Nhiều lao động đã nhận tiền hỗ trợ từ Quỹ Bảo hiểm thất nghiệp

Hà My
(TBTCO) - (TBTCVN) - Ghi nhận trong những ngày đầu triển khai chính sách hỗ trợ người lao động và doanh nghiệp bị ảnh hưởng bởi Covid-19 từ Quỹ Bảo hiểm thất nghiệp tại một số địa phương cho thấy, người lao động rất vui mừng, phấn khởi khi được nhận tiền hỗ trợ rất nhanh chóng, tiện lợi.
aa

Đã chi trả tiền hỗ trợ cho 37.460 lao động

Triển khai Nghị quyết số 116/NQ-CP và Quyết định số 28/2021/QĐ-TTg, những ngày này, toàn ngành Bảo hiểm Xã hội (BHXH) Việt Nam đang tập trung cao độ, huy động tổng lực triển khai chính sách hỗ trợ từ Quỹ Bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) đến người lao động (NLĐ) với phương châm nhanh nhất, hiệu quả nhất.

Nhiều lao động đã nhận tiền hỗ trợ từ Quỹ Bảo hiểm thất nghiệp

Ngay trong những ngày đầu tháng 10 khi chính sách hỗ trợ có hiệu lực, cơ quan BHXH 63 tỉnh, thành phố đã huy động lực lượng, bố trí đội ngũ cán bộ, viên chức tích cực rà soát dữ liệu, lập danh sách NLĐ đủ điều kiện hưởng hỗ trợ từ Quỹ BHTN để gửi đến các doanh nghiệp (DN) cho NLĐ kịp thời rà soát, bổ sung thông tin. Theo quy trình, khi nhận được danh sách NLĐ đề nghị nhận hỗ trợ đã được bổ sung thông tin, trong đó có thông tin về số tài khoản ngân hàng do DN gửi, cơ quan BHXH sẽ nhanh chóng chuyển tiền hỗ trợ đến NLĐ, theo các mức hưởng tương ứng với thời gian tham gia BHTN của NLĐ.

Theo thống kê của Ban Thực hiện chính sách BHXH (BHXH Việt Nam), tính đến 18h10 ngày 10/10, cả nước đã có 37.460 NLĐ được nhận hỗ trợ từ Quỹ BHTN, với tổng số tiền 88,97 tỷ đồng. Như vậy, mặc dù là hai ngày nghỉ cuối tuần (thứ bảy và chủ nhật), nhưng BHXH nhiều địa phương trên cả nước vẫn bố trí nhân lực, đảm bảo đẩy nhanh tiến độ thực hiện chính sách hỗ trợ từ quỹ BHTN đến NLĐ.

Để đáp ứng yêu cầu phục vụ NLĐ nhanh chóng kịp thời, các khâu nghiệp vụ xử lý hồ sơ đang được toàn ngành BHXH Việt Nam đẩy nhanh tiến độ. Thống kê trên phần mềm thu và quản lý sổ thẻ (TST), toàn ngành đã rà soát thông tin của 354.383 NLĐ, trong đó có 275.659 trường hợp đang tham gia BHTN và 78.724 trường hợp đang được bảo lưu đóng BHTN. Hiện BHXH các địa phương đã gửi danh sách NLĐ đến 289.618 đơn vị sử dụng lao động để rà soát, bổ sung thông tin thẻ ATM, số điện thoại của khoảng 7,7 triệu NLĐ.

Niềm vui của người lao động

Chị Nguyễn Thị Thúy Hằng trước đây làm việc tại Công ty CP An Hưng (tỉnh Phú Yên). Chị nghỉ việc từ tháng 11/2020 và có thời gian đóng BHTN còn bảo lưu là 11 tháng. Chị cho biết, chị làm thủ tục đề nghị hưởng hỗ trợ từ Quỹ BHTN qua giao dịch điện tử vào lúc 21h43’ ngày 3/10, đến khoảng 17h ngày 7/10, tài khoản chị đã thông báo nhận được 1,8 triệu đồng tiền hỗ trợ từ Quỹ BHTN mà chị được hưởng. Hiện chị chưa tìm được việc làm mới, nên khoản hỗ trợ này được chi trả kịp thời đã giúp chị có thêm khoản tiền trang trải, phần nào vơi bớt đi những khó khăn do dịch bệnh kéo dài mấy tháng qua. Chia sẻ của chị Hằng cũng là tâm trạng chung của nhiều NLĐ khi nhận được hỗ trợ.

Cũng như chị Hằng, chị Nguyễn Thị Phương Nga - nhân viên kế toán Công ty CP Tư vấn đầu tư Nguyên Đức (tỉnh Nghệ An) cho biết, chị tiếp cận chính sách này thông qua các phương tiện thông tin đại chúng và cả trực tiếp từ cán bộ chuyên quản của cơ quan BHXH tỉnh. Là kế toán của công ty, ngay sau khi nhận được danh sách do BHXH tỉnh gửi, trên cơ sở thông tin kê khai, cập nhật của NLĐ, chị Nga đã thực hiện đối chiếu, rà soát cẩn thận lại thông tin của từng NLĐ trong công ty, rồi gửi lại cho cơ quan BHXH. Thật bất ngờ, chỉ trong một thời gian ngắn, tất cả NLĐ của Công ty Nguyên Đức đã nhận được tiền hỗ trợ. “Bản thân tôi có thời gian tham gia BHTN là 134 tháng, được nhận số tiền hỗ trợ tương ứng 3,3 triệu đồng. Thật sự tôi không nghĩ là được nhận tiền sớm như thế này. Đây thật sự là nguồn động viên lớn cho bản thân tôi cũng như những NLĐ trong công ty”- chị Nga chia sẻ.

Chị Trần Thị Huệ (phường Đông Vĩnh, TP. Vinh, Nghệ An) trước đây làm công nhân cho một DN có trụ sở tại Khu công nghiệp Bắc Vinh. Tháng 8/2021, do ảnh hưởng của dịch Covid-19, chị Huệ nghỉ việc tại công ty. Sau khi nhận được thông tin về chính sách hỗ trợ này, ngày 4/10, chị Huệ đến BHXH tỉnh nộp hồ sơ hưởng chế độ. Trong chiều ngày 7/10, chị đã nhận được tiền hỗ trợ vào tài khoản cá nhân. “Số tiền hỗ trợ đến với tôi lúc này rất quý, chính sách của Đảng và Nhà nước rất kịp thời, thủ tục nhanh gọn. Tôi vui quá, bất ngờ quá!”- chị Huệ cho biết.

Từ những ghi nhận thực tế trên, có thể thấy Nghị quyết số 116/NQ-CP của Chính phủ và Quyết định số 28/2021/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ đã thể hiện rõ sự quan tâm, chia sẻ của Đảng, Nhà nước với NLĐ trong giai đoạn khó khăn do dịch bệnh; góp phần hỗ trợ NLĐ khắc phục khó khăn, ổn định cuộc sống,… Qua đây, NLĐ càng thấy rõ được lợi ích từ việc tham gia BHXH, BHTN đối với họ. Chính sách an sinh này đã giúp NLĐ có thêm nguồn chi phí chia sẻ khó khăn và củng cố thêm niềm tin vào hệ thống an sinh của đất nước.

Phấn đấu hoàn thành chi trả hỗ trợ người lao động trong tháng 10

Theo quy định tại Nghị quyết 116/NQ-CP và Quyết định 23/2021/QĐ-TTg, khoảng 13 triệu lao động sẽ được nhận hỗ trợ từ Quỹ Bảo hiểm thất nghiệp. Bảo hiểm Xã hội Việt Nam phấn đấu, trong tháng 10/2021, ngành sẽ cơ bản hoàn thành việc hỗ trợ cho người lao động có tài khoản ngân hàng tại các đơn vị sử dụng lao động.

Hà My

Đọc thêm

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng ngày 24/3 cho thấy, lãi suất huy động tiếp tục tăng, với 10 ngân hàng nâng lãi suất kỳ hạn 6 tháng và 15 ngân hàng tăng ở kỳ hạn 12 tháng chỉ chưa đầy 1 tháng; mức cao nhất đã chạm 9%/năm. Trước diễn biến này, các ngân hàng lớn đều có dự tính riêng về điều hành chính sách lãi suất, khi dự báo chi phí vốn sẽ chịu áp lực.
Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

Năm 2026, OCB đặt nhiều mục tiêu chiến lược, nổi bật là lợi nhuận trước thuế đạt 6.960 tỷ đồng (tăng 39%); tổng tài sản 354.214 tỷ đồng (tăng 10%). Ngân hàng dự kiến nâng vốn điều lệ lên 30.625 tỷ đồng nhằm mở rộng quy mô, tăng năng lực cạnh tranh; đồng thời, kiện toàn Hội đồng quản trị phục vụ giai đoạn tăng trưởng mới.
Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

(TBTCO) - Ngày 24/3/2026, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) chính thức khai trương trụ sở chính tại tòa nhà số 27 - 29 Lý Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội. Việc đặt trụ sở tại Thủ đô là bước triển khai quan trọng trong định hướng phát triển của ngân hàng đã được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông năm 2025.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngày 24/3, tại Hà Nội, Ngân hàng Đầu tư châu Âu (EIB) và Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã công bố thỏa thuận tài trợ trị giá 200 triệu EUR nhằm đẩy nhanh các dự án hành động vì khí hậu, môi trường và phát triển bền vững trên khắp Việt Nam.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Kim TT/AVPL 16,810 ▼250K 17,110 ▼250K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,750 ▼300K 17,050 ▼300K
Nguyên Liệu 99.99 15,950 ▼400K 16,150 ▼400K
Nguyên Liệu 99.9 15,900 ▼400K 16,100 ▼400K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,600 ▼300K 17,000 ▼300K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,550 ▼300K 16,950 ▼300K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,480 ▼300K 16,930 ▼300K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Hà Nội - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đà Nẵng - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Miền Tây - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Tây Nguyên - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đông Nam Bộ - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Nghệ An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Thái Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
NL 99.90 15,820 ▼450K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,850 ▼450K
Trang sức 99.9 16,290 ▼250K 16,990 ▼250K
Trang sức 99.99 16,300 ▼250K 17,000 ▼250K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 168 ▼1537K 17,102 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 168 ▼1537K 17,103 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,678 ▼25K 1,708 ▼25K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,678 ▼25K 1,709 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,658 ▼25K 1,693 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 161,124 ▼2475K 167,624 ▼2475K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 118,238 ▼1875K 127,138 ▼1875K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 106,386 ▼1700K 115,286 ▼1700K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 94,533 ▼1525K 103,433 ▼1525K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 89,962 ▼1457K 98,862 ▼1457K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 61,855 ▼1043K 70,755 ▼1043K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cập nhật: 26/03/2026 14:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17767 18041 18614
CAD 18517 18794 19412
CHF 32591 32975 33624
CNY 0 3470 3830
EUR 29812 30084 31114
GBP 34376 34767 35701
HKD 0 3239 3440
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14961 15549
SGD 19985 20267 20795
THB 717 780 834
USD (1,2) 26077 0 0
USD (5,10,20) 26118 0 0
USD (50,100) 26146 26166 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 14:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80