Tăng trưởng lợi nhuận ngành ngân hàng sẽ ‘chững lại' trong nửa cuối năm

Duy Thái
Trong nửa cuối năm 2021, tốc độ tăng trưởng so với cùng kỳ của các ngân hàng sẽ chậm hơn so với nửa đầu năm. Nguyên nhân là do các yếu tố thuận lợi không nhiều như giai đoạn đầu năm. SSI Research ước tính, lợi nhuận tăng trưởng nửa cuối năm toàn ngành ngân hàng khoảng 13%.
aa

Đây là nhận định được bà Hoàng Việt Phương - Giám đốc Trung tâm Phân tích và tư vấn đầu tư, Công ty Chứng khoán SSI (SSI Research) đưa ra tại Chương trình Tư vấn đầu tư với chủ đề “Ngành ngân hàng – Điểm sáng từ câu chuyện tăng vốn”, diễn ra ngày 28/7.

Ước tính lợi nhuận tăng trưởng nửa cuối năm toàn ngành ngân hàng khoảng 13%

Theo bà Hoàng Việt Phương, ngành ngân hàng Việt Nam vẫn có nhiều dư địa tăng trưởng so với các nước khu vực. Theo đó, tỷ lệ lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) của các ngân hàng trong nước hiện nay khoảng 15, trong khi ở Thái Lan, Philippines… chỉ khoảng 10 - 11%. Cùng với đó, các ngân hàng trong nước cũng còn nhiều dư địa để tăng trưởng phí, nguồn thu khác.

Đánh giá về kết quả kinh doanh của ngành này trong nửa đầu năm, Giám đốc SSI Research cho hay, trong 6 tháng đầu năm, lợi nhuận phần lớn các ngân hàng tăng 50 - 70%. Nguyên nhân là do nửa đầu năm 2020, dịch bệnh Covid-19 bắt đầu bùng phát, lợi nhuận doanh nghiệp và ngân hàng đều bị ảnh hưởng, do đó nền dữ liệu so sánh sẽ thấp hơn. Mặt khác, lãi suất huy động giảm và ở mức thấp trong thời gian dài, điều này tạo thuận lợi cho ngành ngân hàng giảm chi phí huy động vốn.

Một nguyên nhân chủ quan cũng được Giám đốc SSI Research đưa ra là do khả năng quản trị rủi ro của ngân hàng đã tốt hơn trước, phương pháp quản trị hiệu quả hơn. Chi phí hoạt động thấp hơn và đã giảm liên tục 4 năm qua, chủ yếu liên quan đến bán lẻ. Cuối cùng, “các ngân hàng đang xây dựng các sản phẩm tài chính, bảo hiểm nhân thọ, thẻ thanh toán, giúp nguồn thu của ngân hàng đa dạng hơn” – bà Phương phân tích thêm.

bank
Bà Hoàng Việt Phương - Giám đốc SSI Research (ở giữa), chia sẻ thông tin tại chương trình.

Tuy nhiên, theo bà Hoàng Việt Phương, trong nửa cuối năm 2021, tốc độ tăng trưởng so với cùng kỳ của các nhà băng sẽ chậm hơn so với nửa đầu năm. Nguyên nhân là do các yếu tố thuận lợi không nhiều như giai đoạn đầu năm. “Chúng tôi ước tính lợi nhuận tăng trưởng nửa cuối năm toàn ngành khoảng 13%. Tuy nhiên, đến năm 2022, con số này sẽ nâng lên 21% - mức này vẫn cao hơn so với các công ty niêm yết được ước tính” – Chuyên gia của SSI Research cho biết.

“Diễn biến cổ phiếu ngân hàng có thể sẽ phân hóa. Do đó, nhà đầu tư có thể tìm cổ phiếu các ngân hàng duy trì được tăng trưởng lợi nhuận và có câu chuyện riêng như tăng vốn để tạo động lực cho dài hạn” - bà Hoàng Việt Phương khuyến nghị.

Tăng vốn rất quan trọng với các nhà băng giai đoạn này

Đề cập tới câu chuyện tăng vốn, bà Hoàng Việt Phương cho rằng, tăng vốn là yếu tố thách thức đối với các ngân hàng Việt Nam. Phần lớn các ngân hàng trong khu vực đã đạt chuẩn Basel III, trong khi Việt Nam mới phổ biến ở Basel II. Mặc khác, tốc độ nâng vốn điều lệ chưa theo kịp tốc độ tăng của tài sản rủi ro, do vậy, tăng vốn có vai trò rất quan trọng đối với nhiều ngân hàng trong giai đoạn hiện nay.

Theo ông Nguyễn Hưng – Tổng giám đốc Ngân hàng TPBank, các ngân hàng tuân thủ Basel II và một số quy định của Ngân hàng Nhà nước sẽ được ưu tiên phân bổ tín dụng mỗi năm. Phần lớn các ngân hàng Việt Nam hiện nay có hệ số an toàn vốn (CAR) khoảng 9%, một số ngân hàng có vốn nhà nước còn thấp hơn, trong khi yêu cầu tối thiểu là 8%. Như vậy, dư địa để các ngân hàng mở rộng các hoạt động hạn chế. “Đơn cử, nếu ngân hàng muốn tham gia vào hoạt động trái phiếu, danh mục rủi ro hoặc đẩy mạnh tín dụng, sẽ phải tăng lượng vốn tự có lên tương ứng để đảm bảo CAR duy trì trên 8%” - ông Nguyễn Hưng nêu ví dụ.

Theo tiêu chuẩn quy định của Ngân hàng Nhà nước, một ngân hàng muốn được xếp hạng A cần duy trì CAR trên 10% cho vốn cấp 1 và vốn cấp 2 là trên 12%. Nếu tiến tới Basel III, hệ số này sẽ tiếp tục nâng lên thêm 2,5% so với trước. Vốn cấp 1 tự có phải cao hơn. Do vậy, “ngân hàng luôn trong nhu cầu cần tăng vốn thì mới có cơ hội để tăng tín dụng và tăng trưởng tài sản. Ngân hàng nào có quy mô vốn, tài sản lớn thì sẽ có năng lực chống cự rủi ro tốt hơn trước các biến động thị trường và mới có cơ hội để tăng trưởng” - lãnh đạo TPBank cho hay./.

Duy Thái

Duy Thái

Đọc thêm

DBV ra mắt bảo hiểm ô tô điện, bảo vệ chuyên biệt cho pin và rủi ro sạc

DBV ra mắt bảo hiểm ô tô điện, bảo vệ chuyên biệt cho pin và rủi ro sạc

(TBTCO) - Tập đoàn Bảo hiểm DBV chính thức giới thiệu sản phẩm Bảo hiểm Ô tô điện, giải pháp chuyên biệt dành cho phương tiện sử dụng năng lượng xanh, hướng tới mở rộng phạm vi bảo vệ và đồng hành với khách hàng suốt quá trình sở hữu, vận hành xe.
Hơn 267 triệu cổ phiếu sắp chào bán, PGBank tiến gần mốc vốn điều lệ 10.000 tỷ đồng

Hơn 267 triệu cổ phiếu sắp chào bán, PGBank tiến gần mốc vốn điều lệ 10.000 tỷ đồng

(TBTCO) - PGBank vừa được chấp thuận chào bán thêm gần 267,3 triệu cổ phiếu ra công chúng, tổng giá trị hơn 2.672,9 tỷ đồng, chia thành 2 đợt. Nếu hoàn tất kế hoạch, vốn điều lệ ngân hàng sẽ cán mốc 10.000 tỷ đồng, tạo dư địa cho PGBank mở rộng hoạt động kinh doanh và thực hiện các kế hoạch đầu tư giai đoạn tới.
TPBank hoàn tất nền tảng triển khai IRB, tự tin bước vào giai đoạn chuyển đổi theo Thông tư 14

TPBank hoàn tất nền tảng triển khai IRB, tự tin bước vào giai đoạn chuyển đổi theo Thông tư 14

(TBTCO) - Sở hữu các chỉ số tài chính mạnh là bệ phóng vững chắc để TPBank mở rộng quy mô một cách an toàn, hiệu quả và tối ưu hóa việc sử dụng vốn. Sau khi sớm hoàn tất phương pháp Tiêu chuẩn (SA), TPBank đã hoàn thiện các nền tảng trọng yếu về vốn, dữ liệu, mô hình đo lường rủi ro, công nghệ và quản trị để sẵn sàng trở thành một trong những ngân hàng đầu tiên tại Việt Nam hoàn thành Giai đoạn chuyển đổi sang phương pháp Xếp hạng nội bộ (IRB) vào năm 2027 theo quy định Thông tư 14 của Ngân hàng Nhà nước (NHNN).
Nhóm Ngân hàng Thế giới huy động vốn tư nhân ở mức kỷ lục cho các nước đang phát triển

Nhóm Ngân hàng Thế giới huy động vốn tư nhân ở mức kỷ lục cho các nước đang phát triển

(TBTCO) - Trong năm tài khóa 2026, Nhóm Ngân hàng Thế giới đã huy động được nguồn vốn tư nhân cao nhất từ trước đến nay, đồng thời phát hành bảo lãnh ở mức cao kỷ lục để hỗ trợ các nền kinh tế đang phát triển.
Bảo Việt Nhân thọ ra mắt phiên bản mới “An sinh giáo dục” – tiếp nối 30 năm đồng hành cùng tương lai các thế hệ Việt

Bảo Việt Nhân thọ ra mắt phiên bản mới “An sinh giáo dục” – tiếp nối 30 năm đồng hành cùng tương lai các thế hệ Việt

(TBTCO) - Nhân dịp kỷ niệm 30 năm thành lập, Tổng Công ty Bảo Việt Nhân thọ chính thức ra mắt phiên bản mới của sản phẩm “An Sinh Giáo Dục”. Đây là giải pháp bảo hiểm liên kết chung chuyên biệt dành cho trẻ em, kết hợp giữa tích lũy dài hạn và bảo vệ kép cho cả con và cha/mẹ, giúp các bậc phụ huynh chủ động chuẩn bị từ sớm cho tương lai con trẻ.
Tỷ giá USD hôm nay (18/9): Tỷ giá trung tâm tăng, BoE giữ nguyên, BoJ có thể nâng lãi suất lên đỉnh 31 năm

Tỷ giá USD hôm nay (18/9): Tỷ giá trung tâm tăng, BoE giữ nguyên, BoJ có thể nâng lãi suất lên đỉnh 31 năm

(TBTCO) - Sáng 18/9, tỷ giá trung tâm tăng 5 đồng lên 25.637 đồng, trong khi chỉ số DXY nhích 0,02% lên 100,24 điểm. Ngân hàng Trung ương Anh (BoE) giữ lãi suất ở 3,75% nhưng phát tín hiệu thắt chặt hơn. Tại Nhật Bản, thị trường đánh giá khả năng Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BoJ) tăng lãi suất 25 điểm cơ bản, lên mức cao nhất khoảng 31 năm.
Fed tăng lãi suất lần đầu sau 3 năm, bài toán tỷ giá USD/VND và lãi suất cuối năm

Fed tăng lãi suất lần đầu sau 3 năm, bài toán tỷ giá USD/VND và lãi suất cuối năm

(TBTCO) - Fed tăng lãi suất lần đầu kể từ tháng 7/2023 hỗ trợ đồng USD. Tuy nhiên, áp lực tỷ giá USD/VND còn đến từ cung - cầu ngoại tệ trong nước, khi cán cân thương mại nhập siêu, nhà đầu tư nước ngoài mua 3,77 tỷ USD để rút vốn, chuyển lợi nhuận trong 7 tháng. Dư địa dự trữ ngoại hối hạn chế cũng đặt ra bài toán cân bằng tỷ giá và lãi suất.
Vietcombank trao tặng 500 triệu đồng cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn tại chương trình “Nghĩa tình Phương Nam - Cùng con đi tiếp cuộc đời” năm 2026

Vietcombank trao tặng 500 triệu đồng cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn tại chương trình “Nghĩa tình Phương Nam - Cùng con đi tiếp cuộc đời” năm 2026

(TBTCO) - Ngày 16/9/2026, tại Thành phố Hồ Chí Minh, chương trình nghệ thuật chính luận “Nghĩa tình Phương Nam - Cùng con đi tiếp cuộc đời” năm 2026 đã được tổ chức, đánh dấu chặng đường 5 năm chương trình “Cùng con đi tiếp cuộc đời” đồng hành, bảo trợ trẻ em mồ côi do đại dịch Covid-19.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 144,600 147,600
Hà Nội - PNJ 144,600 147,600
Đà Nẵng - PNJ 144,600 147,600
Miền Tây - PNJ 144,600 147,600
Tây Nguyên - PNJ 144,600 147,600
Đông Nam Bộ - PNJ 144,600 147,600
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,460 14,760
Miếng SJC Nghệ An 14,460 14,760
Miếng SJC Thái Bình 14,460 14,760
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,410 14,760
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,410 14,760
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,410 14,760
NL 99.99 13,600
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,500
Trang sức 99.9 14,070 14,670
Trang sức 99.99 14,080 14,680
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,446 14,762
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,446 14,763
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,441 1,471
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,441 1,472
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,416 1,461
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 137,653 144,653
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,936 109,736
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 89,708 99,508
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 7,948 8,928
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 75,535 85,335
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 5,128 6,108
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Cập nhật: 19/09/2026 11:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17982 18257 18841
CAD 18064 18339 18961
CHF 30990 31368 32030
CNY 0 3842 3938
EUR 29245 29465 30548
GBP 34044 34434 35374
HKD 0 3185 3388
JPY 159 162 169
KRW 0 18 20
NZD 0 14575 15165
SGD 19843 20125 20706
THB 696 759 813
USD (1,2) 25754 0 0
USD (5,10,20) 25793 0 0
USD (50,100) 25821 25835 26205
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,810 25,810 26,190
USD(1-2-5) 24,778 - -
USD(10-20) 24,778 - -
EUR 29,263 29,286 30,675
JPY 160.57 160.86 170.59
GBP 34,119 34,211 35,399
AUD 18,172 18,238 18,935
CAD 18,222 18,280 18,952
CHF 31,129 31,226 32,146
SGD 19,944 20,006 20,791
CNY - 3,807 3,953
HKD 3,247 3,257 3,394
KRW 17.31 18.05 19.65
THB 744.84 754.04 806.89
NZD 14,542 14,677 15,113
SEK - 2,603 2,697
DKK - 3,925 4,064
NOK - 2,707 2,802
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,947.58 - 6,714.78
TWD 737.16 - 892.54
SAR - 6,802.55 7,165.57
KWD - 82,316 87,591
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,790 25,820 26,200
EUR 29,305 29,423 30,618
GBP 34,129 34,266 35,290
HKD 3,247 3,260 3,378
CHF 31,017 31,142 32,082
JPY 162.53 163.18 171.16
AUD 18,165 18,238 18,831
SGD 20,035 20,115 20,705
THB 762 765 803
CAD 18,259 18,332 18,922
NZD 14,637 15,180
KRW 17.99 19.93
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25830 25830 26200
AUD 18186 18286 19208
CAD 18231 18331 19342
CHF 31126 31156 32741
CNY 3824.1 3849.1 3984.3
CZK 0 1190 0
DKK 0 4010 0
EUR 29420 29450 31176
GBP 34274 34324 36077
HKD 0 3305 0
JPY 161.19 161.69 172.2
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2820 0
NZD 0 14665 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2660 0
SGD 19984 20114 20836
THB 0 725.5 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14460000 14460000 14760000
SBJ 13000000 13000000 14760000
Cập nhật: 19/09/2026 11:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30