Những kết quả giảm nghèo bền vững Hợp nhất 2 chương trình nông thôn mới và giảm nghèo bền vững là phù hợp với tình hình mới |
Nguồn vốn cho chương trình xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo tăng gấp 2 lần
Chiều 29/8, Phó Chủ tịch Quốc hội Lê Minh Hoan và các đại biểu Quốc hội đã có cuộc làm việc với Bộ Nông nghiệp và Môi trường về đề xuất chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng Nông thôn mới và Giảm nghèo bền vững giai đoạn 2026 - 2035 (Chương trình).
Tại cuộc họp, Phó Chủ tịch Quốc hội Lê Minh Hoan nhấn mạnh, Chương trình cần xây dựng cơ chế triển khai linh hoạt, hiệu quả, đảm bảo chương trình thực sự đến được với từng người dân tránh tình trạng ôm đồm, thay vào đó là cần tăng cường phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, ngành và đặc biệt là với chính quyền địa phương.
Chương trình vẫn cần ưu tiên đầu tư vào các yếu tố “phần cứng”, đồng thời cần chú trọng phát huy và bảo tồn các giá trị văn hóa, bản sắc riêng của địa phương, đặc biệt là các cộng đồng dân tộc thiểu số. Để chương trình vận hành hiệu quả cần đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ địa phương nhất là trong bối cảnh chính quyền địa phương 2 cấp, để cấp xã có thể “hấp thụ” được chương trình.
![]() |
Huy động khoảng 12,35 triệu tỷ đồng thực hiện Chương trình Nông thôn mới và Giảm nghèo bền vững. Ảnh minh họa |
Bên cạnh đó, Phó Chủ tịch Quốc hội Lê Minh Hoan gợi mở, có nên công nhận, khen thưởng xã đạt tiêu chí tiêu biểu như: du lịch nông nghiệp, phong trào kinh tế hợp tác hay chuyển đổi số… điều này thêm khuyến khích, động viên, tạo động lực cho xã.
Tại hội nghị, ông Ngô Trường Sơn - Chánh Văn phòng Điều phối nông thôn mới Trung ương cho biết, việc hợp nhất hai chương trình thành một thể hiện quyết tâm chính trị cao trong tinh gọn bộ máy, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, bảo đảm lồng ghép mục tiêu đa ngành, tăng cường phối hợp liên vùng, liên cấp và phát huy vai trò chủ thể của người dân.
Đồng thời là khuôn khổ thực thi hiệu quả các nghị quyết chuyên đề quan trọng của Bộ Chính trị: Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá trong khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; Nghị quyết số 59-NQ/TW về hội nhập quốc tế; Nghị quyết số 66-NQ/TW về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật; Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển khu vực kinh tế tư nhân. Các nội dung như chuyển đổi số nông thôn, nâng cao chất lượng thể chế cấp cơ sở, hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp tại nông thôn, kết nối vùng - thị trường - chuỗi giá trị… đều được tích hợp đầy đủ trong Chương trình.
Chương trình được thực hiện tại 34 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; tất cả 2.621 xã, 687 phường và 13 đặc khu; tất cả các thôn, bản của cả nước.
Giai đoạn 2026-2035 sẽ thúc đẩy phát triển kinh tế nông thôn theo hướng đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; nâng cao thu nhập, chất lượng sống và khả năng tiếp cận dịch vụ thiết yếu của người dân nông thôn, từng bước tiệm cận mức sống đô thị. Thu nhập bình quân đầu người khu vực nông thôn tăng ít nhất 2,5 lần so với năm 2020. |
Chương trình chia làm 2 giai đoạn: Giai đoạn 2026-2030 và giai đoạn 2031 - 2035. Tổng nguồn lực dự kiến huy động để thực hiện Chương trình giai đoạn 2026 - 2035 là khoảng 12,35 triệu tỷ đồng; trong đó giai đoạn 2026 - 2030 khoảng 4,93 triệu tỷ đồng; giai đoạn 2031 - 2035 khoảng 7,42 triệu tỷ đồng.
Giai đoạn 2026 - 2030, vốn ngân sách trung ương hỗ trợ trực tiếp khoảng 180.000 tỷ đồng (vốn đầu tư phát triển khoảng 120.000 tỷ đồng, vốn sự nghiệp khoảng 60.000 tỷ đồng), chiếm 3,7%. Nguồn vốn này tăng gấp 2 lần so với tổng nguồn vốn ngân sách trung ương của 2 Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2021 - 2025; vốn đối ứng từ ngân sách địa phương các cấp (tỉnh, xã) khoảng 450.000 tỷ đồng, chiếm 9,1%; vốn lồng ghép từ các chương trình mục tiêu quốc gia, các chương trình dự án khác trên địa bàn khoảng 400.000 tỷ đồng, chiếm 8,1%; vốn tín dụng khoảng 3.400.000 tỷ đồng, chiếm 69%; vốn doanh nghiệp và huy động đóng góp của người dân khoảng 500.000 tỷ đồng, chiếm 10,1%.
Với 180.000 tỷ đồng từ ngân sách trung ương sẽ phân bổ cho các địa phương dự kiến 177.000/180.000 tỷ đồng (chiếm 98,3%) để bố trí cho 28 tỉnh, thành phố nhận hỗ trợ từ ngân sách trung ương tập trung hỗ trợ thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới và giảm nghèo bền vững; khoảng 3.000 tỷ đồng/5 năm (chỉ kinh phí sự nghiệp, chiếm khoảng 1,7% tổng mức) cho khoảng 20 bộ, ngành trung ương để thực hiện công tác quản lý, chỉ đạo, hướng dẫn, tổ chức triển khai các nội dung thành phần của Chương trình.
Đối tượng thụ hưởng của Chương trình là hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo, người dân, cộng đồng dân cư, hợp tác xã, tổ hợp tác, doanh nghiệp và các tổ chức khác có liên quan trên địa bàn cả nước, trong đó, ưu tiên địa bàn nông thôn, xã nghèo.
![]() |
Đề án tích hợp hai chương trình thành một Chương trình Mục tiêu quốc gia giai đoạn 2026-2035 được Chính phủ giao Bộ Nông nghiệp và Môi trường chủ trì xây dựng, là bước đi mang tính đột phá. Ảnh: TL |
11 nhóm nội dung và 63 nhiệm vụ cụ thể
Chương trình giai đoạn 2026 - 2030 gồm 11 nhóm nội dung và 63 nhiệm vụ cụ thể. Một số giải pháp chính được đưa ra là: rà soát, sửa đổi, hoàn thiện các cơ chế, chính sách phù hợp với mô hình tổ chức hành chính hai cấp; đề mô hình tổ chức bộ máy thực hiện Chương trình giai đoạn tới theo hướng tinh gọn, chuyên trách, thống nhất từ trung ương đến địa phương; chuyển trọng tâm từ phát triển số lượng sang nâng cao chất lượng...
Chương trình tập trung phát triển kinh tế nông thôn theo hướng gia tăng giá trị, bền vững; hướng dẫn, hỗ trợ phát triển sản phẩm OCOP, du lịch nông nghiệp/du lịch sinh thái/du lịch cộng đồng đặc sắc, gắn với thế mạnh của từng địa phương, vùng miền theo hướng xanh, bền vững; tiếp tục phát huy vai trò chủ thể của người dân và doanh nghiệp trong quá trình xây dựng nông thôn mới và giảm nghèo bền vững...
Đặc biệt, Chương trình sẽ tăng cường thanh tra, kiểm tra, giám sát, đánh giá việc thực hiện Chương trình ở các cấp, các ngành; khuyến khích trao quyền cho cấp xã và cộng đồng đi đôi với cơ chế giám sát, đánh giá minh bạch...
Đối chiếu với các quy định trong dự thảo Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới các cấp giai đoạn 2026 - 2030, theo đánh giá của các địa phương, thì khoảng 65% số xã mới đủ điều kiện đạt chuẩn nông thôn mới theo Bộ tiêu chí giai đoạn 2021 - 2025 có khả năng cơ bản sẽ hoàn thành đạt chuẩn nông thôn mới theo Bộ tiêu chí mới giai đoạn 2026 - 2030; trong đó, có khoảng 10% số xã được công nhận xã đạt nông thôn mới hiện đại.
Về hiện trạng giảm nghèo bền vững: Trường hợp áp dụng theo chuẩn nghèo đa chiều quốc gia giai đoạn 2026 - 2030, dự kiến tỷ lệ nghèo đa chiều cả nước là 11,7% và có khoảng 350 xã có tỷ lệ nghèo trên 50%.
Trước đó, ngày 27/8, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Võ Văn Hưng cũng chủ trì cuộc họp Hội đồng thẩm định cơ sở về đề xuất chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới và giảm nghèo bền vững giai đoạn 2026 - 2035.
Trong hơn 15 năm qua, hai Chương trình mục tiêu quốc gia về nông thôn mới và giảm nghèo bền vững đã đạt được nhiều thành tựu toàn diện: tỷ lệ nghèo giảm mạnh; thay đổi rõ nét bộ mặt nông thôn; nâng cao kết cấu hạ tầng, đời sống vật chất và tinh thần người dân.
Theo Thứ trưởng, Đề án tích hợp hai chương trình thành một Chương trình Mục tiêu quốc gia giai đoạn 2026 - 2035 được Chính phủ giao Bộ Nông nghiệp và Môi trường chủ trì xây dựng là bước đi mang tính đột phá, tinh gọn bộ máy, gắn kết đa mục tiêu, huy động và sử dụng hiệu quả nguồn lực./.
Thứ trưởng Võ Văn Hưng nhấn mạnh quan điểm không chồng chéo, tránh trùng lặp, đầu tư phải xứng đáng và xứng tầm với mục tiêu của Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2026 - 2035. Trong đó, ưu tiên phát triển bao trùm, kế thừa có chọn lọc kết quả, mô hình hiệu quả, cách làm sáng tạo giai đoạn 2021 - 2025, phù hợp với lộ trình phát triển. Khi đã có nguồn vốn, địa phương cần chủ động triển khai, các cơ quan quản lý làm nhiệm vụ giám sát, phân công rõ người, rõ việc. Tránh tình trạng mỗi khi thay đổi hạng mục phải trình xin ý kiến Trung ương. |