Ngân hàng Nhà nước tiếp tục bơm thanh khoản, giá vàng “lao dốc”

Mai Tấn
(TBTCO) - Trong bối cảnh giá USD niêm yết tại các ngân hàng đã liên tục tăng suốt hai tuần qua và đã tăng 4,3% kể từ đầu năm. Giá USD trên thị trường tự do cũng đã gần chạm mức 25.900 đồng/USD, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã tăng cường hỗ trợ thanh khoản hệ thống thông qua nghiệp vụ thị trường mở. Trong khi đó, thị trường vàng sau khi tăng nóng đã có một tuần “lao dốc” giảm mạnh.
aa
Thị trường tiền tệ tuần 29/7 – 2/8: Nhiều ngân hàng báo lãi kỷ lục, tỷ giá giảm mạnh vào cuối tuần Thị trường tiền tệ tuần 7-11/10: Ngân hàng Nhà nước hút ròng trên thị trường mở, tỷ giá nhích tăng, giá vàng nhẫn giảm sức “nóng”

Ngân hàng Nhà nước tiếp tục bơm thanh khoản

Trong những ngày đầu tháng 11/2024, thị trường ghi nhận mặt bằng lãi suất VND liên ngân hàng tăng so với mức giao dịch bình quân khá thấp trong tháng 10. Đồng thời, tỷ giá USD/VND trong vài tuần qua tăng trở lại, gần đạt mức cao nhất vào thời điểm giữa năm nay.

Trong bối cảnh trên, NHNN đã tăng cường hỗ trợ thanh khoản hệ thống bằng nghiệp vụ thị trường mở. Cụ thể, trong phiên ngày 4/11 trên kênh cho vay cầm cố giấy tờ có giá (OMO), NHNN chào thầu 30.000 tỷ đồng, kỳ hạn 7 ngày, lãi suất ở mức 4,0%. Có hơn 29.999 tỷ đồng trúng thầu. Ngược lại, có 10.000 tỷ đồng đáo hạn trên kênh cầm cố.

Mặt khác NHNN tiếp tục chào thầu tín phiếu ở kỳ hạn 28 ngày, đấu thầu lãi suất. Có 300 tỷ đồng trúng thầu, lãi suất giữ ở mức 3,90%. Có 3.900 tỷ đồng tín phiếu đáo hạn. Như vậy, NHNN bơm ròng hơn 23.599 tỷ đồng ra thị trường qua kênh thị trường mở.

Tiếp đó, trong phiên giao dịch 5/11, NHNN tiếp tục duy trì trạng thái bơm ròng thanh khoản cho hệ thống ngân hàng. Cụ thể, trên kênh cầm cố, NHNN chào thầu 20.000 tỷ đồng, kỳ hạn 7 ngày, lãi suất ở mức 4,0%/năm, đấu thầu khối lượng. Có hơn 19.999 tỷ đồng trúng thầu và hơn 14.999 tỷ đồng đáo hạn trên kênh cầm cố; tương ứng mức bơm ròng gần 5.000 tỷ đồng.

Trên kênh tín phiếu, NHNN chào thầu ở kỳ hạn 28 ngày theo hình thức đấu thầu lãi suất. Có 600 tỷ đồng trúng thầu, lãi suất giữ ở mức 3,9%/năm và có 3.600 tỷ đồng tín phiếu đáo hạn; tương ứng mức bơm ròng 3.000 tỷ đồng. Như vậy, NHNN bơm ròng 8.000 tỷ đồng cho hệ thống ngân hàng qua 2 kênh OMO và tín phiếu.

Ngân hàng Nhà nước tiếp tục bơm thanh khoản, giá vàng “lao dốc”
Nhiều ngân hàng hạ lãi suất, tỷ giá diễn biến trái chiều. Ảnh: TL minh hoạ.

FED giảm lãi suất lần thứ 2 trong năm

Sau cuộc họp kéo dài hai ngày, ngày 7/11, Cục dự trữ Liên bang Mỹ (FED) vừa quyết định hạ lãi suất thêm 0,25 điểm đưa lãi suất liên bang xuống phạm vi 4,5-4,75%.

Trước đó vào tháng 9, FED đã thực hiện đợt hạ lãi suất đầu tiên kể từ đại dịch Covid-19 với mức giảm 0,5%./.

Trong phiên ngày 6/11, trên kênh cầm cố, NHNN chào thầu 15.000 tỷ đồng, kỳ hạn 7 ngày, lãi suất ở mức 4,0%. Có hơn 14.999 tỷ đồng trúng thầu. Có 3.000 tỷ đồng đáo hạn trên kênh cầm cố.

NHNN chào thầu tín phiếu NHNN ở kỳ hạn 28 ngày, đấu thầu lãi suất. Có 600 tỷ đồng trúng thầu, lãi suất giữ ở mức 3,90%. Có 3.300 tỷ đồng tín phiếu đáo hạn. Như vậy, NHNN bơm ròng hơn 14.699 tỷ đồng ra thị trường qua kênh thị trường mở. Hoạt động này tiếp tục được diễn ra tại các phiên còn lại trong tuần.

Giới chuyên môn nhận định động thái chính sách của NHNN được xem là bước đi chiến lược để kiểm soát tỷ giá USD/VND, nhằm bảo đảm tính ổn định của thị trường tiền tệ trong bối cảnh thị trường thế giới có nhiều biến động. Động thái bơm thanh khoản này không chỉ là biện pháp tức thời mà còn thể hiện cam kết mạnh mẽ của NHNN trong việc hỗ trợ hệ thống tài chính duy trì sự ổn định dài hạn.

Giá vàng “rơi tự do” về mức thấp nhất ba tuần

Chỉ số DXY có xu tăng trở lại

Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY đo lường sức mạnh của đồng Đô la Mỹ có xu hướng tăng trở lại trong tuần qua. Tại thời điểm chiều ngày 8/11 theo giờ Việt Nam, chỉ số DXY ghi nhận ở mức khoảng 104,46 điểm, tăng mạnh so mức điểm của chỉ số này trước đó 1 tuần.

Thị trường vàng trong nước và thế giới đã có một tuần biến động mạnh khi giá vàng “lao dốc” sau một thời gian tăng mạnh. Giá vàng thế giới đã phản ứng ngay lập tức khi Mỹ công bố ông Donald Trump thắng cử Tổng thống.

Trước đó, một số thông tin phân tích cho rằng những chính sách khi ông Trump lên cầm quyền sẽ không hỗ trợ cho vàng. Cụ thể là khả năng chính trị sẽ giảm bất ổn, lúc này vàng không còn là kênh phòng ngừa rủi ro. Chính vì vậy khi kết quả bầu cử Tổng thống Mỹ được công bố, một lực bán tháo vàng trên thị trường thế giới diễn ra khá mạnh trong phiên ngày 7/11 đã "thổi bay" gần 80 USD mỗi ounce. Giá vàng thế giới trong phiên ngày 8/11 giảm về mức cuối tuần 2.707,2 USD/ounce giảm 39 USD/ounce so với cuối tuần trước.

Ngân hàng Nhà nước tiếp tục bơm thanh khoản, giá vàng “lao dốc”
Giá vàng có một tuần giảm mạnh về mức thấp nhất ba tuần. Ảnh: T.L

Cùng chiều với giá vàng thế giới, giá vàng trong nước cũng “rơi tự do” về mức thấp nhấp ba tuần. Giá vàng miếng SJC trong nước ngày 8/11 giữ ở mức 85,5 triệu đồng/lượng ở chiều bán ra và 81,5 triệu đồng/lượng ở chiều mua vào, giảm 4,5 triệu đồng/ lượng so với tuần trước đó.

Giá vàng ngày 8/11 tại các ngân hàng Agribank, BIDV, Vietcombank, VietinBank và các công ty vàng bạc đá quý bán ra ở mức 85,5 triệu đồng/lượng. Ở chiều mua, giá vàng các thương hiệu được niêm yết ở mức 81 triệu đồng/lượng.

Trong khi đó, giá vàng nhẫn tròn trơn cũng giảm mạnh về mức 84 triệu đồng/lượng. Tại thời điểm đầu giờ chiều ngày 8/11, tại DOIJ giá vàng nhẫn niêm yết ở mức 85,15 triệu đồng/lượng bán ra trong khi mua vào ở mức 83,35 triệu đồng/lượng.

Tại Công ty Phú Quý, giá vàng nhẫn niêm yết lên mức 83,4 – 85,4 triệu đồng/lượng mua vào - bán ra. Tại Bảo Tín Minh Châu, giá vàng nhẫn ở mức 83,32 triệu đồng/lượng mua vào trong khi giá bán ra là 85,12 triệu đồng/lượng. Như vậy, so với cuối tuần trước giá vàng nhẫn đã giảm khoảng 4-5 triệu đồng/lượng.

Tỷ giá tăng mạnh vào cuối tuần

Tỷ giá trung tâm đã hôm đầu tuần ngày 4/11 ghi nhận ở mức 24.242 đồng/USD, không đổi so với cuối tuần trước. Tuy nhiên, NHNN đã điều chỉnh tăng tỷ giá vào hôm thứ Ba sau đó giảm nhẹ vào hôm thứ Tư, những phiên còn lại của tuần NHNN tiếp tục điều chỉnh tỷ giá tăng. Chốt hôm cuối tuần, tỷ giá trung tâm được NHNN công bố ghi nhận ở mức 24.283 đồng/USD, giảm 41 đồng/USD so với hôm đầu tuần.

Tỷ giá USD/VND niêm yết tại các ngân hàng cũng giảm nhẹ. Tuần qua, tỷ giá bán ra tại Vietcombank hôm thứ Hai đầu tuần là 25.454 đồng/USD không đổi so với cuối tuần trước. Sau đó, Vietcombank tiếp tục tăng nhẹ tỷ giá bán ra vào hôm thứ Ba, rồi giảm vào hôm thứ Tư, sau đó tăng trong những ngày còn lại của tuần. Tại thời điểm cuối tuần, tỷ giá bán ra tại Vietcombank là 25.497 đồng/USD, tăng 43 đồng/USD so với hôm đầu tuần.

Nhận định về tỷ giá trong thời gian tới, Chứng khoán MBS cho rằng áp lực tỷ giá sẽ sớm hạ nhiệt do đợt biến động này chủ yếu chịu tác động của yếu tố mùa vụ. Bên cạnh đó, việc Fed sẽ tiếp tục chu kỳ giảm lãi suất và các biện pháp can thiệp kịp thời của Ngân hàng Nhà nước cũng sẽ hỗ trợ kiềm chế việc áp lực tỷ giá gia tăng.

Mai Tấn

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (4/7): DXY mất đà, USD ngân hàng bán ra vẫn kịch trần

Tỷ giá USD hôm nay (4/7): DXY mất đà, USD ngân hàng bán ra vẫn kịch trần

(TBTCO) - Sáng 4/7, tỷ giá trung tâm giảm 2 đồng, xuống 25.203 đồng, nhưng tính chung cả tuần qua vẫn tăng 8 đồng, đánh dấu tuần tăng thứ 8 liên tiếp; tỷ giá USD ngân hàng bán ra vẫn neo kịch trần. Trong khi đó, chỉ số DXY chốt tuần ở 100,87 điểm, giảm 0,48% so với tuần trước, phản ánh đà suy yếu của đồng USD khi kỳ vọng về việc Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) thắt chặt chính sách tiền tệ đã giảm bớt.
Thị trường tiền tệ tuần 29/6 - 3/7: Tỷ giá trung tâm leo dốc tuần thứ 8, lãi suất qua đêm vượt 12%

Thị trường tiền tệ tuần 29/6 - 3/7: Tỷ giá trung tâm leo dốc tuần thứ 8, lãi suất qua đêm vượt 12%

(TBTCO) - Lãi suất liên ngân hàng qua đêm trong tuần qua (29/6 - 3/7) có thời điểm vọt lên 12,49%/năm, buộc Ngân hàng Nhà nước tức tốc bơm thanh khoản hơn 9.547 tỷ đồng qua kênh OMO. Dù vậy, chênh lệch lãi suất VND - USD vẫn dương để hỗ trợ tỷ giá, trong bối cảnh tỷ giá trung tâm tăng tuần thứ 8 liên tiếp.
Tiền gửi Kho bạc thành “phao” thanh khoản ngân hàng, nhưng vẫn cần thêm giải pháp hỗ trợ

Tiền gửi Kho bạc thành “phao” thanh khoản ngân hàng, nhưng vẫn cần thêm giải pháp hỗ trợ

Tiền gửi Kho bạc Nhà nước đạt 626,7 nghìn tỷ đồng tại các tổ chức tín dụng cuối tháng 3/2026, trở thành "điểm tựa" thanh khoản hệ thống. Tuy nhiên, các chuyên gia của VDSC cho rằng, việc nới tỷ lệ LDR, tính thêm 20% tiền gửi Kho bạc và nới tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn vẫn chưa đủ để hạ nhiệt lãi suất, cần thêm giải pháp hỗ trợ thanh khoản.
Lương hưu tăng 8% đến tay người hưởng ngay từ đầu tháng 7

Lương hưu tăng 8% đến tay người hưởng ngay từ đầu tháng 7

Ngay trong những ngày đầu tháng 7/2026, khoảng 3,5 triệu người hưởng lương hưu và trợ cấp bảo hiểm xã hội trên cả nước đã được nhận mức hưởng mới tăng 8% theo quy định của Chính phủ. Việc chi trả được triển khai nhanh chóng, kịp thời, đặc biệt với hình thức chuyển khoản, góp phần mang lại sự thuận tiện và niềm vui cho người hưởng.
Bảo hiểm xã hội Việt Nam bảo đảm chi trả kịp thời khi lương hưu, trợ cấp tăng từ ngày 1/7

Bảo hiểm xã hội Việt Nam bảo đảm chi trả kịp thời khi lương hưu, trợ cấp tăng từ ngày 1/7

(TBTCO) - Bảo hiểm xã hội Việt Nam chỉ đạo bảo hiểm xã hội các địa phương phối hợp chặt chẽ với các đơn vị cung ứng dịch vụ chi trả và các ngân hàng để bảo đảm người hưởng chế độ hưu trí, trợ cấp bảo hiểm xã hội nhận đúng, nhận đủ chế độ theo mức mới ngay từ những ngày đầu tiên của kỳ chi trả tháng 7/2026.
Tăng trưởng tín dụng đi đôi với chất lượng, hỗ trợ thanh khoản kịp thời nhờ đa dạng công cụ

Tăng trưởng tín dụng đi đôi với chất lượng, hỗ trợ thanh khoản kịp thời nhờ đa dạng công cụ

Ngân hàng Nhà nước phấn đấu tăng trưởng tín dụng cả năm đạt khoảng 15%, góp phần hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, nhưng vẫn đảm bảo lạm phát trong tầm kiểm soát. Thống đốc lưu ý, tăng trưởng tín dụng phải đi đôi với chất lượng, hiệu quả, an toàn, Ngân hàng Nhà nước chủ động nghiên cứu, sử dụng đa dạng các công cụ để kịp thời hỗ trợ thanh khoản cho các tổ chức tín dụng.
Bảo Việt đứng đầu Top 10 thương hiệu mạnh nhất Việt Nam năm 2026 do Brand Finance công bố

Bảo Việt đứng đầu Top 10 thương hiệu mạnh nhất Việt Nam năm 2026 do Brand Finance công bố

(TBTCO) - Brand Finance - công ty tư vấn định giá thương hiệu (London, Anh) chính thức công bố danh sách Top 100 thương hiệu giá trị nhất Việt Nam. Theo đó Bảo Việt là doanh nghiệp nhóm ngành bảo hiểm được ghi nhận ở thứ hạng cao nhất.
Một thập kỷ giữ cam kết, vun bồi niềm tin và đồng hành cùng khách hàng xây dựng hạnh phúc

Một thập kỷ giữ cam kết, vun bồi niềm tin và đồng hành cùng khách hàng xây dựng hạnh phúc

(TBTCO) - Ngày 2/7/2026, Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ MB Ageas (MB Life) đã tổ chức Lễ kỷ niệm 10 năm thành lập (2016 - 2026). Nhân dịp này, MB Life vinh dự đón nhận Bằng khen của Chủ tịch UBND TP. Hà Nội, ghi nhận những thành tích trong thực hiện nhiệm vụ góp phần vào sự nghiệp xây dựng và phát triển kinh tế-xã hội của Thủ đô.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,840 15,140
Kim TT/AVPL 14,840 15,140
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,840 15,140
Nguyên Liệu 99.99 13,600 13,800
Nguyên Liệu 99.9 13,550 13,750
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 14,100 14,600
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 14,050 14,550
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,980 14,530
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 148,400 151,400
Hà Nội - PNJ 148,400 151,400
Đà Nẵng - PNJ 148,400 151,400
Miền Tây - PNJ 148,400 151,400
Tây Nguyên - PNJ 148,400 151,400
Đông Nam Bộ - PNJ 148,400 151,400
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,840 15,140
Miếng SJC Nghệ An 14,840 15,140
Miếng SJC Thái Bình 14,840 15,140
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,790 ▲40K 15,140 ▲40K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,790 ▲40K 15,140 ▲40K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,790 ▲40K 15,140 ▲40K
NL 99.90 13,050
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,100
Trang sức 99.9 14,330 ▲40K 15,030 ▲40K
Trang sức 99.99 14,340 ▲40K 15,040 ▲40K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,484 15,142
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,484 15,143
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,483 1,513
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,483 1,514
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,463 1,498
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 141,317 148,317
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 103,011 112,511
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 92,524 102,024
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 82,037 91,537
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 77,992 87,492
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 53,123 62,623
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Cập nhật: 04/07/2026 18:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17714 17987 18563
CAD 17986 18261 18878
CHF 32079 32461 33102
CNY 0 3836 3930
EUR 29433 29654 30740
GBP 34300 34691 35629
HKD 0 3221 3424
JPY 156 160 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14698 15294
SGD 19814 20096 20672
THB 707 771 825
USD (1,2) 26026 0 0
USD (5,10,20) 26067 0 0
USD (50,100) 26096 26110 26463
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,083 26,083 26,463
USD(1-2-5) 25,040 - -
USD(10-20) 25,040 - -
EUR 29,630 29,654 31,066
JPY 159.14 159.43 169.03
GBP 34,556 34,650 35,845
AUD 17,937 18,002 18,679
CAD 18,223 18,282 18,956
CHF 32,423 32,524 33,481
SGD 19,968 20,030 20,819
CNY - 3,806 3,951
HKD 3,286 3,296 3,434
KRW 15.88 16.56 18.02
THB 756.58 765.92 819.7
NZD 14,728 14,865 15,307
SEK - 2,683 2,778
DKK - 3,964 4,103
NOK - 2,637 2,730
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,044.26 - 6,822.81
TWD 743.74 - 900.92
SAR - 6,885.97 7,252.22
KWD - 83,123 88,435
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,083 26,103 26,463
EUR 29,501 29,619 30,812
GBP 34,480 34,618 35,647
HKD 3,284 3,297 3,414
CHF 32,163 32,292 33,226
JPY 158.96 159.60 167.50
AUD 17,863 17,935 18,529
SGD 20,003 20,083 20,670
THB 773 776 812
CAD 18,203 18,276 18,845
NZD 14,742 15,279
KRW 16.34 17.96
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26095 26095 26463
AUD 17889 17989 18914
CAD 18186 18286 19302
CHF 32338 32368 33950
CNY 3816.3 3841.3 3976.8
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29641 29671 31394
GBP 34613 34663 36421
HKD 0 3355 0
JPY 159.72 160.22 170.74
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.6 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14821 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19986 20116 20847
THB 0 738.4 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14840000 14840000 15140000
SBJ 13000000 13000000 15140000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,100 26,150 26,463
USD20 26,100 26,150 26,463
USD1 26,100 26,150 26,463
AUD 17,926 18,026 19,164
EUR 29,701 29,771 31,222
CAD 18,122 18,222 19,556
SGD 20,056 20,206 20,789
JPY 160.12 161.62 166.39
GBP 34,481 34,831 35,753
XAU 14,838,000 0 15,142,000
CNY 0 3,724 0
THB 0 773 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 04/07/2026 18:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80