So kè tăng trưởng tín dụng tại hai "đầu tàu" kinh tế tháng 1/2025

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Dư nợ tín dụng tại hai "đầu tàu" kinh tế cả nước tính đến cuối tháng 1/2025 đạt khoảng 8,36 triệu tỷ đồng, với mức tăng chậm lần lượt 0,8% và 0,4% tại Hà Nội và TP. HCM. Lãi suất cho vay đang duy trì ở mức thấp, ưu tiên vốn tín dụng cho sản xuất kinh doanh, đặc biệt là các lĩnh vực ưu tiên.
aa

Thông tin từ Cục Thống kê Hà Nội cho thấy, tổng nguồn vốn huy động của các tổ chức tín dụng trong tháng 1/2025 ước đạt 5,872 triệu tỷ đồng, tăng 0,5% so với cuối năm 2024. Trong đó, tiền gửi đạt 5,197 triệu tỷ đồng, tăng 0,56%; phát hành giấy tờ có giá đạt 675.000 tỷ đồng, tăng 0,04%.

Lãi suất huy động thay đổi trái chiều tại hai "đầu tàu"

Trong tháng 1/2025, các tổ chức tín dụng tuân thủ nghiêm quy định về lãi suất của Ngân hàng Nhà nước. Theo Cục Thống kê Hà Nội, lãi suất huy động trên địa bàn Thủ đô có xu hướng giảm, trong khi chính sách cho vay được điều chỉnh linh hoạt hơn.

Hiện lãi suất tiền gửi VND tại các ngân hàng thương mại phổ biến ở mức 0,1 - 0,5%/năm đối với tiền gửi không kỳ hạn và kỳ hạn dưới 1 tháng; 2 - 5,35%/năm với kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng; 2,9 - 6,1%/năm với kỳ hạn từ 6 tháng đến dưới 12 tháng và 4,7 - 6,6%/năm với kỳ hạn từ 12 tháng trở lên.

So kè tăng trưởng tín dụng tại hai
Tăng trưởng huy động và tín dụng tại TP. Hà Nội tháng 1/2025. Nguồn: Cục Thống kê Hà Nội.

Trong khi lãi suất huy động trên địa bàn Thủ đô có xu hướng giảm thì tại TP. HCM, thông tin từ Cục Thống kê TP. HCM, lãi suất huy động bằng VNĐ lại điều chỉnh tăng 0,1-0,4%/năm tùy kỳ hạn so với cuối năm 2023.

Tổng vốn huy động của các tổ chức tín dụng trên địa bàn thành phố tăng 17,0% và dư nợ tăng 12,8% so với cùng kỳ. Cụ thể, tổng vốn huy động của các tổ chức tín dụng trên địa bàn TP. HCM ước tính đến ngày 31/1/2025 đạt 4,089 triệu tỷ đồng, tăng 0,2% so với tháng trước và tăng 17,0% so với cùng kỳ.

Trong đó, vốn huy động bằng VND ước đạt 3,656 triệu tỷ đồng, chiếm 89,4% tổng vốn huy động, tăng 0,2% so với tháng trước và tăng 13,3% so với cùng kỳ. Vốn huy động bằng ngoại tệ ước đạt 433,5 nghìn tỷ đồng, chiếm 10,6% tổng vốn huy động, tăng 0,5% so với tháng trước và tăng 62,4% so với cùng kỳ

Tín dụng tăng chậm, lãi suất cho vay giảm tại TP. HCM

Cũng theo Cục Thống kê Hà Nội, lãi suất cho vay bình quân dao động từ 6,7 - 9%/năm. Riêng lãi suất cho vay ngắn hạn đối với các lĩnh vực ưu tiên (nông nghiệp, xuất khẩu, doanh nghiệp nhỏ và vừa, công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp công nghệ cao) bình quân khoảng 3,8%/năm, thấp hơn mức trần 4%/năm của Ngân hàng Nhà nước.

Các ngân hàng thương mại trên địa bàn tiếp tục ưu tiên vốn tín dụng cho sản xuất kinh doanh, đồng thời triển khai các biện pháp hỗ trợ khách hàng tiếp cận vốn thuận lợi hơn.

So kè tăng trưởng tín dụng tại hai
So kè tăng trưởng tín dụng tại hai "đầu tàu" kinh tế tháng 1/2025. Ảnh tư liệu.

Tình hình tín dụng trên địa bàn Hà Nội tiếp tục tăng trưởng ổn định trong tháng đầu năm 2025. Theo Cục Thống kê TP. Hà Nội, tổng dư nợ tín dụng của các tổ chức tín dụng trên địa bàn đạt 4,403 triệu tỷ đồng, tăng 0,8% so với cuối năm 2024.

Tín dụng tăng chậm đầu năm

Theo Cục Thống kê TP. Hà Nội, tổng dư nợ tín dụng của các tổ chức tín dụng trên địa bàn đạt 4,403 triệu tỷ đồng, tăng 0,8% so với cuối năm 2024. Còn tại "đầu tàu" TP.HCM, tổng dư nợ tín dụng của các tổ chức tín dụng ước đạt 3,96 triệu tỷ đồng, tăng 0,4% so với tháng trước và tăng 12,8% so với cùng kỳ.

Trong đó, dư nợ cho vay ngắn hạn đạt 1,882 triệu tỷ đồng, tăng 1,04%; dư nợ trung và dài hạn đạt 2,521 triệu tỷ đồng, tăng 0,62%.

"Tỷ lệ nợ xấu được kiểm soát ở mức 1,83% tổng dư nợ, trong khi thanh khoản của hệ thống ngân hàng trên địa bàn vẫn duy trì ổn định" - Cục Thống kê TP. Hà Nội nêu rõ.

Về dư nợ cho vay theo chương trình tín dụng tại Hà Nội, cho vay theo chương trình kết nối ngân hàng - doanh nghiệp chiếm 12,57% tổng dư nợ; cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm 18,87%; chương trình nông nghiệp, nông thôn chiếm 8,88%; cho vay xuất khẩu chiếm 5,13%; cho vay công nghiệp hỗ trợ chiếm 2,31%; cho vay doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao chiếm 0,35%; cho vay chính sách xã hội chiếm 0,39%.

Còn tại "đầu tàu" TP. HCM, tổng dư nợ tín dụng của các tổ chức tín dụng trên địa bàn thành phố ước tính đến ngày 31/1/2025 đạt 3,96 triệu tỷ đồng, tăng 0,4% so với tháng trước và tăng 12,8% so với cùng kỳ. Lãi suất cho vay bằng VND tại các ngân hàng thương mại giảm từ 0,6-1,3%/năm.

Trong đó, phân theo loại tiền tệ, dư nợ tín dụng bằng VND ước đạt 3,8 triệu tỷ đồng, chiếm 96,0% tổng dư nợ toàn hệ thống, tăng 0,4% so với tháng trước và tăng 13,2% so với cùng kỳ. Dư nợ tín dụng bằng ngoại tệ ước đạt 158 nghìn tỷ đồng, chiếm 4,0%, tương đương so với tháng trước và tăng 5,3% so với cùng kỳ.

Phân theo kỳ hạn tín dụng, dư nợ ngắn hạn ước đạt 1,88 triệu tỷ đồng, chiếm 47,4% tổng dư nợ tín dụng, tăng 0,4% so với tháng trước và tăng 13,1% so với cùng kỳ. Dư nợ trung hạn, dài hạn ước đạt 2,083 triệu tỷ đồng, chiếm 52,6% tổng dư nợ, tăng 0,4% so với tháng trước và tăng 12,6% so với cùng kỳ.

Cung ứng vốn tín dụng kịp thời để đạt mục tiêu tăng trưởng GDP

Năm 2025, cả nước phấn đấu mục tiêu tăng trưởng đạt từ 8% trở lên, đây là tiền đề để hướng đến tốc độ tăng trưởng cao hơn trong những năm tiếp theo, với kỳ vọng đạt mức hai con số trên 10%. Năm nay, Ngân hàng Nhà nước đặt mục tiêu tăng trưởng tín dụng khoảng 16% để tạo đà đạt mục tiêu tăng trưởng kinh tế 8%.

Một trong những giải pháp được triển khai cấp tập từ đầu năm, đó là điều hành tăng trưởng tín dụng phù hợp, kịp thời, hiệu quả, đáp ứng nhu cầu vốn cho nền kinh tế, tập trung vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên và các động lực tăng trưởng truyền thống; tiếp tục phấn đấu giảm lãi suất và nghiên cứu triển khai các gói tín dụng mới để hỗ trợ sản xuất, xuất khẩu, nhất là trong lĩnh vực nông nghiệp.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng ngày 24/3 cho thấy, lãi suất huy động tiếp tục tăng, với 10 ngân hàng nâng lãi suất kỳ hạn 6 tháng và 15 ngân hàng tăng ở kỳ hạn 12 tháng chỉ chưa đầy 1 tháng; mức cao nhất đã chạm 9%/năm. Trước diễn biến này, các ngân hàng lớn đều có dự tính riêng về điều hành chính sách lãi suất, khi dự báo chi phí vốn sẽ chịu áp lực.
Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

Năm 2026, OCB đặt nhiều mục tiêu chiến lược, nổi bật là lợi nhuận trước thuế đạt 6.960 tỷ đồng (tăng 39%); tổng tài sản 354.214 tỷ đồng (tăng 10%). Ngân hàng dự kiến nâng vốn điều lệ lên 30.625 tỷ đồng nhằm mở rộng quy mô, tăng năng lực cạnh tranh; đồng thời, kiện toàn Hội đồng quản trị phục vụ giai đoạn tăng trưởng mới.
Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

(TBTCO) - Ngày 24/3/2026, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) chính thức khai trương trụ sở chính tại tòa nhà số 27 - 29 Lý Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội. Việc đặt trụ sở tại Thủ đô là bước triển khai quan trọng trong định hướng phát triển của ngân hàng đã được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông năm 2025.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngày 24/3, tại Hà Nội, Ngân hàng Đầu tư châu Âu (EIB) và Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã công bố thỏa thuận tài trợ trị giá 200 triệu EUR nhằm đẩy nhanh các dự án hành động vì khí hậu, môi trường và phát triển bền vững trên khắp Việt Nam.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Kim TT/AVPL 16,810 ▼250K 17,110 ▼250K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Nguyên Liệu 99.99 15,950 ▼400K 16,150 ▼400K
Nguyên Liệu 99.9 15,900 ▼400K 16,100 ▼400K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,600 ▼300K 17,000 ▼300K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,550 ▼300K 16,950 ▼300K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,480 ▼300K 16,930 ▼300K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Hà Nội - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đà Nẵng - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Miền Tây - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Tây Nguyên - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đông Nam Bộ - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Nghệ An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Thái Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
NL 99.90 15,820 ▼450K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,850 ▼450K
Trang sức 99.9 16,290 ▼250K 16,990 ▼250K
Trang sức 99.99 16,300 ▼250K 17,000 ▼250K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 168 ▼1537K 17,102 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 168 ▼1537K 17,103 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,678 ▼25K 1,708 ▼25K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,678 ▼25K 1,709 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,658 ▼25K 1,693 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 161,124 ▼2475K 167,624 ▼2475K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 118,238 ▼1875K 127,138 ▼1875K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 106,386 ▼1700K 115,286 ▼1700K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 94,533 ▼1525K 103,433 ▼1525K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 89,962 ▼1457K 98,862 ▼1457K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 61,855 ▼1043K 70,755 ▼1043K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cập nhật: 26/03/2026 14:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17778 18052 18627
CAD 18532 18809 19423
CHF 32618 33002 33637
CNY 0 3470 3830
EUR 29834 30106 31134
GBP 34406 34798 35732
HKD 0 3241 3443
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14965 15552
SGD 20005 20287 20812
THB 720 783 837
USD (1,2) 26078 0 0
USD (5,10,20) 26119 0 0
USD (50,100) 26147 26167 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 14:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80