Ngân hàng tích cực hút thêm vốn dài hạn

Minh Tuấn
(TBTCO) - Các ngân hàng tích cực huy động vốn dài hạn, trong bối cảnh tiền gửi từ dân cư tăng chậm, nhằm mở rộng dư địa cấp tín dụng, cân bằng một số chỉ tiêu kiểm soát rủi ro.
aa

Ngân hàng hút vốn dài hạn

Hai tuần đầu tháng 1/2025, Ngân hàng TMCP Tiên Phong (TPBank, TPB) và Ngân hàng TMCP Phát triển TP HCM (HDBank, HDB) đã hút hàng nghìn tỷ đồng từ các khoản vay dài hạn và trái phiếu.

Trong đó, TPBank nhận khoản tín dụng 100 triệu USD từ DFC và 120 triệu USD từ JICA, nhằm thực hiện các chương trình tài chính cho nhóm doanh nghiệp vừa và nhỏ, các khách hàng có thu nhập thấp và một phần cho các dự án do phụ nữ lãnh đạo hoặc có ảnh hưởng đến cộng đồng phụ nữ.

Ngân hàng tích cực hút thêm vốn dài hạn
Ảnh minh họa.

HDBank vừa phát hành thành công 3.000 tỷ đồng trái phiếu xanh trong tuần đầu năm 2025, với các kỳ hạn 2 năm, 3 năm và 5 năm. Đợt phát hành nhằm tạo nguồn vốn trung dài hạn cho các dự án hướng đến môi trường và phát triển kinh tế xanh.

Riêng tháng cuối cùng của năm 2024, nhiều ngân hàng cấp tập phát hành trái phiếu kỳ hạn dài với quy mô hàng nghìn tỷ đồng.

Đơn cử, ACB phát hành thành công lô trái phiếu thứ 16 trong năm 2024, thu về 250 tỷ đồng, với kỳ hạn 5 năm, lãi suất 6,1%/năm. MB là một trong những nhà băng có nhiều đợt huy động trái phiếu trong tháng cuối năm 2024 khi phát hành 6 đợt, huy động 2.200 tỷ đồng. VIB công bố phát hành thành công ba lô trái phiếu kỳ hạn 3 năm, quy mô 6.000 tỷ đồng.

Trong năm 2024, ngành ngân hàng cũng giữ ngôi vương về phát hành trái phiếu doanh nghiệp, chiếm áp đảo gần 70% tổng giá trị phát hành, với mức tăng khoảng 130% so với cùng kỳ, theo thống kê của FiinRatings. Số liệu từ Công ty Chứng khoán MB (MBS) cũng cho thấy, ngân hàng là nhóm ngành có giá trị phát hành cao nhất, với một số ngân hàng có giá trị phát hành trái phiếu cao như ACB (36.100 tỷ đồng), HDBank (30.900 tỷ đồng), Techcombank (26.900 tỷ đồng)...

Cân bằng áp lực thanh khoản

Theo giới phân tích, việc huy động nguồn vốn dài hạn qua kênh trái phiếu và các khoản vay từ các tổ chức quốc tế mang lại hai lợi ích, giúp các nhà băng thu hẹp phần nào chênh lệch tăng trưởng huy động - tín dụng từ thị trường và cân bằng tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn.

Năm 2024, tín dụng toàn hệ thống ngân hàng tăng hơn 15%. Tín dụng trước đó chỉ đạt 4,9% vào thời điểm cuối quý III/2024 so với cuối năm 2023, tăng lên 7,36% vào ngày 7/12. Nhưng bất ngờ tăng tốc trong hai tuần cuối năm. Trong khi quy mô tín dụng tăng cao, huy động vốn từ dân cư có mức tăng thấp hơn.

Ngân hàng tích cực hút thêm vốn dài hạn
Tăng trưởng tiền gửi trong năm 2024 đến cuối quý III thấp hơn tăng trưởng tín dụng. Ảnh: ACBS.

Như trường hợp Ngân hàng Kỹ Thương Việt Nam (Techcombank) - một trong những nhà băng đầu tiên công bố báo cáo tài chính năm 2024. Theo đó, dư nợ tín dụng của ngân hàng này (theo báo cáo riêng lẻ) tăng gần 20,7% trong năm 2024, nhưng huy động vốn chỉ tăng hơn 17%.

Theo Công ty Chứng khoán An Bình (ABS), nguyên nhân tăng trưởng huy động thấp là do lãi suất thấp trong khi các thị trường tài sản khác tăng giá, nên dòng tiền một phần chuyển hướng sang các kênh khác như vàng, bất động sản và các kênh đầu tư có hiệu suất sinh lời cao hơn. Đặc biệt, thị trường tiền điện tử cũng sôi động trở lại khi Việt Nam đứng thứ hai thế giới về tỷ lệ sở hữu tiền số (theo thống kê của cổng thanh toán tiền điện tử Tripple-A công bố vào hồi tháng 5/2024).

Bên cạnh đó, nhiều ngân hàng đã gia tăng cho vay ở kỳ hạn dài khiến tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn tăng cao, đồng thời tỷ lệ LDR của nhiều ngân hàng tăng lên so với đầu năm.

Những diễn biến này khiến áp lực huy động vốn trung dài hạn của "giới buôn tiền" thêm căng thẳng. Nhóm phân tích từ MBS cho rằng, các ngân hàng có thể tiếp tục đẩy mạnh phát hành trái phiếu nhằm bổ sung vốn trong năm 2025, để đáp ứng nhu cầu cho vay.

Áp lực thanh khoản có thể giảm bớt

Theo Công ty Chứng khoán Á Châu (ACB), áp lực thanh khoản được dự báo giảm dần trong thời gian tới khi Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) nhiều khả năng sẽ cắt giảm lãi suất xuống 4,5% đến cuối năm 2024 và tiếp tục hạ xuống 3,5%-4,25% đến cuối năm 2025. Chính sách áp thuế nhập khẩu của Tổng thống Donald Trump có thể khiến tiến trình kéo giảm lạm phát về mục tiêu 2% chậm hơn và Fed buộc phải neo lãi suất đồng USD ở mức cao lâu hơn dự kiến.

Tuy nhiên, với việc dòng vốn từ xuất siêu, FDI, kiều hối,… ngày càng tăng của Việt Nam, cộng với chênh lệch lãi suất VNĐ-USD hiện không còn đáng kể và lãi suất USD sẽ tiếp tục giảm, nhóm phân tích từ ACBS cho rằng lãi suất huy động tiền đồng sẽ không chịu nhiều áp lực tăng trong năm 2025 và dự báo lãi suất huy động kỳ hạn 1 năm có thể duy trì ổn định quanh mức 5% trong năm 2025.

Minh Tuấn

Đọc thêm

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng ngày 24/3 cho thấy, lãi suất huy động tiếp tục tăng, với 10 ngân hàng nâng lãi suất kỳ hạn 6 tháng và 15 ngân hàng tăng ở kỳ hạn 12 tháng chỉ chưa đầy 1 tháng; mức cao nhất đã chạm 9%/năm. Trước diễn biến này, các ngân hàng lớn đều có dự tính riêng về điều hành chính sách lãi suất, khi dự báo chi phí vốn sẽ chịu áp lực.
Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

Năm 2026, OCB đặt nhiều mục tiêu chiến lược, nổi bật là lợi nhuận trước thuế đạt 6.960 tỷ đồng (tăng 39%); tổng tài sản 354.214 tỷ đồng (tăng 10%). Ngân hàng dự kiến nâng vốn điều lệ lên 30.625 tỷ đồng nhằm mở rộng quy mô, tăng năng lực cạnh tranh; đồng thời, kiện toàn Hội đồng quản trị phục vụ giai đoạn tăng trưởng mới.
Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

(TBTCO) - Ngày 24/3/2026, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) chính thức khai trương trụ sở chính tại tòa nhà số 27 - 29 Lý Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội. Việc đặt trụ sở tại Thủ đô là bước triển khai quan trọng trong định hướng phát triển của ngân hàng đã được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông năm 2025.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngày 24/3, tại Hà Nội, Ngân hàng Đầu tư châu Âu (EIB) và Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã công bố thỏa thuận tài trợ trị giá 200 triệu EUR nhằm đẩy nhanh các dự án hành động vì khí hậu, môi trường và phát triển bền vững trên khắp Việt Nam.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Kim TT/AVPL 16,810 ▼250K 17,110 ▼250K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Nguyên Liệu 99.99 15,950 ▼400K 16,150 ▼400K
Nguyên Liệu 99.9 15,900 ▼400K 16,100 ▼400K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,600 ▼300K 17,000 ▼300K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,550 ▼300K 16,950 ▼300K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,480 ▼300K 16,930 ▼300K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Hà Nội - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đà Nẵng - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Miền Tây - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Tây Nguyên - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đông Nam Bộ - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Nghệ An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Thái Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
NL 99.90 15,820 ▼450K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,850 ▼450K
Trang sức 99.9 16,290 ▼250K 16,990 ▼250K
Trang sức 99.99 16,300 ▼250K 17,000 ▼250K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 168 ▼1537K 17,102 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 168 ▼1537K 17,103 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,678 ▼25K 1,708 ▼25K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,678 ▼25K 1,709 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,658 ▼25K 1,693 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 161,124 ▼2475K 167,624 ▼2475K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 118,238 ▼1875K 127,138 ▼1875K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 106,386 ▼1700K 115,286 ▼1700K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 94,533 ▼1525K 103,433 ▼1525K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 89,962 ▼1457K 98,862 ▼1457K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 61,855 ▼1043K 70,755 ▼1043K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cập nhật: 26/03/2026 14:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17778 18052 18627
CAD 18532 18809 19423
CHF 32618 33002 33637
CNY 0 3470 3830
EUR 29834 30106 31134
GBP 34406 34798 35732
HKD 0 3241 3443
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14965 15552
SGD 20005 20287 20812
THB 720 783 837
USD (1,2) 26078 0 0
USD (5,10,20) 26119 0 0
USD (50,100) 26147 26167 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 14:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80