Quảng Ninh: Thúc đẩy tăng trưởng công nghiệp chế biến, chế tạo

(TBTCO) - Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tại Quảng Ninh đang bứt phá với tốc độ tăng trưởng bình quân 22,83% (2021-2023), quy mô đạt trên 37.000 tỷ đồng, và thu hút hàng tỷ USD từ các tập đoàn lớn như Foxconn, Jinko Solar. Với hạ tầng hiện đại, chính sách hỗ trợ tối ưu, Quảng Ninh đang trở thành điểm đến hàng đầu cho các dự án công nghệ cao, xanh, thân thiện với môi trường.
aa

Mảnh đất vàng thu hút đầu tư công nghiệp chế biến, chế tạo

Trong giai đoạn từ năm 2021 đến năm 2023, Quảng Ninh đã ghi nhận những bước phát triển vượt bậc trong lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo. Quy mô ngành đạt trên 37.000 tỷ đồng, với tốc độ tăng trưởng bình quân 22,83%/năm, tạo hàng vạn việc làm mới cho lao động địa phương. Đà tăng trưởng này biến Quảng Ninh trở thành một trong những điểm đến hấp dẫn hàng đầu cho các nhà đầu tư lớn trên thế giới.

Nhà máy ô tô Thành Công Việt Hưng do Tập đoàn Thành Công làm chủ đầu tư
Nhà máy ô tô Thành Công Việt Hưng do Tập đoàn Thành Công làm chủ đầu tư tại Quảng Ninh. Ảnh CTV

Các tập đoàn tầm cỡ quốc tế đã lựa chọn Quảng Ninh là nơi xây dựng và mở rộng hệ thống sản xuất. Tiêu biểu như Tập đoàn Foxconn – ông lớn trong ngành công nghệ cao – đã đầu tư 5 dự án tại đây với tổng vốn gần 1 tỷ USD. Nhà máy ô tô Thành Công Việt Hưng, dự kiến đưa vào khai thác năm 2025 với công suất thiết kế hơn 120.000 xe/năm, không chỉ tạo động lực thu hút doanh nghiệp phụ trợ ô tô mà còn góp phần gia tăng giá trị sản phẩm.

Đặc biệt, Tập đoàn Jinko Solar – một trong những thương hiệu sản xuất tấm quang năng hàng đầu thế giới – đã đầu tư các dự án tổng vốn 2,5 tỷ USD tại Quảng Ninh. Ông Trần Kinh Vĩ, Tổng Giám đốc vận hành toàn cầu của Tập đoàn, khẳng định vai trò quan trọng của Quảng Ninh trong chuỗi sản xuất toàn cầu, khi các nhà máy tại đây chiếm khoảng 50% tổng sản phẩm sản xuất ở nước ngoài của tập đoàn.

Tính đến hết năm 2024, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm 12,43% trong GRDP của tỉnh Quảng Ninh, với tốc độ tăng trưởng 21,33%. Tổng vốn đầu tư trong ngành đạt 2,04 tỷ USD, đồng thời tạo thêm hơn 5.500 việc làm mới. Những con số này là minh chứng rõ nét cho sự chuyển mình mạnh mẽ của Quảng Ninh trong lĩnh vực công nghiệp.

Để đạt được thành công này, Quảng Ninh đã tập trung phát triển hệ thống hạ tầng đồng bộ, đặc biệt là các dự án giao thông chiến lược. Các chính sách tháo gỡ khó khăn, giải quyết nhanh thủ tục hành chính về đất đai, thuế, đầu tư và thông quan hàng hóa đã giúp môi trường kinh doanh tại đây trở nên thuận lợi hơn.

Đồng thời, tỉnh chú trọng thu hút các dự án công nghệ cao, công nghiệp thông minh, thân thiện với môi trường, góp phần thúc đẩy tăng trưởng bền vững.

Theo ông Tsuchimochi Atsusi, Tổng Giám đốc Công ty TNHH IKO Thompson Việt Nam, cho biết: "Tôi đánh giá cao những lợi thế của Quảng Ninh trong thu hút các dự án đầu tư, nhất là lợi thế về vị trí địa lý, hạ tầng giao thông và sự hỗ trợ của chính quyền địa phương. Nhiều nhà đầu tư Nhật Bản đang nghiên cứu tìm hiểu cơ hội đầu tư tại Quảng Ninh. Tôi tin tưởng, nhiều nhà đầu tư của Nhật Bản sẽ lựa chọn Quảng Ninh để triển khai các dự án."

Phát triển bền vững và hiện thực hóa mục tiêu kinh tế xanh

Bước sang năm 2025, Quảng Ninh đặt mục tiêu tăng trưởng GRDP trên 12%, với tổng thu ngân sách nhà nước dự kiến đạt 57.300 tỷ đồng. Để hiện thực hóa mục tiêu này, tỉnh tập trung mạnh vào việc phát triển ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, coi đây là động lực cốt lõi thúc đẩy kinh tế địa phương.

Trên cơ sở Nghị quyết số 01-NQ/TU ngày 16/11/2020 về phát triển nhanh, bền vững ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giai đoạn 2020-2025, Quảng Ninh không ngừng nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế. Chủ trương chuyển dịch cơ cấu từ “nâu” sang “xanh” được thực hiện xuyên suốt, nhằm tạo dựng môi trường đầu tư thuận lợi cho các doanh nghiệp công nghệ cao, công nghệ sạch, hiện đại.

Tính đến giữa tháng 11/2024, tổng vốn thu hút FDI tại Quảng Ninh đã đạt hơn 2 tỷ USD, trong đó 32 dự án mới có tổng vốn đăng ký 1,76 tỷ USD và 25 dự án điều chỉnh tăng vốn 292 triệu USD. Các khu công nghiệp chiến lược như Bắc Tiền Phong, Sông Khoai, Texhong Hải Hà, và Đông Mai đang là điểm sáng trong thu hút vốn đầu tư.

Khu công nghiệp Đông Mai (thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh) tỷ lệ lấp đầy hiện đạt 86,05%
Khu công nghiệp Đông Mai (thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh) tỷ lệ lấp đầy hiện đạt 86,05%. Ảnh T.D

Ngoài việc thúc đẩy đầu tư, tỉnh cũng tập trung tháo gỡ các điểm nghẽn về thủ tục hành chính, đất đai, giải phóng mặt bằng, đồng hành cùng doanh nghiệp để đưa các dự án đi vào hoạt động sớm nhất. Đến cuối năm 2024, Quảng Ninh đã hoàn thiện 7 dự án công nghiệp chế biến, chế tạo và đưa vào hoạt động, trong khi 12 dự án khác đang khẩn trương hoàn tất. Đáng chú ý, Dự án Nhà máy ô tô Thành Công Việt Hưng được kỳ vọng ra sản phẩm vào tháng 12/2024, cùng với Dự án Baike Vehicle Việt Nam đã hoạt động từ tháng 10/2024.

Quảng Ninh cũng đặc biệt chú trọng phát triển mô hình “3 trong 1” – kết hợp khu công nghiệp, khu đô thị, và khu dịch vụ – với hệ thống hạ tầng kỹ thuật và xã hội hiện đại. Song song đó, các ngành công nghiệp phụ trợ, trí tuệ nhân tạo, công nghệ chíp bán dẫn, và chuyển đổi số cũng được thúc đẩy để tạo động lực tăng trưởng mới. Tỉnh đã cấp giấy chứng nhận đầu tư và đẩy nhanh triển khai Dự án Nhà máy điện khí LNG Quảng Ninh, góp phần vào việc đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia.

Trong năm 2025, Quảng Ninh kỳ vọng ngành công nghiệp chế biến, chế tạo sẽ tiếp tục tăng trưởng vượt bậc, đóng góp lớn vào ngân sách nhà nước và giải quyết việc làm cho lao động địa phương. Với sự đồng hành từ chính quyền tỉnh, môi trường đầu tư thông thoáng, cùng tiềm năng phát triển to lớn, Quảng Ninh xứng đáng là mảnh đất vàng cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước.
Thế An

Đọc thêm

Nâng cấp nền tảng công nghệ, Báo Tài chính - Đầu tư tiến vào chặng đường phát triển mạnh mẽ

Nâng cấp nền tảng công nghệ, Báo Tài chính - Đầu tư tiến vào chặng đường phát triển mạnh mẽ

(TBTCO) - Phát biểu tại Lễ ra mắt giao diện mới của báo điện tử Báo Tài chính - Đầu tư (thoibaotaichinhvietnam.vn), Thứ trưởng Trần Quốc Phương tin tưởng với bề dày truyền thống đã được xây dựng và phát triển qua nhiều năm của ba cơ quan báo chí tiền thân, cùng với sự đoàn kết, sáng tạo và quyết tâm đổi mới của tập thể lãnh đạo, phóng viên, biên tập viên và người lao động, Báo Tài chính - Đầu tư sẽ tiếp tục phát triển mạnh mẽ, đóng góp ngày càng tích cực vào công tác thông tin tuyên truyền của ngành Tài chính và vào sự phát triển chung của nền kinh tế đất nước.
Thủ tướng Phạm Minh Chính dự Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam - Nga

Thủ tướng Phạm Minh Chính dự Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam - Nga

Phát biểu tại Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam - Liên bang Nga, Thủ tướng Phạm Minh Chính mong muốn doanh nghiệp hai nước tăng cường trao đổi, tìm kiếm cơ hội hợp tác đầu tư, góp phần vào sự phát triển nhanh và bền vững của mỗi nước, vì hòa bình, ổn định, hợp tác, phát triển trong khu vực và trên thế giới.
Chuỗi cung ứng đảo chiều, luật chơi thay đổi: Doanh nghiệp Việt còn bao nhiêu thời gian?

Chuỗi cung ứng đảo chiều, luật chơi thay đổi: Doanh nghiệp Việt còn bao nhiêu thời gian?

(TBTCO) - Theo các chuyên gia, doanh nghiệp Việt đang bước vào một cuộc cạnh tranh mới, khi chuỗi cung ứng đảo chiều và “luật chơi” thị trường thay đổi nhanh chóng. Lợi thế giá rẻ không còn mang tính quyết định, trong khi áp lực từ địa chính trị, tiêu chuẩn xanh và yêu cầu chuỗi cung ứng buộc doanh nghiệp phải tái cấu trúc nhanh hơn, sâu hơn và thực chất hơn.
EuroCham ra mắt Sách Trắng 2026: Định vị Việt Nam cho làn sóng đầu tư châu Âu tiếp theo

EuroCham ra mắt Sách Trắng 2026: Định vị Việt Nam cho làn sóng đầu tư châu Âu tiếp theo

(TBTCO) - Trong bối cảnh các cam kết đầu tư trị giá hàng tỷ EUR đang là tâm điểm tại Diễn đàn Kinh doanh và Đầu tư EU - Việt Nam - Chiến lược Cửa ngõ toàn cầu tổ chức ngày 24/3 tại Hà Nội, Hiệp hội Doanh nghiệp châu Âu tại Việt Nam (EuroCham) đã chính thức ra mắt ấn bản thứ 17 của Sách Trắng. Ấn phẩm thường niên này đóng vai trò là công cụ chiến lược nhằm hỗ trợ việc triển khai hiệu quả và bền vững các dòng vốn đầu tư quy mô lớn từ châu Âu vào Việt Nam.
Việt Nam - EU mở rộng hợp tác chiến lược, đón dòng vốn 560 triệu EUR cho hạ tầng và tăng trưởng xanh

Việt Nam - EU mở rộng hợp tác chiến lược, đón dòng vốn 560 triệu EUR cho hạ tầng và tăng trưởng xanh

(TBTCO) - Sáng 24/3 tại Hà Nội, Diễn đàn Kinh doanh và Đầu tư EU - Việt Nam quy tụ khoảng 500 đại biểu cấp cao hai bên, diễn ra trong bối cảnh quan hệ vừa nâng cấp lên Đối tác Chiến lược Toàn diện. Sự kiện ghi nhận gói đầu tư hơn 560 triệu EUR, mở rộng hợp tác trong giao thông hiện đại, năng lượng sạch và các động lực tăng trưởng mới.
Các quốc gia chủ động ứng phó nguy cơ gián đoạn nguồn cung năng lượng toàn cầu

Các quốc gia chủ động ứng phó nguy cơ gián đoạn nguồn cung năng lượng toàn cầu

(TBTCO) - Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước (Bộ Công thương) cho biết, gián đoạn tại eo biển Hormuz đang gây biến động mạnh thị trường năng lượng toàn cầu, vượt cả các cú sốc dầu mỏ thập niên 1970, buộc nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam, khẩn trương ứng phó để bảo đảm nguồn cung và ổn định kinh tế.
“Nắn” dòng vốn PPP vào khu vực phía Nam TP. Đà Nẵng

“Nắn” dòng vốn PPP vào khu vực phía Nam TP. Đà Nẵng

(TBTCO) - Gần 300 nghìn tỷ đồng là số vốn đầu tư mà Đà Nẵng dự kiến thu hút đầu tư theo phương thức đối tác công - tư (PPP) vào khu vực phía Nam thành phố nhằm khai thác dư địa cho phát triển công nghiệp, du lịch, hệ sinh thái đô thị sân bay, cảng biển, hạ tầng, hướng đến xây dựng khu vực này trở thành cực tăng trưởng tích cực.
Thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp năng lượng tái tạo, năng lượng mới

Thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp năng lượng tái tạo, năng lượng mới

(TBTCO) - Phó Thủ tướng Bùi Thanh Sơn vừa ký Quyết định số 458/QĐ-TTg phê duyệt Đề án cập nhật triển khai Tuyên bố chính trị thiết lập quan hệ đối tác chuyển đổi năng lượng công bằng.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,050 17,350
Kim TT/AVPL 17,060 17,360
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,050 17,350
Nguyên Liệu 99.99 16,250 ▼100K 16,450 ▼100K
Nguyên Liệu 99.9 16,200 ▼100K 16,400 ▼100K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,900 17,300
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,850 17,250
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,780 17,230
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 170,500 173,500
Hà Nội - PNJ 170,500 173,500
Đà Nẵng - PNJ 170,500 173,500
Miền Tây - PNJ 170,500 173,500
Tây Nguyên - PNJ 170,500 173,500
Đông Nam Bộ - PNJ 170,500 173,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,050 17,350
Miếng SJC Nghệ An 17,050 17,350
Miếng SJC Thái Bình 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,050 17,350
NL 99.90 15,970 ▼300K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 16,000 ▼300K
Trang sức 99.9 16,540 17,240
Trang sức 99.99 16,550 17,250
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,705 17,352
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,705 17,353
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,703 1,733
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,703 1,734
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,683 1,718
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 163,599 170,099
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 120,113 129,013
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 108,086 116,986
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 96,058 104,958
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 91,419 100,319
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,898 71,798
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cập nhật: 26/03/2026 13:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17770 18043 18619
CAD 18522 18799 19418
CHF 32625 33009 33645
CNY 0 3470 3830
EUR 29830 30102 31128
GBP 34387 34778 35712
HKD 0 3238 3440
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14972 15560
SGD 19995 20277 20804
THB 718 782 835
USD (1,2) 26077 0 0
USD (5,10,20) 26118 0 0
USD (50,100) 26146 26166 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 13:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80