Thị trường tài chính – tiền tệ tuần 31/10 – 4/11: Sức nóng lãi suất từ FED, tỷ giá neo cao, chứng khoán trong chu kỳ dò đáy

Chí Tín
(TBTCO) - Một trong những điểm đáng chú ý tuần vừa qua trên thị trường tài chính – tiền tệ là động thái tăng lãi suất của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED), theo đó, các nhà đầu tư vẫn tiếp tục quan tâm các diễn biến tiếp theo về phản ứng lãi suất trong nước.
aa

Lãi suất, dõi theo tác động từ động thái của FED

Trong tuần qua, lãi suất vẫn là tâm điểm đáng chú ý trên thị trường tiền tệ, đặc biệt với điểm nhấn là động thái tăng lãi suất cơ bản của FED hôm 2/11. Theo đó, FED đã tiếp tục nâng lãi suất tham chiếu thêm 0,75 điểm phần trăm, lên mức khoảng 3,75-4% và cũng là mức lãi suất cao nhất trong vòng gần 15 năm qua.

Thị trường tài chính – tiền tệ tuần 31/10 – 4/11: Sức nóng lãi suất từ FED, tỷ giá neo cao, chứng khoán trong chu kỳ dò đáy
FED có thể sẽ còn có những tác động với lãi suất trong nước trong tuần tới. Ảnh: T.L

Tiếp ngay sau động thái tăng lãi suất của FED, Ngân hàng Trung ương Anh (BoE) cũng đã quyết định tăng lãi suất thêm 0,75 điểm phần trăm, là mức tăng mạnh nhất kể từ 1989. Đây là lần tăng lãi suất thứ tám liên tiếp của BoE, đưa lãi suất cơ bản của Anh đạt 3%.

FED đã có 4 lần tăng lãi suất liên tiếp với mức tăng cao 0,75 điểm phần trăm

Với sự tăng lãi suất lần này, FED đã tăng lãi suất tổng cộng 6 lần, trong đó có 4 lần liên tiếp tăng với mức cao tới 0,75 điểm phần trăm, được đưa ra trong các tháng 6, tháng 7, tháng 9 và tháng 11.

Tại thị trường trong nước, cuộc chạy đua tăng lãi suất huy động đang diễn ra từ trước đó, đặc biệt sau khi Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) điều chỉnh tăng lãi suất điều hành từ ngày 25/10.

Hiện nay, lãi suất cao nhất được Ngân hàng TMCP Sài Gòn (SCB) đưa ra ở mức 9,3% đối với tiền gửi tiết kiệm online kỳ hạn 18 tháng trở lên. Một số ngân hàng khác cũng có lãi suất xấp xỉ 9%, như Ngân hàng TMCP Đại chúng (PVcomBank) có lãi suất cao nhất 8,75%, Ngân hàng TMCP Kiên Long có lãi suất cao nhất là 8,8%... Ngoài ra, một số ngân hàng khác cũng có những sản phẩm ưu đãi lãi suất thậm chí trên 10% (ví dụ chỉ áp dụng với 1 – 3 tháng đầu tiên, hoặc phải gửi giá trị tiền rất lớn).

Với động thái tăng lãi suất vừa qua của FED và BoE, các nhà đầu tư sẽ tiếp tục quan tâm đến diễn biến lãi suất của các ngân hàng trong nước trong tuần tới.

Tỷ giá neo cao và biến động nhẹ

Trong khi đó, tỷ giá trên thị trường chính thức trong tuần qua tuy không có biến động mạnh, nhưng đây là mức tỷ giá đã được thiết lập mặt bằng mới sau khi NHNN nới biên độ tỷ giá từ giữa tháng 10.

Sau một số ngày leo dốc từ thời điểm NHNN nới biên độ, tỷ giá chỉ biến động khá nhẹ trong tuần vừa qua. Theo đó, tỷ giá trung tâm tăng nhẹ trong 2 ngày đầu tuần, giảm trong các ngày thứ tư và thứ năm và tăng trở lại vào hôm thứ sáu (4/11). Tính chung trong cả tuần vừa qua, tỷ giá trung tâm hôm 4/11 vẫn giữ ở mức đúng bằng với trước đó 1 tuần, cụ thể 23.693 đồng/USD.

Tại Vietcombank, tỷ giá USD tăng trong 2 ngày đầu tuần (thứ hai và thứ ba), giảm trong 2 ngày tiếp theo (thứ tư và thứ năm) và sau đó tăng trở lại vào hôm thứ sáu. Biên độ biến động tỷ giá tại Vietcombank trong tuần vừa rồi cũng không lớn. Tính chung cả tuần, tỷ giá USD tại ngân hàng này trong ngày thứ sáu (4/11) cũng bằng đúng với tỷ giá của 1 tuần trước đó (ngày 28/10), cụ thể là 24.567/24.597/24.877 đồng/USD (mua tiền mặt/mua chuyển khoản/bán ra).

Giá vàng trồi sụt trong tuần

Trong tuần qua, giá vàng có những diễn biến trồi sụt bất thường. Cụ thể, vàng miếng SJC của Công ty Vàng bạc đá quý Sài Gòn đã có biến động giảm trong 2 ngày đầu tuần, tăng trong 2 ngày tiếp theo, sau đó lại giảm vào sáng thứ 6 nhưng lại tăng trở lại vào buổi chiều. Đến cuối giờ chiều ngày 4/11, giá vàng SJC ghi nhận ở mức 66,3/67,3 triệu đồng/lượng (mua vào/bán ra). Mức giá này cao hơn khoảng 200 đồng/lượng so với giá sáng hôm đầu tuần (31/10).

Trong khi đó, diễn biến thị trường nước ngoài đang có những tín hiệu không có lợi cho giá vàng. Giá vàng trên thị trường quốc tế đã giảm xuống đáy 2 năm rưỡi sau khi Mỹ tăng lãi suất và phát đi tín hiệu chính sách tiền tệ cứng rắn trong thời gian tới. Vàng giảm giá chủ yếu do đồng USD tăng mạnh và đang ở vùng cao nhất trong vòng 20 năm qua.

Trong khi đó, động thái tăng lãi suất của FED vẫn là yếu tố làm cho đồng USD tăng giá và theo các thông điệp từ FED, lãi suất của Mỹ sẽ duy trì ở mức rất cao trong cả năm 2023, thậm chí sang 2024.

Thị trường tài chính – tiền tệ tuần 31/10 – 4/11: Sức nóng lãi suất từ FED, tỷ giá neo cao, chứng khoán trong chu kỳ dò đáy
Thị trường chứng khoán vẫn đang trong chu kỳ dò đáy. Ảnh: T.L

Chứng khoán chưa tìm thấy đáy

Trong khi đó với thị trường chứng khoán, phiên cuối tuần (4/11) ghi nhận VN-Index giảm xuống 997,15 điểm, tương ứng mức giảm trên 2,22%, nhưng thanh khoản đã ở mức cao hơn trung bình 20 phiên liền trước đó.

Nếu so với trước đó 1 tuần (phiên 28/10), chỉ số VN-Index đã giảm 32,34 điểm. Khối lượng giao dịch trên sàn HOSE là hơn 753 triệu cổ phiếu, tương ứng với giá trị giao dịch gần 13 nghìn tỷ đồng. Trên sàn HOSE trong phiên 4/11 có 56 cổ phiếu tăng giá, 46 cổ phiếu đứng giá và có tới 410 cổ phiếu giảm giá.

Với diễn biến chứng khoán hiện nay, thị trường vẫn chưa xác nhận đáy mà vẫn đang nằm trong vùng ngừng rơi, các chuyên gia vẫn khuyến nghị các nhà đầu tư lúc này vẫn cần tiếp tục quan sát thêm chờ thị trường có tín hiệu bùng nổ mới.

Có thể phân tán rủi ro vào nhóm các doanh nghiệp nắm nhiều tiền mặt

Trong bối cảnh hiện nay, một số quan điểm đầu tư cho rằng, trong thời buổi lãi suất tăng như hiện tại, nhà đầu tư có thể phân tán rủi ro bằng cách đầu tư vào những doanh nghiệp nắm giữ nhiều tiền mặt, vì đây là những công ty sẽ hưởng lợi hơn so với các doanh nghiệp khác từ đầu tư tài chính thông qua các khoản gửi tiết kiệm ngân hàng. Trong khi đó, thị trường khi bước vào giai đoạn phục hồi, nhóm các cổ phiếu này cũng có thể sẽ phục hồi theo diễn biến chung của thị trường.

Chí Tín

Đọc thêm

Từ dữ liệu đến dòng tiền, rút ngắn đường tiếp cận vốn cho doanh nghiệp vừa và nhỏ

Từ dữ liệu đến dòng tiền, rút ngắn đường tiếp cận vốn cho doanh nghiệp vừa và nhỏ

(TBTCO) - Thay vì phụ thuộc vào tài sản thế chấp hay hồ sơ tín dụng mỏng vốn khiến nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ khó tiếp cận vốn, ngành ngân hàng đang đẩy mạnh số hóa và liên thông dữ liệu các ngành. Bước đi này giúp nhà băng "đọc vị" chính xác sức khỏe tài chính và dòng tiền doanh nghiệp, rút ngắn đường tiếp cận vốn cho doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Vietcombank nối dài hành trình chuyển đổi số cùng tiểu thương trên cả nước

Vietcombank nối dài hành trình chuyển đổi số cùng tiểu thương trên cả nước

(TBTCO) - Từ Thái Nguyên, Đồng Tháp, Đắk Lắk đến Hưng Yên, Vietcombank đã đồng hành cùng chuỗi Chương trình Hỗ trợ tiểu thương ứng dụng thương mại điện tử, đưa các giải pháp tài chính số đến gần hơn với hoạt động kinh doanh hằng ngày, góp phần hình thành hệ sinh thái thương mại hiện đại, minh bạch và bền vững.
Giá vàng hôm nay ngày 27/9: Giá vàng thế giới và trong nước ít biến động

Giá vàng hôm nay ngày 27/9: Giá vàng thế giới và trong nước ít biến động

(TBTCO) - Vàng thế giới gần như đi ngang ở mức 4.284 USD/ounce. Trong nước, vàng miếng ổn định, vàng nhẫn giảm nhẹ tại một số doanh nghiệp.
Vietcombank khánh thành nhà bán trú Trường Tiểu học Co Mạ, tiếp sức học sinh vùng cao Sơn La

Vietcombank khánh thành nhà bán trú Trường Tiểu học Co Mạ, tiếp sức học sinh vùng cao Sơn La

(TBTCO) - Ngày 19/9/2026, tại điểm trường Po Mậu, Trường Tiểu học Co Mạ, xã Co Mạ, tỉnh Sơn La, Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) phối hợp với Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) và UBND xã Co Mạ tổ chức Lễ khánh thành công trình Nhà bán trú Trường Tiểu học Co Mạ. Công trình có tổng mức đầu tư 2 tỷ đồng do Vietcombank phối hợp với UBCKNN tài trợ, góp phần cải thiện điều kiện sinh hoạt, học tập cho học sinh vùng cao.
Chi phí vốn ngân hàng ngày càng đắt đỏ, khó quay lại vùng thấp

Chi phí vốn ngân hàng ngày càng đắt đỏ, khó quay lại vùng thấp

(TBTCO) - Chi phí lãi của 27 ngân hàng niêm yết tăng mạnh 49% nửa đầu năm, khi nhiều nguồn vốn trở nên đắt đỏ hơn. Trước sức ép này, các ngân hàng tìm cách mở rộng kênh huy động, giữ chân, thu hút thêm CASA bằng các sản phẩm "lai". Tuy nhiên, chi phí vốn được dự báo khó sớm trở lại vùng thấp.
Thị trường tiền tệ tuần 21 - 25/9: Lãi suất qua đêm rơi về 1% khi mở mạnh “van” thanh khoản, tỷ giá vẫn dè chừng Fed

Thị trường tiền tệ tuần 21 - 25/9: Lãi suất qua đêm rơi về 1% khi mở mạnh “van” thanh khoản, tỷ giá vẫn dè chừng Fed

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 21 - 25/9 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng hơn 34.329 tỷ đồng qua kênh OMO, góp phần kéo lãi suất qua đêm xuống 1,1%/năm. Trong khi đó, tỷ giá thu hẹp nhịp tăng dù chỉ số DXY vẫn quanh 101 điểm, khi thị trường thận trọng trước khả năng Fed tiếp tục tăng lãi suất.
MB “sang tay” toàn bộ cổ phần Bảo hiểm AAA cho công ty con

MB “sang tay” toàn bộ cổ phần Bảo hiểm AAA cho công ty con

(TBTCO) - MB vừa thông qua việc chuyển nhượng toàn bộ cổ phần Bảo hiểm AAA cho công ty con MB Capital. Giao dịch diễn ra trong bối cảnh Bảo hiểm AAA kinh doanh cốt lõi suy giảm, lợi nhuận trước thuế 6 tháng chỉ đạt 4,8 tỷ đồng. Đáng chú ý, đến cuối quý II/2026, doanh nghiệp vẫn ghi nhận lỗ lũy kế hơn 1.230 tỷ đồng.
Giá vàng hôm nay ngày 26/9: Vàng thế giới tăng hơn 20 USD, trong nước phân hóa

Giá vàng hôm nay ngày 26/9: Vàng thế giới tăng hơn 20 USD, trong nước phân hóa

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng hơn 20 USD/ounce, trong khi vàng miếng trong nước đứng giá và vàng nhẫn biến động trái chiều.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 139,400 ▼2000K 142,400 ▼2000K
Hà Nội - PNJ 139,400 ▼2000K 142,400 ▼2000K
Đà Nẵng - PNJ 139,400 ▼2000K 142,400 ▼2000K
Miền Tây - PNJ 139,400 ▼2000K 142,400 ▼2000K
Tây Nguyên - PNJ 139,400 ▼2000K 142,400 ▼2000K
Đông Nam Bộ - PNJ 139,400 ▼2000K 142,400 ▼2000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,940 ▼200K 14,240 ▼200K
Miếng SJC Nghệ An 13,940 ▼200K 14,240 ▼200K
Miếng SJC Thái Bình 13,940 ▼200K 14,240 ▼200K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,890 ▼200K 14,290 ▼200K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,890 ▼200K 14,290 ▼200K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,890 ▼200K 14,290 ▼200K
NL 99.99 13,400 ▼150K
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,300 ▼150K
Trang sức 99.9 13,600 ▼200K 14,200 ▼200K
Trang sức 99.99 13,610 ▼200K 14,210 ▼200K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 ▼20K 1,424 ▼20K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,394 ▼20K 14,242 ▼200K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,394 ▼20K 14,243 ▼200K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,389 ▼20K 1,419 ▼20K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,389 ▼20K 142 ▼2K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,364 ▼20K 1,409 ▼20K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 132,505 ▼1980K 139,505 ▼1980K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 96,036 ▼1500K 105,836 ▼1500K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 86,172 ▼1360K 95,972 ▼1360K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 76,308 ▼1220K 86,108 ▼1220K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 72,503 ▼1166K 82,303 ▼1166K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,111 ▼834K 58,911 ▼834K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 ▼20K 1,424 ▼20K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 ▼20K 1,424 ▼20K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 ▼20K 1,424 ▼20K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 ▼20K 1,424 ▼20K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 ▼20K 1,424 ▼20K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 ▼20K 1,424 ▼20K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 ▼20K 1,424 ▼20K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 ▼20K 1,424 ▼20K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 ▼20K 1,424 ▼20K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 ▼20K 1,424 ▼20K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 ▼20K 1,424 ▼20K
Cập nhật: 28/09/2026 20:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17679 17952 18531
CAD 17806 18080 18699
CHF 30592 30968 31610
CNY 0 3828 3924
EUR 28909 29127 30208
GBP 33627 34015 34953
HKD 0 3180 3383
JPY 158 162 169
KRW 0 18 20
NZD 0 14388 14976
SGD 19779 20061 20631
THB 689 752 805
USD (1,2) 25709 0 0
USD (5,10,20) 25748 0 0
USD (50,100) 25776 25790 26160
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,775 25,775 26,155
USD(1-2-5) 24,744 - -
USD(10-20) 24,744 - -
EUR 28,958 28,981 30,354
JPY 161.06 161.35 171.13
GBP 33,832 33,924 35,098
AUD 17,879 17,944 18,631
CAD 17,993 18,051 18,718
CHF 30,848 30,944 31,860
SGD 19,890 19,952 20,736
CNY - 3,794 3,939
HKD 3,243 3,253 3,389
KRW 17.6 18.35 19.97
THB 736.97 746.07 798.37
NZD 14,375 14,508 14,947
SEK - 2,563 2,655
DKK - 3,884 4,022
NOK - 2,680 2,775
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,939.52 - 6,704.16
TWD 737.02 - 892.94
SAR - 6,798.21 7,161.14
KWD - 82,097 87,360
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,760 25,790 26,170
EUR 29,026 29,143 30,351
GBP 33,769 33,905 34,924
HKD 3,244 3,257 3,375
CHF 30,786 30,910 31,841
JPY 160.68 161.33 169.31
AUD 17,884 17,956 18,548
SGD 19,966 20,046 20,637
THB 757 760 797
CAD 18,022 18,094 18,682
NZD 14,458 14,997
KRW 18.31 20.30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25790 25790 26150
AUD 17863 17963 18889
CAD 17986 18086 19102
CHF 30834 30864 32445
CNY 3810.1 3835.1 3970.3
CZK 0 1170 0
DKK 0 3970 0
EUR 29087 29117 30842
GBP 33925 33975 35745
HKD 0 3315 0
JPY 161.9 162.4 172.91
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2745 0
NZD 0 14497 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2635 0
SGD 19934 20064 20787
THB 0 717.7 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14050000 14050000 14350000
SBJ 13000000 13000000 14350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,671 25,791 26,150
USD20 25,641 25,791 26,150
USD1 25,621 25,791 26,150
AUD 17,917 18,017 19,130
EUR 28,888 28,988 30,648
CAD 17,941 18,041 19,349
SGD 19,872 19,872 20,709
JPY 161.69 163.19 168.73
GBP 33,757 33,907 34,970
XAU 13,938,000 0 14,242,000
CNY 0 3,717 0
THB 0 753 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 28/09/2026 20:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30