, thực trạng nợ xấu cho thấy nền kinh tế vẫn tiềm ẩn rủi ro; một số biện pháp áp dụng theo Nghị quyết số 42 chưa phát huy hiệu quả (như áp dụng thủ tục rút gọn tại tòa án...).

Đối với nợ xấu nói chung, xử lý bằng dự phòng rủi ro còn chiếm tỷ lệ cao; một số lĩnh vực có số nợ xấu chiếm tỷ trọng cao so với nợ xấu của toàn hệ thống như: bất động sản (chiếm 18,4%); cho vay tiêu dùng (chiếm 25,8%); BOT, BT giao thông (3,92%)...

Theo Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội Vũ Hồng Thanh, Ủy ban Kinh tế đề nghị Chính phủ cần phân tích rõ hơn nguyên nhân dẫn đến số nợ xấu được xác định theo Nghị quyết số 42 đến nay còn ở mức khá cao và có xu hướng gia tăng; các giải pháp đã triển khai thực hiện để nhận diện cũng như kiểm soát rủi ro đối với các khoản cho vay, nhất là các khoản thuộc các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro cao.

Tỷ lệ khách hàng tự trả nợ tăng

Trong tổng số 380,2 nghìn tỷ đồng nợ xấu theo Nghị quyết số 42 đã được xử lý, có 148 nghìn tỷ đồng là do khách hàng tự trả nợ (chiếm 38,93%), cao hơn so với mức 22,8% trung bình năm từ 2012-2017 do khách hàng tự trả nợ/tổng nợ xấu nội bảng đã xử lý. Đồng thời, kết quả xử lý, bán, phát mại tài sản bảo đảm để thu hồi nợ của tổ chức tín dụng và Công ty quản lý tài sản VAMC đạt 77,2 nghìn tỷ đồng, chiếm 20,3%.

“Có ý kiến đề nghị đánh giá về chính sách cơ cấu lại thời hạn trả nợ, giữ nguyên nhóm nợ (được thực hiện đến ngày 30/6/2022), mặc dù chính sách này hỗ trợ cho người dân, doanh nghiệp trong bối cảnh dịch Covid-19 nhưng có thể phản ánh không đầy đủ nợ xấu của hệ thống các TCTD, tiềm ẩn nhiều rủi ro cho nền kinh tế” - ông Vũ Hồng Thanh nói.

Đến hết ngày 15/8/2022, toàn bộ cơ chế về xử lý nợ xấu theo Nghị quyết số 42 sẽ không được áp dụng, việc xử lý nợ xấu của TCTD sẽ thực hiện theo quy định của pháp luật có liên quan. Do đó, Chính phủ đề xuất duy trì cơ chế, chính sách tại Nghị quyết số 42 và tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý về xử lý nợ xấu.

Đa số ý kiến trong Ủy ban Kinh tế thống nhất với sự cần thiết kéo dài thời hạn áp dụng Nghị quyết số 42. Thời hạn kéo dài cũng phù hợp với thời gian triển khai Nghị quyết số 43/2022/QH15 của Quốc hội. Ủy ban Kinh tế thấy rằng quá trình triển khai thực hiện Nghị quyết số 42 còn có những khó khăn, vướng mắc xuất phát từ chính quy định tại Nghị quyết cũng như từ quá trình thực thi, vì vậy, việc nghiên cứu sửa đổi, bổ sung một số nội dung là cần thiết.

Tuy nhiên các nội dung đặt ra đều phức tạp, cần phải có thời gian nghiên cứu và phải được đánh giá tác động đầy đủ. Do đó, đề nghị Chính phủ tiếp tục nghiên cứu các ý kiến nêu trên trong quá trình xây dựng khuôn khổ pháp lý về xử lý nợ xấu, tài sản bảo đảm.

Nợ xấu chưa xử lý vẫn lên đến hơn 400 nghìn tỷ đồng

Theo Ủy ban Kinh tế của Quốc hội, giai đoạn 2017-2021, nợ xấu cơ bản được kiểm soát, tỷ lệ nợ xấu nội bảng được duy trì ở mức dưới 2%; quy mô, năng lực tài chính của các TCTD được tăng cường; năng lực quản trị, điều hành tiếp tục được nâng cao; sự an toàn, ổn định của hệ thống các TCTD được giữ vững; hệ thống các TCTD tiếp tục giữ vai trò chủ đạo trong bảo đảm cung ứng vốn cho nền kinh tế, hỗ trợ doanh nghiệp và người dân, đặc biệt là trong bối cảnh dịch Covid-19.

Tuy nhiên, “bức tranh” không hoàn toàn là màu hồng, kinh tế thế giới giai đoạn 2021 - 2025 được dự báo diễn biến khó lường, lạm phát gia tăng, xung đột Nga – Ukraine, đại dịch Covid-19 vẫn còn ảnh hưởng và tác động tới kinh tế thế giới và kinh tế Việt Nam. Nhiều doanh nghiệp trong nước gặp khó khăn, không trả được nợ ngân hàng, bởi vậy nợ xấu có xu hướng tăng trong thời gian tới.

Đến 31/12/2021, trường hợp đánh giá một cách thận trọng, tỷ lệ nợ xấu nội bảng, nợ bán cho Công ty quản lý tài sản VAMC và các khoản nợ tiềm ẩn thành nợ xấu ở mức cao là 6,31%. Nợ xấu chưa xử lý theo Nghị quyết số 42 đến 31/12/2021 vẫn ở mức cao là 412,7 nghìn tỷ đồng. Xử lý nợ xấu theo hình thức khách hàng tự trả nợ giảm do dịch Covid-19 tác động đến tình hình tài chính của khách hàng.

Trong thời gian tới, Chính phủ sẽ tiếp tục chỉ đạo NHNN, các bộ, ngành, địa phương phối hợp giải quyết những khó khăn, vướng mắc trong công tác thực thi, hướng dẫn Nghị quyết số 42. Đồng thời, phân định rõ trách nhiệm của các đơn vị trong việc triển khai Nghị quyết; tăng cường công tác quản lý, thanh tra, giám sát đối với các TCTD.

Mạnh tay hơn, Chính phủ đề xuất Quốc hội chỉ đạo Tòa án Nhân dân tối cao chỉ đạo toà án nhân dân các cấp và phối hợp với Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, cơ quan thi hành án tiếp tục đồng hành, hỗ trợ ngành Ngân hàng trong công tác xử lý nợ xấu theo Nghị quyết số 42 nói riêng và cơ cấu lại hệ thống các TCTD gắn với xử lý nợ xấu nói chung.

Theo Ủy ban Kinh tế của Quốc hội, việc xây dựng khuôn khổ pháp lý về xử lý nợ xấu và tài sản bảo đảm trong thời gian tới là hết sức cần thiết, trong đó cần giải quyết được những vướng mắc, bất cập trong quá trình thực thi cũng như đáp ứng yêu cầu của thực tiễn, tạo được động lực thúc đẩy xử lý nợ xấu của nền kinh tế và phát triển hơn nữa thị trường mua, bán nợ xấu trong tương lai. Ủy ban này đề nghị Chính phủ phân công nhiệm vụ cụ thể cho các cơ quan nghiên cứu, đề xuất nội dung luật hóa cùng với việc tổng kết, sửa đổi, hoàn thiện Luật Các TCTD và các luật khác có liên quan đến xử lý nợ xấu và tài sản bảo đảm, trình Quốc hội chậm nhất vào kỳ họp đầu năm 2023.

Trần Thắng

Đọc thêm

UOB nâng dự báo tăng trưởng GDP, nhiều lực đẩy mới mở rộng nguồn vốn tỷ USD cho nền kinh tế

UOB nâng dự báo tăng trưởng GDP, nhiều lực đẩy mới mở rộng nguồn vốn tỷ USD cho nền kinh tế

(TBTCO) - UOB nâng dự báo tăng trưởng GDP Việt Nam giữa lúc nền kinh tế đón nhiều động lực mới để mở rộng nguồn vốn. Với nhu cầu 1,5 nghìn tỷ USD giai đoạn 2026 - 2030, lực đẩy từ nâng hạng thị trường chứng khoán, lập VIFC đến chiến lược “FDI 2.0”... mở thêm dư địa huy động vốn cho nền kinh tế, giảm sức ép lên ngân hàng và ngân sách nhà nước.
DBV ra mắt bảo hiểm ô tô điện, bảo vệ chuyên biệt cho pin và rủi ro sạc

DBV ra mắt bảo hiểm ô tô điện, bảo vệ chuyên biệt cho pin và rủi ro sạc

(TBTCO) - Tập đoàn Bảo hiểm DBV chính thức giới thiệu sản phẩm Bảo hiểm Ô tô điện, giải pháp chuyên biệt dành cho phương tiện sử dụng năng lượng xanh, hướng tới mở rộng phạm vi bảo vệ và đồng hành với khách hàng suốt quá trình sở hữu, vận hành xe.
Hơn 267 triệu cổ phiếu sắp chào bán, PGBank tiến gần mốc vốn điều lệ 10.000 tỷ đồng

Hơn 267 triệu cổ phiếu sắp chào bán, PGBank tiến gần mốc vốn điều lệ 10.000 tỷ đồng

(TBTCO) - PGBank vừa được chấp thuận chào bán thêm gần 267,3 triệu cổ phiếu ra công chúng, tổng giá trị hơn 2.672,9 tỷ đồng, chia thành 2 đợt. Nếu hoàn tất kế hoạch, vốn điều lệ ngân hàng sẽ cán mốc 10.000 tỷ đồng, tạo dư địa cho PGBank mở rộng hoạt động kinh doanh và thực hiện các kế hoạch đầu tư giai đoạn tới.
TPBank hoàn tất nền tảng triển khai IRB, tự tin bước vào giai đoạn chuyển đổi theo Thông tư 14

TPBank hoàn tất nền tảng triển khai IRB, tự tin bước vào giai đoạn chuyển đổi theo Thông tư 14

(TBTCO) - Sở hữu các chỉ số tài chính mạnh là bệ phóng vững chắc để TPBank mở rộng quy mô một cách an toàn, hiệu quả và tối ưu hóa việc sử dụng vốn. Sau khi sớm hoàn tất phương pháp Tiêu chuẩn (SA), TPBank đã hoàn thiện các nền tảng trọng yếu về vốn, dữ liệu, mô hình đo lường rủi ro, công nghệ và quản trị để sẵn sàng trở thành một trong những ngân hàng đầu tiên tại Việt Nam hoàn thành Giai đoạn chuyển đổi sang phương pháp Xếp hạng nội bộ (IRB) vào năm 2027 theo quy định Thông tư 14 của Ngân hàng Nhà nước (NHNN).
Nhóm Ngân hàng Thế giới huy động vốn tư nhân ở mức kỷ lục cho các nước đang phát triển

Nhóm Ngân hàng Thế giới huy động vốn tư nhân ở mức kỷ lục cho các nước đang phát triển

(TBTCO) - Trong năm tài khóa 2026, Nhóm Ngân hàng Thế giới đã huy động được nguồn vốn tư nhân cao nhất từ trước đến nay, đồng thời phát hành bảo lãnh ở mức cao kỷ lục để hỗ trợ các nền kinh tế đang phát triển.
Bảo Việt Nhân thọ ra mắt phiên bản mới “An sinh giáo dục” – tiếp nối 30 năm đồng hành cùng tương lai các thế hệ Việt

Bảo Việt Nhân thọ ra mắt phiên bản mới “An sinh giáo dục” – tiếp nối 30 năm đồng hành cùng tương lai các thế hệ Việt

(TBTCO) - Nhân dịp kỷ niệm 30 năm thành lập, Tổng Công ty Bảo Việt Nhân thọ chính thức ra mắt phiên bản mới của sản phẩm “An Sinh Giáo Dục”. Đây là giải pháp bảo hiểm liên kết chung chuyên biệt dành cho trẻ em, kết hợp giữa tích lũy dài hạn và bảo vệ kép cho cả con và cha/mẹ, giúp các bậc phụ huynh chủ động chuẩn bị từ sớm cho tương lai con trẻ.
Tỷ giá USD hôm nay (18/9): Tỷ giá trung tâm tăng, BoE giữ nguyên, BoJ có thể nâng lãi suất lên đỉnh 31 năm

Tỷ giá USD hôm nay (18/9): Tỷ giá trung tâm tăng, BoE giữ nguyên, BoJ có thể nâng lãi suất lên đỉnh 31 năm

(TBTCO) - Sáng 18/9, tỷ giá trung tâm tăng 5 đồng lên 25.637 đồng, trong khi chỉ số DXY nhích 0,02% lên 100,24 điểm. Ngân hàng Trung ương Anh (BoE) giữ lãi suất ở 3,75% nhưng phát tín hiệu thắt chặt hơn. Tại Nhật Bản, thị trường đánh giá khả năng Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BoJ) tăng lãi suất 25 điểm cơ bản, lên mức cao nhất khoảng 31 năm.
Fed tăng lãi suất lần đầu sau 3 năm, bài toán tỷ giá USD/VND và lãi suất cuối năm

Fed tăng lãi suất lần đầu sau 3 năm, bài toán tỷ giá USD/VND và lãi suất cuối năm

(TBTCO) - Fed tăng lãi suất lần đầu kể từ tháng 7/2023 hỗ trợ đồng USD. Tuy nhiên, áp lực tỷ giá USD/VND còn đến từ cung - cầu ngoại tệ trong nước, khi cán cân thương mại nhập siêu, nhà đầu tư nước ngoài mua 3,77 tỷ USD để rút vốn, chuyển lợi nhuận trong 7 tháng. Dư địa dự trữ ngoại hối hạn chế cũng đặt ra bài toán cân bằng tỷ giá và lãi suất.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 144,600 147,600
Hà Nội - PNJ 144,600 147,600
Đà Nẵng - PNJ 144,600 147,600
Miền Tây - PNJ 144,600 147,600
Tây Nguyên - PNJ 144,600 147,600
Đông Nam Bộ - PNJ 144,600 147,600
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,460 14,760
Miếng SJC Nghệ An 14,460 14,760
Miếng SJC Thái Bình 14,460 14,760
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,410 14,760
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,410 14,760
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,410 14,760
NL 99.99 13,600
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,500
Trang sức 99.9 14,070 14,670
Trang sức 99.99 14,080 14,680
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,446 14,762
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,446 14,763
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,441 1,471
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,441 1,472
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,416 1,461
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 137,653 144,653
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,936 109,736
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 89,708 99,508
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 7,948 8,928
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 75,535 85,335
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 5,128 6,108
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Cập nhật: 20/09/2026 05:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17982 18257 18841
CAD 18064 18339 18961
CHF 30990 31368 32030
CNY 0 3842 3938
EUR 29245 29465 30548
GBP 34044 34434 35374
HKD 0 3185 3388
JPY 159 162 169
KRW 0 18 20
NZD 0 14575 15165
SGD 19843 20125 20706
THB 696 759 813
USD (1,2) 25754 0 0
USD (5,10,20) 25793 0 0
USD (50,100) 25821 25835 26205
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,810 25,810 26,190
USD(1-2-5) 24,778 - -
USD(10-20) 24,778 - -
EUR 29,263 29,286 30,675
JPY 160.57 160.86 170.59
GBP 34,119 34,211 35,399
AUD 18,172 18,238 18,935
CAD 18,222 18,280 18,952
CHF 31,129 31,226 32,146
SGD 19,944 20,006 20,791
CNY - 3,807 3,953
HKD 3,247 3,257 3,394
KRW 17.31 18.05 19.65
THB 744.84 754.04 806.89
NZD 14,542 14,677 15,113
SEK - 2,603 2,697
DKK - 3,925 4,064
NOK - 2,707 2,802
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,947.58 - 6,714.78
TWD 737.16 - 892.54
SAR - 6,802.55 7,165.57
KWD - 82,316 87,591
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,790 25,820 26,200
EUR 29,305 29,423 30,618
GBP 34,129 34,266 35,290
HKD 3,247 3,260 3,378
CHF 31,017 31,142 32,082
JPY 162.53 163.18 171.16
AUD 18,165 18,238 18,831
SGD 20,035 20,115 20,705
THB 762 765 803
CAD 18,259 18,332 18,922
NZD 14,637 15,180
KRW 17.99 19.93
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25830 25830 26200
AUD 18186 18286 19208
CAD 18231 18331 19342
CHF 31126 31156 32741
CNY 3824.1 3849.1 3984.3
CZK 0 1190 0
DKK 0 4010 0
EUR 29420 29450 31176
GBP 34274 34324 36077
HKD 0 3305 0
JPY 161.19 161.69 172.2
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2820 0
NZD 0 14665 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2660 0
SGD 19984 20114 20836
THB 0 725.5 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14460000 14460000 14760000
SBJ 13000000 13000000 14760000
Cập nhật: 20/09/2026 05:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30