Techcombank tiếp tục giữ vị thế dẫn đầu nhờ khả năng huy động vốn và thanh toán

(TBTCO) - Ngày 12/8/2024, Tổ chức uy tín FiinRatings đã nâng xếp hạng Tín nhiệm dài hạn đối với Ngân hàng Thương mại Cổ phần Kỹ thương Việt Nam (Techcombank) từ A+ lên ‘AA-’, trong bối cảnh mức xếp hạng cơ bản cho ngành ngân hàng Việt Nam chỉ ở mức “a-“.
aa

Thế mạnh về huy động vốn, thanh khoản được đảm bảo

Theo FiinRatings, xếp hạng tín nhiệm cao ở mức AA- của Techcombank, phản ánh hồ sơ tín dụng của Ngân hàng sẽ duy trì ổn định trong 24 tháng tới, nhờ vào vị thế kinh doanh vững chắc, cùng thế mạnh về hồ sơ vốn, thanh khoản và khả năng sinh lời.

Techcombank tiếp tục giữ vị thế dẫn đầu nhờ khả năng huy động vốn và thanh toán

“Hồ sơ nguồn vốn và thanh khoản của Techcombank có sự cải thiện nhất định so với thời điểm xếp hạng tín nhiệm ban đầu, nhờ vào việc ngân hàng không ngừng thực hiện các kế hoạch gia tăng thêm nguồn vốn ổn định, cùng với việc thanh khoản của Techcombank vẫn được đảm bảo qua kịch bản kiểm tra sức chịu đựng của FiinRatings” – công bố xếp hạng đánh giá.

Khả năng đáp ứng các nhu cầu sử dụng vốn có thể phát sinh từ nguồn vốn ổn định sẵn có của Techcombank (bao gồm nguồn vốn từ tiền gửi khách hàng, vốn chủ sở hữu, vay dài hạn liên ngân hàng và nợ vay dài hạn khác) cho thấy sự cải thiện.

Cụ thể, ngân hàng luôn chủ động phát triển các sản phẩm và tính năng giúp gia tăng việc gắn kết của khách hàng, thúc đẩy nhu cầu tiền gửi tại Techcombank, đồng thời tăng cường năng lực huy động vốn nước ngoài và trên thị trường vốn. Điều này giúp ghi nhận sự tăng trưởng trong các cấu phần của nguồn vốn ổn định và giảm phụ thuộc vào nguồn vốn bán buôn ngắn hạn kém ổn định hơn.

Cung với đó, Techcombank không ngừng gia tăng nguồn vốn ổn định từ khách hàng bán lẻ. Tiền gửi khách hàng (không tính các khoản tiền gửi ký quỹ) của Techcombank tăng 28.8% so với cuối Q2/2023, đạt hơn 475 nghìn tỷ, duy trì ổn định quanh mức 53% tổng nguồn vốn chủ và huy động của ngân hàng.

Ngoài ra, Techcombank cũng đã và đang triển khai sản phẩm chứng chỉ tiền gửi Bảo Lộc, một sản phẩm có tính chất của tiền gửi kỳ hạn với mức lãi suất thả nổi, giúp thu hút thêm nhiều khoản tiền gửi cá nhân và doanh nghiệp.

Với số dư chứng chỉ tiền gửi Bảo Lộc tại cuối quý II/2024 đạt gần 58 nghìn tỷ đồng, tỷ trọng điều chỉnh (theo công thức của FiinRatings) tiền gửi trong tổng nền vốn chủ và vốn huy động của Techcombank đạt tới 59.4%. FiinRatings ước tính, tỷ trọng tiền gửi khách hàng trong tổng nguồn vốn ổn định sẵn có tại Techcombank sẽ tiếp tục duy trì quanh mức 65%-75% trong giai đoạn hai năm tới.

Ngân hàng cũng gia tăng tỷ trọng dài hạn của nguồn vốn bán buôn dài hạn và nợ vay, giảm phụ thuộc vào nguồn vốn bán buôn ngắn hạn. Tại cuối quý II/2024, tỷ trọng nguồn vốn bán buôn ngắn hạn trong cơ cấu vốn hiện tại của ngân hàng đã giảm xuống 19% (quý 2/2023: 21,7%), và thấp hơn so với mức trung bình ngành khoảng 20%.

Techcombank đã tiếp tục tận dụng thế mạnh cốt lõi của mình về cơ sở khách hàng, và chiến lược cho vay có sự mở rộng lành mạnh hơn, do đó hỗ trợ sự ổn định và đa dạng hóa kinh doanh của Ngân hàng. “Những nỗ lực đa dạng hóa của ngân hàng cũng được thể hiện qua hoạt động tín dụng doanh nghiệp, với việc cho vay vào các ngành ngoài bất động sản trở thành động lực tăng trưởng tín dụng trong năm 2023-2024, và dự kiến sẽ là chiến lược ưu tiên hàng đầu của ngân hàng trong trung hạn” – FiinRatings đánh giá.

Techcombank tiếp tục giữ vị thế dẫn đầu nhờ khả năng huy động vốn và thanh toán

Năng lực quản trị rủi ro tốt so với trung bình ngành

Theo FiinRatings, vị thế rủi ro của Techcombank được duy trì đánh giá ở mức "Phù hợp", phản ánh năng lực quản trị rủi ro tốt so với mặt bằng chung ngành, cùng với những nỗ lực đa dạng hóa trong chính sách cho vay gần đây giúp hạn chế rủi ro tập trung trong hoạt động cho vay vào các lĩnh vực bất động sản, xây dựng và các ngành liên quan.

Khả năng sinh lời của Techcombank được duy trì tốt hơn mức trung bình của ngành, nhờ vào nền tảng bán lẻ mạnh mẽ và sự cải thiện liên tục về thu nhập từ phí. Các chỉ số về khả năng sinh lời của Techcombank vẫn duy trì trên mức trung bình của ngành. Đáng chú ý, hệ số NIM của ngân hàng có sự phục hồi lên 4,4% và duy trì ở mức đầu ngành trong nửa đầu năm 2024 (mức trung bình của ngành là 3,2%).

Hồ sơ vốn và khả năng sinh lời tiếp tục là những điểm mạnh chính về tín dụng của Techcombank. Tính bền vũng của cấu trúc vốn tại Techcombank được thể hiện qua tỷ lệ an toàn vốn vẫn duy trì ở mức đầu ngành, ngay cả khi có áp lực chi trả cổ tức bằng tiền mặt trong nửa đầu năm 2024. Tỷ lệ CAR của Techcombank đạt 14,5%, cao hơn mức trung bình của ngành, khoảng 12%, tính đến cuối quý 2/2024.

Techcombank tiếp tục giữ vị thế dẫn đầu nhờ khả năng huy động vốn và thanh toán

Cấu trúc vốn bền vững của Techcombank, với 98% đến từ vốn cấp 1, được hỗ trợ mạnh mẽ bởi công tác kiểm sát nội bộ chặt chẽ của đội ngũ quản lý trong cả kịch bản bình thường và kịch bản căng thẳng.

Dựa trên việc Techcombank luôn đặt mục tiêu về quản lý và giám sát chặt chẽ tỷ lệ an toàn vốn (CAR) cùng với việc thiết lập các mức cảnh báo nội bộ, FiinRatings nhận định ngân hàng sẽ tiếp tục duy trì được tỷ lệ CAR trên mức trung bình của ngành và quanh khoảng 14-15% trong giai đoạn 2024-2025.

FiinRatings áp dụng mức xếp hạng cơ bản cho ngành ngân hàng ở Việt Nam ở mức ‘a-’, phản ánh những đánh giá về rủi ro từ môi trường vĩ mô và rủi ro đặc thù ngành mà các ngân hàng hoạt động ở Việt Nam phải đối mặt. “Triển vọng về hồ sơ tín dụng của các ngân hàng thương mại ở Việt Nam dự kiến sẽ tiếp tục dy trì ổn định nhờ vào các chính sách hỗ trợ đã và đang được thực hiện của Chính phủ, cũng như kỳ vọng về việc phục hồi kinh tế trong trung hạn, mặc dù tồn tại những thách thức trong ngắn hạn” – FiiRatings cho biết.

Mức điểm xếp hạng tín nhiệm đơn lẻ của các ngân hàng thương mại Việt Nam cũng dự kiến sẽ duy trì ổn định, mặc dù vậy, FiinRatings đánh giá có sự phân hóa nhất định về chất lượng tài sản, do đó ảnh hưởng đến chất lượng nguồn vốn và khả năng sinh lời tại các ngân hàng.

Hat-trick giải thưởng quốc tế uy tín “Ngân hàng tốt nhất Việt Nam”

Techcombank kết thúc nửa đầu năm 2024 với khoảng 14,4 triệu khách hàng, bổ sung thêm khoảng gần 1,0 triệu khách hàng mới trong kỳ. 55% khách hàng cá nhân gia nhập thông qua nền tảng số và 44% từ kênh chi nhánh, đặc biệt nhờ chương trình mở rộng nhóm khách hàng nhà bán lẻ (merchant).

Theo Tổng Giám đốc Jens Lottner, chiến lược vượt trội của Techcombank đã được các tổ chức quốc tế uy tín hàng đầu ghi nhận, đánh dấu Techcombank trở thành ngân hàng Việt Nam đầu tiên được cả ba tổ chức danh giá Euromoney, FinanceAsia và Global Finance vinh danh là “Ngân hàng tốt nhất Việt Nam” trong cùng một năm (2024).

Các giải thưởng uy tín trên đã phản ánh sự ghi nhận của quốc tế đối với kết quả kinh doanh tích cực, khả năng sinh lời, cũng như khẳng định chất lượng tài sản, mô hình quản trị rủi ro vượt trội và sức mạnh của bảng cân đối kế toán của Techcombank.

Thanh Thủy

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 29/3: Giá vàng chạm ngưỡng 172,8 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 29/3: Giá vàng chạm ngưỡng 172,8 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng ngày 29/3 tiếp tục tăng tại nhiều doanh nghiệp lớn, đưa mặt bằng giao dịch phổ biến lên ngưỡng 172,8 triệu đồng/lượng.
Nhóm Ngân hàng Thế giới sẵn sàng triển khai hỗ trợ quy mô lớn ứng phó khủng hoảng Trung Đông

Nhóm Ngân hàng Thế giới sẵn sàng triển khai hỗ trợ quy mô lớn ứng phó khủng hoảng Trung Đông

(TBTCO) - Xung đột tại Trung Đông đang đẩy giá năng lượng, phân bón tăng mạnh, làm gián đoạn chuỗi cung ứng và gia tăng chi phí toàn cầu. Nhóm Ngân hàng Thế giới khẳng định sẽ triển khai hỗ trợ quy mô lớn, kết hợp tài chính, chính sách và khu vực tư nhân để giúp các nền kinh tế vượt qua cú sốc và phục hồi tăng trưởng.
Giá vàng hôm nay ngày 28/3: Giá vàng tăng nhẹ từ 100.000 - 600.000 đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 28/3: Giá vàng tăng nhẹ từ 100.000 - 600.000 đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng ngày 28/3 tăng trở lại tại nhiều doanh nghiệp, với mức điều chỉnh phổ biến 100.000 - 600.000 đồng/lượng.
"Big 4" dự kiến bơm thêm 1 triệu tỷ đồng, giữ ổn định lãi suất vẫn là thách thức

"Big 4" dự kiến bơm thêm 1 triệu tỷ đồng, giữ ổn định lãi suất vẫn là thách thức

Với tỷ trọng 42,3% tổng dư nợ, nhóm “big 4” dự kiến giải ngân thêm khoảng 1 triệu tỷ đồng năm 2026 nhằm hỗ trợ tăng trưởng. Tuy nhiên, áp lực giữ ổn định mặt bằng lãi suất cho vay vẫn hiện hữu, khi chi phí vốn gia tăng, lãi suất huy động tăng, đặc biệt chi phí dự phòng rủi ro nợ xấu chiếm tới 18 - 20% cơ cấu chi phí của ngành.
Sacombank có tân Phó Tổng giám đốc người Pháp

Sacombank có tân Phó Tổng giám đốc người Pháp

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank, mã Ck: STB) vừa công bố và trao quyết định bổ nhiệm ông Loic Faussier giữ chức Phó Tổng giám đốc, phụ trách mảng Quản trị rủi ro, pháp chế và tuân thủ.
PJICO đặt mục tiêu đạt gần 5.000 tỷ đồng phí bảo hiểm gốc, chia cổ tức 12%

PJICO đặt mục tiêu đạt gần 5.000 tỷ đồng phí bảo hiểm gốc, chia cổ tức 12%

Dù chịu tác động từ thiên tai, cạnh tranh từ thị trường bảo hiểm phi nhân thọ và biến động nội bộ, PJICO vẫn hoàn thành vượt nhiều chỉ tiêu năm 2025. Bước sang 2026, PJICO đặt mục tiêu doanh thu phí bảo hiểm gốc đạt 4.989 tỷ đồng, tăng 8%; lợi nhuận 324,5 tỷ đồng và cổ tức dự kiến 12%, đồng thời kiện toàn Hội đồng quản trị.
Hải Phòng phấn đấu tỷ lệ bao phủ Bảo hiểm y tế đạt 95,5% dân số trở lên trong năm 2026

Hải Phòng phấn đấu tỷ lệ bao phủ Bảo hiểm y tế đạt 95,5% dân số trở lên trong năm 2026

(TBTCO) - UBND TP. Hải Phòng vừa ban hành Kế hoạch số 95/KH-UBND về việc triển khai thực hiện chỉ tiêu, nhiệm vụ công tác bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp năm 2026 trên địa bàn thành phố. Kế hoạch đặt mục tiêu tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế đạt 95,5% dân số trở lên.
Cho thuê tài chính “chia tải” vốn trung - dài hạn, gánh bớt áp lực cho ngân hàng

Cho thuê tài chính “chia tải” vốn trung - dài hạn, gánh bớt áp lực cho ngân hàng

(TBTCO) - Dòng vốn cho thuê tài chính nổi lên như kênh bổ trợ quan trọng trong bối cảnh ngành ngân hàng “lấy ngắn nuôi dài”, với gần 50% dư nợ là trung - dài hạn và tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung - dài hạn nhiều nơi tiến sát 30%. Với dư nợ 45,7 nghìn tỷ đồng cuối năm 2025 và tăng trưởng ổn định, kênh này trở thành “mạch dẫn” vốn cho doanh nghiệp sản xuất thực và san sẻ áp lực cho hệ thống ngân hàng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,980 17,280
Kim TT/AVPL 16,980 17,280
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,980 17,280
Nguyên Liệu 99.99 16,000 16,200
Nguyên Liệu 99.9 15,950 16,050
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,800 17,200
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,750 17,150
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,680 17,130
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 169,800 172,800
Hà Nội - PNJ 169,800 172,800
Đà Nẵng - PNJ 169,800 172,800
Miền Tây - PNJ 169,800 172,800
Tây Nguyên - PNJ 169,800 172,800
Đông Nam Bộ - PNJ 169,800 172,800
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,980 17,280
Miếng SJC Nghệ An 16,980 17,280
Miếng SJC Thái Bình 16,980 17,280
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,980 17,280
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,980 17,280
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,980 17,280
NL 99.90 15,820
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,850
Trang sức 99.9 16,470 17,170
Trang sức 99.99 16,480 17,180
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 1,728
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,698 17,282
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,698 17,283
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,696 1,726
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,696 1,727
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,676 1,711
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 162,906 169,406
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 119,588 128,488
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 10,761 11,651
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 95,631 104,531
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 91,011 99,911
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,606 71,506
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 1,728
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 1,728
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 1,728
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 1,728
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 1,728
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 1,728
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 1,728
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 1,728
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 1,728
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 1,728
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 1,728
Cập nhật: 29/03/2026 14:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17564 17837 18427
CAD 18421 18698 19322
CHF 32313 32696 33362
CNY 0 3470 3830
EUR 29682 29954 30993
GBP 34118 34508 35456
HKD 0 3232 3435
JPY 157 161 167
KRW 0 16 18
NZD 0 14824 15409
SGD 19889 20171 20705
THB 711 774 838
USD (1,2) 26076 0 0
USD (5,10,20) 26117 0 0
USD (50,100) 26145 26165 26355
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,105 26,135 26,355
EUR 29,794 29,914 31,088
GBP 34,482 34,620 35,622
HKD 3,296 3,309 3,424
CHF 32,542 32,673 33,584
JPY 161.13 161.78 169.02
AUD 17,754 17,825 18,409
SGD 20,118 20,199 20,775
THB 779 782 816
CAD 18,653 18,728 19,293
NZD 14,910 15,438
KRW 16.71 18.33
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26221 26221 26355
AUD 17805 17905 18828
CAD 18660 18760 19776
CHF 32627 32657 34239
CNY 3752.7 3777.7 3912.9
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29887 29917 31643
GBP 34541 34591 36352
HKD 0 3355 0
JPY 161.24 161.74 172.25
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 14990 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2790 0
SGD 20087 20217 20939
THB 0 744.8 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 16860000 16860000 17160000
SBJ 15000000 15000000 17160000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,145 26,195 26,355
USD20 26,145 26,195 26,355
USD1 23,845 26,195 26,355
AUD 17,834 17,934 19,072
EUR 30,015 30,015 31,464
CAD 18,599 18,699 20,032
SGD 20,145 20,295 21,310
JPY 161.62 163.12 167.88
GBP 34,412 34,762 35,673
XAU 16,858,000 0 17,162,000
CNY 0 3,659 0
THB 0 781 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 29/03/2026 14:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80