Ngân hàng Nhà nước tiếp tục bơm thanh khoản, giá vàng “lao dốc”

Mai Tấn
(TBTCO) - Trong bối cảnh giá USD niêm yết tại các ngân hàng đã liên tục tăng suốt hai tuần qua và đã tăng 4,3% kể từ đầu năm. Giá USD trên thị trường tự do cũng đã gần chạm mức 25.900 đồng/USD, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã tăng cường hỗ trợ thanh khoản hệ thống thông qua nghiệp vụ thị trường mở. Trong khi đó, thị trường vàng sau khi tăng nóng đã có một tuần “lao dốc” giảm mạnh.
aa
Thị trường tiền tệ tuần 29/7 – 2/8: Nhiều ngân hàng báo lãi kỷ lục, tỷ giá giảm mạnh vào cuối tuần Thị trường tiền tệ tuần 7-11/10: Ngân hàng Nhà nước hút ròng trên thị trường mở, tỷ giá nhích tăng, giá vàng nhẫn giảm sức “nóng”

Ngân hàng Nhà nước tiếp tục bơm thanh khoản

Trong những ngày đầu tháng 11/2024, thị trường ghi nhận mặt bằng lãi suất VND liên ngân hàng tăng so với mức giao dịch bình quân khá thấp trong tháng 10. Đồng thời, tỷ giá USD/VND trong vài tuần qua tăng trở lại, gần đạt mức cao nhất vào thời điểm giữa năm nay.

Trong bối cảnh trên, NHNN đã tăng cường hỗ trợ thanh khoản hệ thống bằng nghiệp vụ thị trường mở. Cụ thể, trong phiên ngày 4/11 trên kênh cho vay cầm cố giấy tờ có giá (OMO), NHNN chào thầu 30.000 tỷ đồng, kỳ hạn 7 ngày, lãi suất ở mức 4,0%. Có hơn 29.999 tỷ đồng trúng thầu. Ngược lại, có 10.000 tỷ đồng đáo hạn trên kênh cầm cố.

Mặt khác NHNN tiếp tục chào thầu tín phiếu ở kỳ hạn 28 ngày, đấu thầu lãi suất. Có 300 tỷ đồng trúng thầu, lãi suất giữ ở mức 3,90%. Có 3.900 tỷ đồng tín phiếu đáo hạn. Như vậy, NHNN bơm ròng hơn 23.599 tỷ đồng ra thị trường qua kênh thị trường mở.

Tiếp đó, trong phiên giao dịch 5/11, NHNN tiếp tục duy trì trạng thái bơm ròng thanh khoản cho hệ thống ngân hàng. Cụ thể, trên kênh cầm cố, NHNN chào thầu 20.000 tỷ đồng, kỳ hạn 7 ngày, lãi suất ở mức 4,0%/năm, đấu thầu khối lượng. Có hơn 19.999 tỷ đồng trúng thầu và hơn 14.999 tỷ đồng đáo hạn trên kênh cầm cố; tương ứng mức bơm ròng gần 5.000 tỷ đồng.

Trên kênh tín phiếu, NHNN chào thầu ở kỳ hạn 28 ngày theo hình thức đấu thầu lãi suất. Có 600 tỷ đồng trúng thầu, lãi suất giữ ở mức 3,9%/năm và có 3.600 tỷ đồng tín phiếu đáo hạn; tương ứng mức bơm ròng 3.000 tỷ đồng. Như vậy, NHNN bơm ròng 8.000 tỷ đồng cho hệ thống ngân hàng qua 2 kênh OMO và tín phiếu.

Ngân hàng Nhà nước tiếp tục bơm thanh khoản, giá vàng “lao dốc”
Nhiều ngân hàng hạ lãi suất, tỷ giá diễn biến trái chiều. Ảnh: TL minh hoạ.

FED giảm lãi suất lần thứ 2 trong năm

Sau cuộc họp kéo dài hai ngày, ngày 7/11, Cục dự trữ Liên bang Mỹ (FED) vừa quyết định hạ lãi suất thêm 0,25 điểm đưa lãi suất liên bang xuống phạm vi 4,5-4,75%.

Trước đó vào tháng 9, FED đã thực hiện đợt hạ lãi suất đầu tiên kể từ đại dịch Covid-19 với mức giảm 0,5%./.

Trong phiên ngày 6/11, trên kênh cầm cố, NHNN chào thầu 15.000 tỷ đồng, kỳ hạn 7 ngày, lãi suất ở mức 4,0%. Có hơn 14.999 tỷ đồng trúng thầu. Có 3.000 tỷ đồng đáo hạn trên kênh cầm cố.

NHNN chào thầu tín phiếu NHNN ở kỳ hạn 28 ngày, đấu thầu lãi suất. Có 600 tỷ đồng trúng thầu, lãi suất giữ ở mức 3,90%. Có 3.300 tỷ đồng tín phiếu đáo hạn. Như vậy, NHNN bơm ròng hơn 14.699 tỷ đồng ra thị trường qua kênh thị trường mở. Hoạt động này tiếp tục được diễn ra tại các phiên còn lại trong tuần.

Giới chuyên môn nhận định động thái chính sách của NHNN được xem là bước đi chiến lược để kiểm soát tỷ giá USD/VND, nhằm bảo đảm tính ổn định của thị trường tiền tệ trong bối cảnh thị trường thế giới có nhiều biến động. Động thái bơm thanh khoản này không chỉ là biện pháp tức thời mà còn thể hiện cam kết mạnh mẽ của NHNN trong việc hỗ trợ hệ thống tài chính duy trì sự ổn định dài hạn.

Giá vàng “rơi tự do” về mức thấp nhất ba tuần

Chỉ số DXY có xu tăng trở lại

Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY đo lường sức mạnh của đồng Đô la Mỹ có xu hướng tăng trở lại trong tuần qua. Tại thời điểm chiều ngày 8/11 theo giờ Việt Nam, chỉ số DXY ghi nhận ở mức khoảng 104,46 điểm, tăng mạnh so mức điểm của chỉ số này trước đó 1 tuần.

Thị trường vàng trong nước và thế giới đã có một tuần biến động mạnh khi giá vàng “lao dốc” sau một thời gian tăng mạnh. Giá vàng thế giới đã phản ứng ngay lập tức khi Mỹ công bố ông Donald Trump thắng cử Tổng thống.

Trước đó, một số thông tin phân tích cho rằng những chính sách khi ông Trump lên cầm quyền sẽ không hỗ trợ cho vàng. Cụ thể là khả năng chính trị sẽ giảm bất ổn, lúc này vàng không còn là kênh phòng ngừa rủi ro. Chính vì vậy khi kết quả bầu cử Tổng thống Mỹ được công bố, một lực bán tháo vàng trên thị trường thế giới diễn ra khá mạnh trong phiên ngày 7/11 đã "thổi bay" gần 80 USD mỗi ounce. Giá vàng thế giới trong phiên ngày 8/11 giảm về mức cuối tuần 2.707,2 USD/ounce giảm 39 USD/ounce so với cuối tuần trước.

Ngân hàng Nhà nước tiếp tục bơm thanh khoản, giá vàng “lao dốc”
Giá vàng có một tuần giảm mạnh về mức thấp nhất ba tuần. Ảnh: T.L

Cùng chiều với giá vàng thế giới, giá vàng trong nước cũng “rơi tự do” về mức thấp nhấp ba tuần. Giá vàng miếng SJC trong nước ngày 8/11 giữ ở mức 85,5 triệu đồng/lượng ở chiều bán ra và 81,5 triệu đồng/lượng ở chiều mua vào, giảm 4,5 triệu đồng/ lượng so với tuần trước đó.

Giá vàng ngày 8/11 tại các ngân hàng Agribank, BIDV, Vietcombank, VietinBank và các công ty vàng bạc đá quý bán ra ở mức 85,5 triệu đồng/lượng. Ở chiều mua, giá vàng các thương hiệu được niêm yết ở mức 81 triệu đồng/lượng.

Trong khi đó, giá vàng nhẫn tròn trơn cũng giảm mạnh về mức 84 triệu đồng/lượng. Tại thời điểm đầu giờ chiều ngày 8/11, tại DOIJ giá vàng nhẫn niêm yết ở mức 85,15 triệu đồng/lượng bán ra trong khi mua vào ở mức 83,35 triệu đồng/lượng.

Tại Công ty Phú Quý, giá vàng nhẫn niêm yết lên mức 83,4 – 85,4 triệu đồng/lượng mua vào - bán ra. Tại Bảo Tín Minh Châu, giá vàng nhẫn ở mức 83,32 triệu đồng/lượng mua vào trong khi giá bán ra là 85,12 triệu đồng/lượng. Như vậy, so với cuối tuần trước giá vàng nhẫn đã giảm khoảng 4-5 triệu đồng/lượng.

Tỷ giá tăng mạnh vào cuối tuần

Tỷ giá trung tâm đã hôm đầu tuần ngày 4/11 ghi nhận ở mức 24.242 đồng/USD, không đổi so với cuối tuần trước. Tuy nhiên, NHNN đã điều chỉnh tăng tỷ giá vào hôm thứ Ba sau đó giảm nhẹ vào hôm thứ Tư, những phiên còn lại của tuần NHNN tiếp tục điều chỉnh tỷ giá tăng. Chốt hôm cuối tuần, tỷ giá trung tâm được NHNN công bố ghi nhận ở mức 24.283 đồng/USD, giảm 41 đồng/USD so với hôm đầu tuần.

Tỷ giá USD/VND niêm yết tại các ngân hàng cũng giảm nhẹ. Tuần qua, tỷ giá bán ra tại Vietcombank hôm thứ Hai đầu tuần là 25.454 đồng/USD không đổi so với cuối tuần trước. Sau đó, Vietcombank tiếp tục tăng nhẹ tỷ giá bán ra vào hôm thứ Ba, rồi giảm vào hôm thứ Tư, sau đó tăng trong những ngày còn lại của tuần. Tại thời điểm cuối tuần, tỷ giá bán ra tại Vietcombank là 25.497 đồng/USD, tăng 43 đồng/USD so với hôm đầu tuần.

Nhận định về tỷ giá trong thời gian tới, Chứng khoán MBS cho rằng áp lực tỷ giá sẽ sớm hạ nhiệt do đợt biến động này chủ yếu chịu tác động của yếu tố mùa vụ. Bên cạnh đó, việc Fed sẽ tiếp tục chu kỳ giảm lãi suất và các biện pháp can thiệp kịp thời của Ngân hàng Nhà nước cũng sẽ hỗ trợ kiềm chế việc áp lực tỷ giá gia tăng.

Mai Tấn

Đọc thêm

Lãnh đạo PJICO lý giải kế hoạch "đi chậm mà chắc", dành 70% lợi nhuận trả cổ tức tiền mặt

Lãnh đạo PJICO lý giải kế hoạch "đi chậm mà chắc", dành 70% lợi nhuận trả cổ tức tiền mặt

(TBTCO) - PJICO đặt kế hoạch năm 2026 với doanh thu phí bảo hiểm 5.238 tỷ đồng, tăng 8% và phấn đấu 10%, lợi nhuận trước thuế 324,5 tỷ đồng, tăng 6% và hướng tới 8%; chia cổ tức bằng tiền mặt 12%. Trước kỳ vọng tăng trưởng hai con số từ cổ đông, lãnh đạo PJICO nhấn mạnh, chiến lược của PJICO là phát triển an toàn, bền vững và hiệu quả, không đặt trọng tâm vào tăng trưởng về doanh thu, trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt và còn nhiều rủi ro.
Mastercard thúc đẩy thương mại ứng dụng AI với các giao dịch qua tác nhân AI có xác thực đầu tiên tại Việt Nam

Mastercard thúc đẩy thương mại ứng dụng AI với các giao dịch qua tác nhân AI có xác thực đầu tiên tại Việt Nam

(TBTCO) - Mastercard vừa công bố hoàn tất thành công chương trình thí điểm triển khai các giao dịch qua tác nhân AI (agentic transaction) có xác thực đầu tiên tại Việt Nam. Đây là một bước tiến quan trọng cho hệ sinh thái kỹ thuật số của quốc gia.
Tỷ giá USD hôm nay (15/4): Tỷ giá trung tâm giảm nhẹ còn 25.103 đồng, DXY lùi về vùng 98 điểm

Tỷ giá USD hôm nay (15/4): Tỷ giá trung tâm giảm nhẹ còn 25.103 đồng, DXY lùi về vùng 98 điểm

(TBTCO) - Sáng ngày 15/4, tỷ giá trung tâm giảm nhẹ 3 đồng về 25.103 VND/USD, trong khi thị trường tự do giữ ổn định quanh 26.860 - 26.910 VND/USD. Đồng USD suy yếu trên thị trường quốc tế khi chỉ số DXY lùi về vùng 98 điểm, trong bối cảnh kỳ vọng nối lại đàm phán Mỹ - Iran và bất định chính sách Fed, qua đó hỗ trợ EUR, GBP phục hồi nhẹ.
Cục Thuế phối hợp cùng ABBank đồng hành hỗ trợ hộ kinh doanh tuân thủ pháp luật thuế

Cục Thuế phối hợp cùng ABBank đồng hành hỗ trợ hộ kinh doanh tuân thủ pháp luật thuế

(TBTCO) - Chiều ngày 14/4, Cục Thuế và Ngân hàng TMCP An Bình (ABBank) tổ chức Lễ ký kết hợp tác nhằm đồng hành hỗ trợ hộ kinh doanh chuyển đổi từ thuế khoán sang kê khai. Chương trình được tổ chức trực tiếp kết hợp trực tuyến tại các chi nhánh ABBank ở 22 tỉnh, thành phố.
Ngân hàng Nhà nước đã tiếp nhận 11 hồ sơ đề nghị cấp phép sản xuất vàng miếng từ doanh nghiệp và ngân hàng

Ngân hàng Nhà nước đã tiếp nhận 11 hồ sơ đề nghị cấp phép sản xuất vàng miếng từ doanh nghiệp và ngân hàng

(TBTCO) - Tại họp báo chiều ngày 14/4, Cục trưởng Cục Quản lý ngoại hối Đào Xuân Tuấn cho biết, Ngân hàng Nhà nước đã tiếp nhận 11 hồ sơ đề nghị cấp phép sản xuất vàng miếng từ doanh nghiệp và ngân hàng; đồng thời, đang phối hợp các bộ, ngành xem xét các đơn vị có đủ điều kiện.
Việt Nam - Australia hợp tác thúc đẩy tiến trình chuyển đổi ngân hàng số

Việt Nam - Australia hợp tác thúc đẩy tiến trình chuyển đổi ngân hàng số

(TBTCO) - Cơ quan Thương mại và Đầu tư Australia (Austrade) dẫn đầu phái đoàn gồm 9 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghệ tài chính (fintech) và công nghệ quản lý, tuân thủ (regtech) của Australia đến Việt Nam, để tìm hiểu sâu về xu hướng chuyển đổi số của các ngân hàng và giới thiệu năng lực, tìm kiếm cơ hội hợp tác tại thị trường Việt Nam.
Đồng loạt 26 ngân hàng giảm lãi suất, tín dụng tăng 3,18% sau quý I/2026

Đồng loạt 26 ngân hàng giảm lãi suất, tín dụng tăng 3,18% sau quý I/2026

(TBTCO) - Thông tin từ họp báo của Ngân hàng Nhà nước cho thấy, ngay sau cuộc họp với tân Thống đốc, khoảng 26 ngân hàng thương mại đã đồng loạt giảm lãi suất niêm yết trên cả kênh trực tiếp và trực tuyến. Tín dụng toàn hệ thống tiếp tục tăng tốc, dư nợ đến cuối tháng 3/2026 vượt 19,18 triệu tỷ đồng, tăng 3,18% so với cuối năm 2025.
Prudential Việt Nam chi trả 16.489 tỷ đồng quyền lợi bảo hiểm: Giữ trọn niềm tin khách hàng khi cần nhất

Prudential Việt Nam chi trả 16.489 tỷ đồng quyền lợi bảo hiểm: Giữ trọn niềm tin khách hàng khi cần nhất

(TBTCO) - Prudential Việt Nam ghi nhận tổng chi phí bồi thường và chi trả quyền lợi bảo hiểm khác lên tới 16.489 tỷ đồng trong năm 2025, thể hiện năng lực thực hiện cam kết với khách hàng vào những thời điểm quan trọng nhất một cách mạnh mẽ. Đây được xem là yếu tố then chốt giúp nâng cao niềm tin trong bối cảnh thị trường bảo hiểm ngày càng đề cao tính minh bạch và trải nghiệm thực tế.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,980 ▼70K 17,280 ▼20K
Kim TT/AVPL 16,980 ▼30K 17,280 ▼30K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,980 ▼20K 17,280 ▼20K
Nguyên Liệu 99.99 15,530 ▼70K 15,730 ▼70K
Nguyên Liệu 99.9 15,480 ▼70K 15,680 ▼70K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,440 ▲30K 16,840 ▲30K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,390 ▲30K 16,790 ▲30K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,320 ▲30K 16,770 ▲30K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 170,000 ▲300K 173,000 ▲300K
Hà Nội - PNJ 170,000 ▲300K 173,000 ▲300K
Đà Nẵng - PNJ 170,000 ▲300K 173,000 ▲300K
Miền Tây - PNJ 170,000 ▲300K 173,000 ▲300K
Tây Nguyên - PNJ 170,000 ▲300K 173,000 ▲300K
Đông Nam Bộ - PNJ 170,000 ▲300K 173,000 ▲300K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,000 17,350 ▲50K
Miếng SJC Nghệ An 17,000 17,350 ▲50K
Miếng SJC Thái Bình 17,000 17,350 ▲50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,000 ▲30K 17,300 ▲30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,000 ▲30K 17,300 ▲30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,000 ▲30K 17,300 ▲30K
NL 99.90 15,450 ▼180K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,500 ▼180K
Trang sức 99.9 16,490 ▲30K 17,190 ▲30K
Trang sức 99.99 16,500 ▲30K 17,200 ▲30K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 170 ▼1535K 1,735 ▲1562K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 170 ▼1535K 17,352 ▲50K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 170 ▼1535K 17,353 ▲50K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,697 ▼5K 1,732 ▲5K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,697 ▼5K 1,733 ▲5K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,677 ▼5K 1,717 ▲5K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 1,635 ▼161370K 170 ▼169335K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 120,038 ▲375K 128,938 ▲375K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 108,018 ▲340K 116,918 ▲340K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 95,997 ▲305K 104,897 ▲305K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 91,361 ▲82254K 100,261 ▲90264K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,856 ▲208K 71,756 ▲208K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 170 ▼1535K 1,735 ▲1562K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 170 ▼1535K 1,735 ▲1562K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 170 ▼1535K 1,735 ▲1562K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 170 ▼1535K 1,735 ▲1562K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 170 ▼1535K 1,735 ▲1562K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 170 ▼1535K 1,735 ▲1562K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 170 ▼1535K 1,735 ▲1562K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 170 ▼1535K 1,735 ▲1562K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 170 ▼1535K 1,735 ▲1562K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 170 ▼1535K 1,735 ▲1562K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 170 ▼1535K 1,735 ▲1562K
Cập nhật: 15/04/2026 19:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18266 18541 19122
CAD 18589 18866 19479
CHF 33025 33411 34061
CNY 0 3800 3870
EUR 30386 30661 31686
GBP 34881 35274 36208
HKD 0 3230 3432
JPY 158 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 15224 15809
SGD 20156 20439 20967
THB 735 798 852
USD (1,2) 26066 0 0
USD (5,10,20) 26107 0 0
USD (50,100) 26136 26155 26358
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,150 26,150 26,358
USD(1-2-5) 25,104 - -
USD(10-20) 25,104 - -
EUR 30,589 30,613 31,864
JPY 161.7 161.99 170.64
GBP 35,153 35,248 36,226
AUD 18,509 18,576 19,151
CAD 18,819 18,879 19,445
CHF 33,375 33,479 34,235
SGD 20,334 20,397 21,064
CNY - 3,798 3,917
HKD 3,303 3,313 3,429
KRW 16.47 17.18 18.58
THB 783.69 793.37 844.87
NZD 15,239 15,380 15,731
SEK - 2,823 2,904
DKK - 4,093 4,209
NOK - 2,751 2,833
LAK - 0.91 1.26
MYR 6,240.42 - 7,003.82
TWD 753.82 - 906.6
SAR - 6,920.85 7,241.78
KWD - 83,916 88,696
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,108 26,138 26,358
EUR 30,482 30,604 31,789
GBP 35,105 35,246 36,258
HKD 3,292 3,305 3,420
CHF 33,117 33,250 34,194
JPY 161.80 162.45 169.77
AUD 18,406 18,480 19,073
SGD 20,352 20,434 21,019
THB 803 806 841
CAD 18,777 18,852 19,423
NZD 15,288 15,822
KRW 17.14 18.83
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26222 26222 26358
AUD 18446 18546 19472
CAD 18761 18861 19875
CHF 33264 33294 34873
CNY 3800 3825 3960.5
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30566 30596 32321
GBP 35176 35226 36986
HKD 0 3355 0
JPY 162.12 162.62 173.16
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.2 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2772 0
NZD 0 15324 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2850 0
SGD 20311 20441 21172
THB 0 763.9 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 17000000 17000000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,150 26,200 26,358
USD20 26,150 26,200 26,358
USD1 23,848 26,200 26,358
AUD 18,461 18,561 19,678
EUR 30,744 30,744 32,171
CAD 18,717 18,817 20,133
SGD 20,403 20,553 21,780
JPY 162.64 164.14 168.78
GBP 35,127 35,477 36,362
XAU 16,998,000 0 17,302,000
CNY 0 3,712 0
THB 0 804 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 15/04/2026 19:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80