Ngân hàng Nhà nước chưa tìm đến kênh dự trữ ngoại hối để ổn định tỷ giá

Thái Duy
(TBTCO) - Tỷ giá USD/VND đang tiến đến mức đỉnh ghi nhận vào cuối năm ngoái. Tuy nhiên, trạng thái ngoại tệ trên hệ thống không quá bất lợi và tỷ giá bán trên Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đang được niêm yết ở 25.244 VND - cho thấy NHNN sẽ chưa tìm đến kênh dự trữ ngoại hối để ổn định thị trường.
aa

Tỷ giá USD/VND tiếp tục đà tăng

Trên thị trường ngoại hối trong nước, báo cáo của SSI Research cho thấy, tuần qua, diễn biến tỷ giá USD/VND tăng, tương đồng với xu hướng của các đồng tiền trong khu vực.

Tỷ giá liên ngân hàng kết tuần ở vùng 24.540 VND, tăng gần 90 đồng so với tuần kế trước và vượt mốc 24.600 VND trong phiên giao dịch đầu tuần. Tỷ giá niêm yết của VCB đóng cửa ở mức cao nhất tuần, đạt 24.330 - 24.700 VND (mua vào - bán ra), tăng 70 đồng và tiếp tục tăng thêm 40 đồng trong đầu tuần này. Tỷ giá tự do có phần nào ổn định hơn, giao dịch trong vùng 24.600 - 24.700 VND.

Tỷ giá USD/VND hiện tăng 3,8% so với cuối năm 2022 - nằm ở mức biến động cho phép và thông điệp từ NHNN đưa ra là sẽ điều hành tỷ giá một cách ổn định nhưng không đồng nghĩa với việc không có biến động.

Theo các chuyên gia của SSI Research, tỷ giá USD/VND đang tiến đến mức đỉnh ghi nhận vào cuối năm ngoái mặc dù cung, cầu ngoại tệ không có nhiều áp lực và biến động trên thị trường tự do cũng cho thấy nhu cầu tiền USD từ cá nhân trong nước không có sự đột biến. Trạng thái ngoại tệ trên hệ thống không quá bất lợi, và tỷ giá bán trên Sở Giao dịch NHNN đang được niêm yết ở 25.244 VND - cho thấy NHNN sẽ chưa tìm đến kênh dự trữ ngoại hối để ổn định thị trường.

“Tỷ giá USD/VND hiện tăng 3,8% so với cuối năm 2022 - nằm ở mức biến động cho phép và thông điệp từ NHNN đưa ra là sẽ điều hành tỷ giá một cách ổn định nhưng không đồng nghĩa với việc không có biến động” – SSI Research cho hay.

Ngân hàng Nhà nước chưa tìm đến kênh dự trữ ngoại hối để ổn định tỷ giá

Trong khi đó, trên thị trường ngoại hối thế giới, tuần qua, tâm điểm tập trung vào dữ liệu về doanh thu bán lẻ tại thị trường Mỹ và bài phát biểu của Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED).

Trong đó, dữ liệu kinh tế vẫn tiếp tục thể hiện đà tăng trưởng tích cực khi doanh thu bán lẻ toàn phẩn và cơ bản trong tháng 9 lần lượt tăng 0,7% và 0,6% so với tháng trước, nối tiếp đà tăng 0,8% và 0,9% của tháng trước đó, đồng thời cùng mạnh hơn so với mức tăng 0,3% và 0,2% theo dự báo.

Đối với bài phát biểu của Chủ tịch FED, thông điệp đưa ra nghiêng nhiều hơn về việc sẽ duy trì lãi suất ở mức cao trong thời gian dài hơn nhằm đưa lạm phát về mốc mục tiêu. Biến động lớn khác đến từ thị trường trái phiếu chính phủ Mỹ khi lợi suất trái phiếu chính phủ kỳ hạn 10 năm lần đầu tiên kể từ năm 2007 đã quay lại mốc 5%, trong khi nguồn cung trái phiếu trên thị trường dư thừa khi FED tiếp tục thu hẹp bảng cân đối kế toán, mức thâm hụt ngân sách kỉ lục hay trạng thái bán khống vị thế từ các quỹ đầu tư.

Sau khi các thông tin được công bố, CME Group dự báo có 98% khả năng FED giữ lãi suất cơ sở đi ngang trong cuộc họp tháng 11 và tỷ lệ này là 75% trong cuộc họp tháng 12.

Tính tới cuối tuần qua, đồng USD tiếp tục duy trì được sức mạnh của mình và chỉ số DXY đóng cửa ở 106,2 điểm, giảm nhẹ 0,5% so với tuần trước nhưng tăng 2,6% so với cuối năm 2022.

Ngoại trừ EUR (+0,8%) và GBP (+0,17%) nhờ phát biểu có phần nào “diều hâu” từ ECB hay dữ liệu lạm phát cao ở Anh, các đồng tiền trong khu vực châu Á và mới nổi đều giảm giá so với USD như THB -0,67%, JPY -0,19%, KRW -0,21% hay CNY -0,13%.

Lãi suất liên ngân hàng tăng nhẹ

Theo thông tin từ SSI Research, NHNN tiếp tục hoạt động phát hành tín phiếu xuyên suốt tuần trước, với tổng khối lượng phát hành là 55,9 nghìn tỷ đồng ở kỳ hạn 28 ngày, với phương thức đấu thầu là cạnh tranh lãi suất. Khối lượng trúng thầu có xu hướng giảm trong tuần và ngược lại, lãi suất trúng thầu có xu hướng tăng và kết tuần ở 1,45% (tăng 45 điểm cơ bản so với cuối tuần trước).

Ngân hàng Nhà nước chưa tìm đến kênh dự trữ ngoại hối để ổn định tỷ giá
Khối lượng trúng thầu giảm trên kênh tín phiếu nghiêng nhiều về khả năng nhu cầu yếu dần từ các ngân hàng thương mại cho kỳ hạn 28 ngày, nhằm chuẩn bị cho nguồn vốn vào cuối năm hơn là đến từ việc thanh khoản hệ thống căng thẳng.

Với 20 nghìn tỷ đồng đáo hạn trong tuần qua, tổng khối lượng tín phiếu đang lưu hành đạt 241,6 nghìn tỷ đồng, giảm nhẹ từ mức đỉnh 255 nghìn tỷ đồng ghi nhận vào phiên giao dịch ngày 18/10. Trong tuần này sẽ ghi nhận thêm 73,8 nghìn tỷ đồng tín phiếu đáo hạn.

Mặt bằng lãi suất liên ngân hàng đã nhích tăng dần và kết tuần ở 1,5% đối với kỳ hạn qua đêm, tăng 120 điểm cơ bản so với cuối tuần trước.

Khối lượng trúng thầu giảm trên kênh tín phiếu nghiêng nhiều về khả năng nhu cầu yếu dần từ các ngân hàng thương mại cho kỳ hạn 28 ngày nhằm chuẩn bị cho nguồn vốn vào cuối năm hơn là đến từ việc thanh khoản hệ thống căng thẳng, khi tín dụng chưa có sự phục hồi (tăng trưởng tín dụng tính đến 11/10 đạt 6,2% so với cuối năm 2022 - giảm từ mức 6,9% vào cuối tháng 9) và thấp hơn nhiều so với năm 2022 (11,2%)./.

Thái Duy

Đọc thêm

KienlongBank: Lợi nhuận quý I tăng trưởng 50%, chi phí vận hành giảm 30%

KienlongBank: Lợi nhuận quý I tăng trưởng 50%, chi phí vận hành giảm 30%

(TBTCO) - Quy mô mở rộng, lợi nhuận bứt phá và chi phí vận hành được tối ưu hóa tối đa là những dấu ấn đậm nét trong bức tranh kinh doanh quý I/2026 của KienlongBank. Với lợi nhuận tăng trưởng 50% cùng bộ chỉ số sinh lời khả quan, Ngân hàng đang tự tin bám sát lộ trình mục tiêu, khẳng định vị thế bền vững trên thị trường tài chính.
Đại hội đồng cổ đông VPBank: Nâng vốn vượt 100.000 tỷ đồng, tăng tốc CAEX chuẩn bị tham gia tài sản mã hóa

Đại hội đồng cổ đông VPBank: Nâng vốn vượt 100.000 tỷ đồng, tăng tốc CAEX chuẩn bị tham gia tài sản mã hóa

(TBTCO) - VPBank đặt mục tiêu lợi nhuận trước thuế hợp nhất năm 2026 đạt 41.323 tỷ đồng, tăng 35%; dư nợ tín dụng gần 1,3 triệu tỷ đồng, tăng 34%. Cùng với kế hoạch nâng vốn lên 100.000 tỷ đồng để củng cố nền tảng tài chính, ngân hàng cũng đẩy nhanh triển khai CAEX, kỳ vọng sớm vận hành và mở rộng sang lĩnh vực tài sản mã hóa.
Bảo hiểm Quân đội ưu đãi đến 25% trên App: Bảo vệ "kép" Sức khỏe và Xe dịp 30/4

Bảo hiểm Quân đội ưu đãi đến 25% trên App: Bảo vệ "kép" Sức khỏe và Xe dịp 30/4

(TBTCO) - Trước diễn biến phức tạp của các dịch bệnh truyền nhiễm và nhu cầu di chuyển tăng cao dịp đại lễ, Bảo hiểm Quân đội (MIC) triển khai chương trình ưu đãi lớn tặng voucher lên đến 25% từ ngày 25/4 đến 03/5/2026. Đây là giải pháp thiết thực giúp khách hàng thiết lập "lá chắn" tài chính vững chắc ngay trên ứng dụng bảo hiểm số.
PTI đặt kế hoạch thận trọng và tăng vốn điều lệ hơn 600 tỷ đồng trong năm 2026

PTI đặt kế hoạch thận trọng và tăng vốn điều lệ hơn 600 tỷ đồng trong năm 2026

(TBTCO) - PTI trình cổ đông kế hoạch kinh doanh 2026 theo hướng thận trọng, đồng thời đề xuất phương án tăng vốn hơn 600 tỷ đồng nhằm củng cố nền tảng tài chính và nâng cao khả năng chống chịu trước biến động thị trường.
Đại hội đồng cổ đông Sacombank: Dồn lực tái cơ cấu, ưu tiên “đệm” dự phòng trước ngưỡng triệu tỷ

Đại hội đồng cổ đông Sacombank: Dồn lực tái cơ cấu, ưu tiên “đệm” dự phòng trước ngưỡng triệu tỷ

(TBTCO) - Năm 2026, Sacombank đặt mục tiêu tài sản vượt 1 triệu tỷ đồng, lợi nhuận 8.100 tỷ đồng; kiểm soát nợ xấu dưới 4,5%; đồng thời thông qua các quyết sách mang tính “bước ngoặt. Lãnh đạo Sacombank cho biết, đã hoàn tất xử lý các tồn đọng tài chính và trích đủ dự phòng 100%, nhưng vẫn chờ xử lý 32,5% cổ phần tại VAMC. Sacombank sẽ tiếp tục ưu tiên trích lập dự phòng rủi ro, nâng cao tỷ lệ bao phủ nợ xấu.
Gia Lai: Hơn 690 đơn vị nợ bảo hiểm với số tiền hơn 133 tỷ đồng

Gia Lai: Hơn 690 đơn vị nợ bảo hiểm với số tiền hơn 133 tỷ đồng

(TBTCO) - Tính đến hết tháng 3/2026, tỉnh Gia Lai có 693 công ty, hợp tác xã, hộ kinh doanh…chậm đóng trên 6 tháng các khoản bảo hiểm của hơn 3.000 lao động với số tiền hơn 133 tỷ đồng.
Giá vàng hôm nay ngày 22/4: Giá vàng trong nước đảo chiều giảm đến 900.000 đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 22/4: Giá vàng trong nước đảo chiều giảm đến 900.000 đồng/lượng

(TBTCO) - Sáng ngày 22/4, giá vàng miếng trong nước đồng loạt điều chỉnh giảm mạnh tại nhiều doanh nghiệp lớn, với mức giảm phổ biến 900.000 đồng/lượng, kéo mặt bằng giao dịch lùi về vùng 167,2 - 169,7 triệu đồng/lượng.
Quy định phòng, chống rửa tiền “vênh” thực tế, hầu hết doanh nghiệp kinh doanh vàng đối mặt rủi ro vi phạm

Quy định phòng, chống rửa tiền “vênh” thực tế, hầu hết doanh nghiệp kinh doanh vàng đối mặt rủi ro vi phạm

Hiệp hội Kinh doanh vàng Việt Nam cho rằng, nhiều quy định về phòng, chống rửa tiền và quản lý nguồn vàng trong dân gây khó cho doanh nghiệp kinh doanh vàng. Do yêu cầu xác minh thu nhập, nghề nghiệp thiếu khả thi, gần như 100% doanh nghiệp có thể phát sinh vi phạm. Hiệp hội đề xuất chuyển sang quản lý dựa trên rủi ro và xây dựng hệ thống dữ liệu dùng chung.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,750 17,000
Kim TT/AVPL 16,750 17,000
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,670 16,970
Nguyên Liệu 99.99 15,650 15,850
Nguyên Liệu 99.9 15,600 15,800
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,360 16,760
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,310 16,710
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,240 16,690
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 166,700 169,700
Hà Nội - PNJ 166,700 169,700
Đà Nẵng - PNJ 166,700 169,700
Miền Tây - PNJ 166,700 169,700
Tây Nguyên - PNJ 166,700 169,700
Đông Nam Bộ - PNJ 166,700 169,700
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,750 17,000
Miếng SJC Nghệ An 16,750 17,000
Miếng SJC Thái Bình 16,750 17,000
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,700 17,000
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,700 17,000
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,700 17,000
NL 99.90 15,450
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,500
Trang sức 99.9 16,190 16,890
Trang sức 99.99 16,200 16,900
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,675 170
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,675 17,002
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,675 17,003
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,673 1,698
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,673 1,699
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,653 1,683
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 160,134 166,634
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 117,488 126,388
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 105,705 114,605
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 93,923 102,823
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 89,379 98,279
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 61,438 70,338
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,675 170
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,675 170
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,675 170
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,675 170
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,675 170
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,675 170
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,675 170
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,675 170
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,675 170
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,675 170
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,675 170
Cập nhật: 23/04/2026 06:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18305 18581 19162
CAD 18739 19017 19635
CHF 33033 33419 34068
CNY 0 3820 3913
EUR 30284 30559 31584
GBP 34774 35167 36098
HKD 0 3230 3432
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 15244 15834
SGD 20125 20408 20936
THB 733 796 850
USD (1,2) 26055 0 0
USD (5,10,20) 26096 0 0
USD (50,100) 26125 26144 26355
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,125 26,125 26,355
USD(1-2-5) 25,080 - -
USD(10-20) 25,080 - -
EUR 30,486 30,510 31,783
JPY 161.26 161.55 170.33
GBP 35,041 35,136 36,141
AUD 18,577 18,644 19,237
CAD 18,968 19,029 19,618
CHF 33,428 33,532 34,318
SGD 20,312 20,375 21,049
CNY - 3,795 3,917
HKD 3,303 3,313 3,432
KRW 16.47 17.18 18.59
THB 783.51 793.19 843.82
NZD 15,275 15,417 15,779
SEK - 2,834 2,917
DKK - 4,079 4,199
NOK - 2,784 2,865
LAK - 0.91 1.26
MYR 6,238.33 - 7,002.05
TWD 757.38 - 912.23
SAR - 6,915.97 7,242.74
KWD - 83,818 88,667
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,105 26,135 26,355
EUR 30,342 30,464 31,647
GBP 34,932 35,072 36,081
HKD 3,293 3,306 3,421
CHF 33,126 33,259 34,203
JPY 161.40 162.05 169.35
AUD 18,495 18,569 19,164
SGD 20,315 20,397 20,981
THB 797 800 835
CAD 18,921 18,997 19,574
NZD 15,293 15,827
KRW 17.07 18.75
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26215 26215 26355
AUD 18484 18584 19507
CAD 18923 19023 20034
CHF 33282 33312 34890
CNY 3796.9 3821.9 3957.4
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30456 30486 32212
GBP 35065 35115 36873
HKD 0 3355 0
JPY 161.62 162.12 172.66
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.4 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2772 0
NZD 0 15347 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2850 0
SGD 20285 20415 21137
THB 0 761.6 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16750000 16750000 17000000
SBJ 15000000 15000000 17000000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,150 26,200 26,355
USD20 26,150 26,200 26,355
USD1 23,845 26,200 26,355
AUD 18,537 18,637 19,762
EUR 30,597 30,597 32,026
CAD 18,867 18,967 20,283
SGD 20,359 20,509 21,088
JPY 162.2 163.7 168.36
GBP 34,935 35,285 36,430
XAU 16,808,000 0 17,062,000
CNY 0 3,708 0
THB 0 797 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 23/04/2026 06:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80