Nhận diện 4 rủi ro, bất cập từ kênh phân phối bảo hiểm qua ngân hàng

Hồng Vân (ghi)
(TBTCO) - Trao đổi tại diễn đàn kinh tế - tài chính trực tuyến 2022 với chủ đề "Bancassurance: Tiềm năng và thách thức" do TBTCVN phối hợp cùng các đơn vị liên quan tổ chức chiều 27/7, TS. Cấn Văn Lực, chuyên gia kinh tế, thành viên Hội đồng Tư vấn Chính sách tài chính - tiền tệ quốc gia đã chỉ ra 4 rủi ro, bất cập trong hoạt động của kênh phân phối này.
aa
TS. Cấn Văn Lực tham gia trao đổi tại diễn đàn.
TS. Cấn Văn Lực tham gia trao đổi tại diễn đàn.

PV: Bảo hiểm liên kết ngân hàng (bancassurance) ngày càng trở nên phổ biến và quan trọng trên thế giới và Việt Nam, thậm chí ở nhiều thị trường, bancassurance đã trở thành một trong những kênh phân phối sản phẩm bảo hiểm chính. Xin ông chia sẻ cụ thể về sự phát triển của bancassurance thời gian qua?

TS. Cấn Văn Lực: Trên thế giới, thị trường banca có giá trị ước tính vào khoảng 1.270 tỷ USD năm 2019 và dự báo sẽ đạt hơn 1.800 tỷ USD vào năm 2027, tăng khoảng 4,5%/năm (theo báo cáo của Imarc).

Trong đó, bảo hiểm nhân thọ chiếm tới 60% thị phần và bảo hiểm phi nhân thọ là 40% (tính theo giá trị sản phẩm bảo hiểm).

Sự phân hóa này thể hiện khá rõ ràng tại thị trường châu Âu, khi banca là kênh phân phối sản phẩm bảo hiểm nhân thọ chính tại nhiều quốc gia như Bồ Đào Nha (chiếm tới 78% tổng phí bảo hiểm nhân thọ năm 2019) hay Ý (74,3%).

Trong khi đó, ở mảng phi nhân thọ, banca chỉ chiếm một phần nhỏ trong tỷ trọng phí bảo hiểm.

Tại Việt Nam, trong giai đoạn vừa qua, hoạt động banca đã phát triển một cách mạnh mẽ. Theo thống kê của Hiệp hội Bảo hiểm, cả doanh thu và tỷ trọng thu nhập từ banca của doanh nghiệp bảo hiểm ngày một tăng lên, từ 65 nghìn tỷ (chiếm 7,8% doanh thu phí bảo hiểm) năm 2017, lên tới 130 nghìn tỷ (chiếm 18,9%) năm 2020.

Đến năm 2021, doanh thu phí bảo hiểm qua kênh Banca đã chiếm khoảng 39% tổng doanh thu khai thác mới. Trong 6 tháng đầu năm 2022, thị trường Banca tăng trưởng 23% theo báo cáo của Bộ Tài chính.

VIB đạt gần 1.700 tỷ đồng phí dịch vụ bảo hiểm trong năm 2021, chiếm hơn 11% tổng thu nhập hoạt động nhờ thương vụ hợp tác với Prudential; TCB đạt 1.600 tỷ đồng, tăng 88,4% so với năm 2020 nhờ đẩy mạnh hợp tác với Manulife; ACB đạt 1.300 tỷ đồng qua hợp tác với Sunlife…

Về phía các ngân hàng, hoạt động banca đã đóng góp hàng nghìn tỷ đồng vào lợi nhuận trong năm 2021.

Về hình thức hợp tác, bên cạnh việc ký kết các thương vụ hợp tác phân phối bảo hiểm độc quyền (hoạt động đại lý), một số ngân hàng tập trung khai thác mảng bảo hiểm thông qua công ty con, công ty liên doanh, góp vốn.

Đơn cử như BIDV đẩy mạnh mảng bán bảo hiểm thông qua công ty bảo hiểm BIC (bảo hiểm phi nhân thọ), BIDV Metlife (bảo hiểm nhân thọ); MBBank thông qua Công ty bảo hiểm MIC (phi nhân thọ), công ty liên doanh MB ageas (nhân thọ)…

PV: Bên cạnh những mặt tích cực, hoạt động bancassurance tại Việt Nam đã và đang nảy sinh một số rủi ro, bất cập như: Giới hạn về nguồn nhân lực chưa được đào tạo bài bản; đạo đức của nhân viên ngân hàng; rủi ro xung đột lợi ích và tính hiệu quả khi tổ chức tín dụng phân phối sản phẩm bảo hiểm… Xin ông chia sẻ thêm về vấn đề này?

TS. Cấn Văn Lực: Trước hết, ta cần nhận diện 4 rủi ro, bất cập chính.

Đó là chất lượng tư vấn chưa cao do thực trạng hiện nay nhiều cán bộ tư vấn chưa hiểu hết những đặc tính kỹ thuật phức tạp của sản phẩm bảo hiểm, cũng như mức độ ưu tiên công việc khác nhau.

Rủi ro về đạo đức nghề nghiệp cũng có thể xảy ra (ở một số nơi, một số trường hợp xảy ra hiện tượng gượng ép, xung đột lợi ích và tính hiệu quả khi tổ chức tín dụng phân phối sản phẩm bảo hiểm…).

Bên cạnh đó là rủi ro lan truyền (có tính hệ thống), tức là việc xảy ra rủi ro tại 1 công ty bảo hiểm có thể ảnh hưởng đến ngân hàng thương mại với tư cách là đại lý, hay đối tác hay cổ đông chiến lược, hay công ty mẹ và ngược lại.

Ngoài ra là rủi ro về thông tin, dữ liệu còn thiếu trong khi quy định về cho phép chia sẻ thông tin, dữ liệu, công nhận kết quả thẩm định chưa có.

Các diễn giả tham gia trao đổi.
Các diễn giả tham gia trao đổi.

PV: Giải pháp nào để giải quyết những rủi ro này như thế nào, thưa ông?

TS. Cấn Văn Lực: Về giải pháp, cần tập trung vào những bất cập, rủi ro nêu trên.

Một là, cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý, nhất là nghiệp vụ banca (trong cả lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ và phi nhân thọ), quy định rõ quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm của các bên liên quan. Đồng thời, có quy định cho phép cơ chế chia sẻ thông tin, dữ liệu, công nhận kết quả thẩm định, e-KYC, cũng như qui định về bảo mật, bảo vệ thông tin, dữ liệu khách hàng trong trường hợp này.

Hai là, các ngân hàng thương mại và công ty bảo hiểm cần đầu tư nhiều hơn cho việc đào tạo cán bộ về đạo đức nghề nghiệp, kỹ năng giao tiếp, thuyết phục để tránh gây hiểu nhầm, khiến khách hàng cảm thấy không hài lòng hay bị ép buộc mua sản phẩm bảo hiểm. Bên cạnh đó, cũng cần tổ chức các khóa đào tạo nâng cao nghiệp vụ bảo hiểm cho cán bộ ngân hàng. Ngoài ra, cũng cần lưu ý vấn đề bảo mật thông tin khách hàng.

Ba là, ngân hàng thương mại và công ty bảo hiểm cần phối hợp xây dựng các sản phẩm bảo hiểm chuyên biệt, phù hợp với kênh bán qua ngân hàng, nhằm tránh sự cạnh tranh giữa các ngân hàng và các doanh nghiệp bảo hiểm, sản phẩm phải đáp ứng được nhu cầu của cả ngân hàng và khách hàng (thí dụ như sản phẩm bảo hiểm được sử dụng làm tài sản thế chấp cho khách hàng khi vay vốn tại ngân hàng…).

Bốn là, đẩy mạnh cấu phần giáo dục tài chính trong kế hoạch tài chính toàn diện, để khách hàng nhận thức được sự cần thiết của các sản phẩm bảo hiểm, hiểu biết về các sản phẩm bảo hiểm các ngân hàng thương mại, cũng như doanh nghiệp bảo hiểm cần tham gia tích cực vào hoạt động này bằng cách đẩy mạnh việc tuyên truyền, quảng bá sản phẩm bảo hiểm cũng như banca tới khách hàng.

PV: Xin cảm ơn ông!

Việc triển khai bancassurance đã giúp doanh nghiệp bảo hiểm tận dụng được đội ngũ nhân viên ngân hàng làm đại lý bảo hiểm với trình độ chuyên môn, có kinh nghiệm giao tiếp ứng xử với khách hàng, giúp doanh nghiệp bảo hiểm tiết kiệm được chi phí đào tạo, tuyển dụng và quản lý đại lý. Đồng thời, phương thức này tận dụng được mạng lưới hoạt động rộng khắp của các ngân hàng với cơ sở vật chất khang trang; đội ngũ quản lý ngân hàng sẵn có…
Hồng Vân (ghi)

Đọc thêm

Đại hội đồng cổ đông VPBank: Nâng vốn vượt 100.000 tỷ đồng, tăng tốc CAEX chuẩn bị tham gia tài sản mã hóa

Đại hội đồng cổ đông VPBank: Nâng vốn vượt 100.000 tỷ đồng, tăng tốc CAEX chuẩn bị tham gia tài sản mã hóa

(TBTCO) - VPBank đặt mục tiêu lợi nhuận trước thuế hợp nhất năm 2026 đạt 41.323 tỷ đồng, tăng 35%; dư nợ tín dụng gần 1,3 triệu tỷ đồng, tăng 34%. Cùng với kế hoạch nâng vốn lên 100.000 tỷ đồng để củng cố nền tảng tài chính, ngân hàng cũng đẩy nhanh triển khai CAEX, kỳ vọng sớm vận hành và mở rộng sang lĩnh vực tài sản mã hóa.
Bảo hiểm Quân đội ưu đãi đến 25% trên App: Bảo vệ "kép" Sức khỏe và Xe dịp 30/4

Bảo hiểm Quân đội ưu đãi đến 25% trên App: Bảo vệ "kép" Sức khỏe và Xe dịp 30/4

(TBTCO) - Trước diễn biến phức tạp của các dịch bệnh truyền nhiễm và nhu cầu di chuyển tăng cao dịp đại lễ, Bảo hiểm Quân đội (MIC) triển khai chương trình ưu đãi lớn tặng voucher lên đến 25% từ ngày 25/4 đến 03/5/2026. Đây là giải pháp thiết thực giúp khách hàng thiết lập "lá chắn" tài chính vững chắc ngay trên ứng dụng bảo hiểm số.
Đại hội đồng cổ đông Sacombank: Dồn lực tái cơ cấu, ưu tiên “đệm” dự phòng trước ngưỡng triệu tỷ

Đại hội đồng cổ đông Sacombank: Dồn lực tái cơ cấu, ưu tiên “đệm” dự phòng trước ngưỡng triệu tỷ

(TBTCO) - Năm 2026, Sacombank đặt mục tiêu tài sản vượt 1 triệu tỷ đồng, lợi nhuận 8.100 tỷ đồng; kiểm soát nợ xấu dưới 4,5%; đồng thời thông qua các quyết sách mang tính “bước ngoặt. Lãnh đạo Sacombank cho biết, đã hoàn tất xử lý các tồn đọng tài chính và trích đủ dự phòng 100%, nhưng vẫn chờ xử lý 32,5% cổ phần tại VAMC. Sacombank sẽ tiếp tục ưu tiên trích lập dự phòng rủi ro, nâng cao tỷ lệ bao phủ nợ xấu.
Gia Lai: Hơn 690 đơn vị nợ bảo hiểm với số tiền hơn 133 tỷ đồng

Gia Lai: Hơn 690 đơn vị nợ bảo hiểm với số tiền hơn 133 tỷ đồng

(TBTCO) - Tính đến hết tháng 3/2026, tỉnh Gia Lai có 693 công ty, hợp tác xã, hộ kinh doanh…chậm đóng trên 6 tháng các khoản bảo hiểm của hơn 3.000 lao động với số tiền hơn 133 tỷ đồng.
Giá vàng hôm nay ngày 22/4: Giá vàng trong nước đảo chiều giảm đến 900.000 đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 22/4: Giá vàng trong nước đảo chiều giảm đến 900.000 đồng/lượng

(TBTCO) - Sáng ngày 22/4, giá vàng miếng trong nước đồng loạt điều chỉnh giảm mạnh tại nhiều doanh nghiệp lớn, với mức giảm phổ biến 900.000 đồng/lượng, kéo mặt bằng giao dịch lùi về vùng 167,2 - 169,7 triệu đồng/lượng.
Tỷ giá USD hôm nay (22/4): Tỷ giá trung tâm lùi về 25.100 đồng, DXY “án binh” chờ tín hiệu từ ứng viên Chủ tịch Fed

Tỷ giá USD hôm nay (22/4): Tỷ giá trung tâm lùi về 25.100 đồng, DXY “án binh” chờ tín hiệu từ ứng viên Chủ tịch Fed

(TBTCO) - Sáng ngày 22/4, tỷ giá trung tâm giảm nhẹ 2 đồng xuống 25.100 VND/USD, trong khi USD tự do lùi về quanh 26.600 - 26.650 đồng. Trên thị trường quốc tế, DXY dao động hẹp quanh 98 điểm khi nhà đầu tư thận trọng theo dõi phiên điều trần của ứng viên Chủ tịch Fed Kevin Warsh và các rủi ro địa chính trị tại Trung Đông, những yếu tố có thể định hướng xu hướng USD trong ngắn hạn.
Quy định phòng, chống rửa tiền “vênh” thực tế, hầu hết doanh nghiệp kinh doanh vàng đối mặt rủi ro vi phạm

Quy định phòng, chống rửa tiền “vênh” thực tế, hầu hết doanh nghiệp kinh doanh vàng đối mặt rủi ro vi phạm

Hiệp hội Kinh doanh vàng Việt Nam cho rằng, nhiều quy định về phòng, chống rửa tiền và quản lý nguồn vàng trong dân gây khó cho doanh nghiệp kinh doanh vàng. Do yêu cầu xác minh thu nhập, nghề nghiệp thiếu khả thi, gần như 100% doanh nghiệp có thể phát sinh vi phạm. Hiệp hội đề xuất chuyển sang quản lý dựa trên rủi ro và xây dựng hệ thống dữ liệu dùng chung.
Thanh khoản căng khiến lãi suất khó giảm sâu, Chứng khoán KBSV nêu 3 cách gỡ áp lực cho tỷ lệ LDR

Thanh khoản căng khiến lãi suất khó giảm sâu, Chứng khoán KBSV nêu 3 cách gỡ áp lực cho tỷ lệ LDR

Nhóm phân tích Chứng khoán KBSV nhận định, lãi suất có thể giảm nhẹ từ nền cao sau cam kết hạ 0,5 - 1%/năm, trong ngắn hạn, nhóm phân tích KBSV cho rằng, xu hướng giảm lãi suất vẫn chưa rõ rệt, khi các vấn đề về căng thẳng thanh khoản dự báo sẽ tiếp diễn trong quý II/2026, tỷ lệ LDR tiến sát ngưỡng trần 85%. Ba phương án điều chỉnh được đề xuất nhằm giảm áp lực cho LDR, trong đó, nhóm ngân hàng quốc doanh được kỳ vọng cải thiện đáng kể.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,750 17,000
Kim TT/AVPL 16,750 17,000
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,670 16,970
Nguyên Liệu 99.99 15,650 15,850
Nguyên Liệu 99.9 15,600 15,800
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,360 16,760
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,310 16,710
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,240 16,690
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 166,700 169,700
Hà Nội - PNJ 166,700 169,700
Đà Nẵng - PNJ 166,700 169,700
Miền Tây - PNJ 166,700 169,700
Tây Nguyên - PNJ 166,700 169,700
Đông Nam Bộ - PNJ 166,700 169,700
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,750 17,000
Miếng SJC Nghệ An 16,750 17,000
Miếng SJC Thái Bình 16,750 17,000
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,700 17,000
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,700 17,000
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,700 17,000
NL 99.90 15,450
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,500
Trang sức 99.9 16,190 16,890
Trang sức 99.99 16,200 16,900
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,675 170
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,675 17,002
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,675 17,003
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,673 1,698
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,673 1,699
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,653 1,683
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 160,134 166,634
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 117,488 126,388
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 105,705 114,605
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 93,923 102,823
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 89,379 98,279
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 61,438 70,338
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,675 170
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,675 170
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,675 170
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,675 170
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,675 170
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,675 170
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,675 170
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,675 170
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,675 170
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,675 170
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,675 170
Cập nhật: 23/04/2026 02:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18305 18581 19162
CAD 18739 19017 19635
CHF 33033 33419 34068
CNY 0 3820 3913
EUR 30284 30559 31584
GBP 34774 35167 36098
HKD 0 3230 3432
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 15244 15834
SGD 20125 20408 20936
THB 733 796 850
USD (1,2) 26055 0 0
USD (5,10,20) 26096 0 0
USD (50,100) 26125 26144 26355
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,125 26,125 26,355
USD(1-2-5) 25,080 - -
USD(10-20) 25,080 - -
EUR 30,486 30,510 31,783
JPY 161.26 161.55 170.33
GBP 35,041 35,136 36,141
AUD 18,577 18,644 19,237
CAD 18,968 19,029 19,618
CHF 33,428 33,532 34,318
SGD 20,312 20,375 21,049
CNY - 3,795 3,917
HKD 3,303 3,313 3,432
KRW 16.47 17.18 18.59
THB 783.51 793.19 843.82
NZD 15,275 15,417 15,779
SEK - 2,834 2,917
DKK - 4,079 4,199
NOK - 2,784 2,865
LAK - 0.91 1.26
MYR 6,238.33 - 7,002.05
TWD 757.38 - 912.23
SAR - 6,915.97 7,242.74
KWD - 83,818 88,667
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,105 26,135 26,355
EUR 30,342 30,464 31,647
GBP 34,932 35,072 36,081
HKD 3,293 3,306 3,421
CHF 33,126 33,259 34,203
JPY 161.40 162.05 169.35
AUD 18,495 18,569 19,164
SGD 20,315 20,397 20,981
THB 797 800 835
CAD 18,921 18,997 19,574
NZD 15,293 15,827
KRW 17.07 18.75
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26215 26215 26355
AUD 18484 18584 19507
CAD 18923 19023 20034
CHF 33282 33312 34890
CNY 3796.9 3821.9 3957.4
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30456 30486 32212
GBP 35065 35115 36873
HKD 0 3355 0
JPY 161.62 162.12 172.66
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.4 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2772 0
NZD 0 15347 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2850 0
SGD 20285 20415 21137
THB 0 761.6 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16750000 16750000 17000000
SBJ 15000000 15000000 17000000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,150 26,200 26,355
USD20 26,150 26,200 26,355
USD1 23,845 26,200 26,355
AUD 18,537 18,637 19,762
EUR 30,597 30,597 32,026
CAD 18,867 18,967 20,283
SGD 20,359 20,509 21,088
JPY 162.2 163.7 168.36
GBP 34,935 35,285 36,430
XAU 16,808,000 0 17,062,000
CNY 0 3,708 0
THB 0 797 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 23/04/2026 02:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80