Tỷ giá VND vẫn tăng bất chấp DXY hạ nhiệt và diễn biến thời gian tới

Chí Tín
(TBTCO) - Chỉ số USD Index (DXY) đã đi vào giai đoạn hạ nhiệt, nhưng đà tăng của tỷ giá trong nước có những diễn biến phức tạp và thiết lập các mốc mới. Trong bối cảnh này, câu chuyện tỷ giá lại được giới đầu tư đặc biệt quan tâm nhiều và đặc biệt các vấn đề về điều hành tỷ giá của Ngân hàng Nhà nước (NHNN).
aa

Chỉ số DXY qua thời kỳ nóng

Thời gian quan diễn biến chỉ số DXY đo lường sức mạnh của đồng USD đã có phần hạ nhiệt hơn sau giai đoạn tăng nóng cuối tháng 4/2024. Mặc dù vậy, tỷ giá VND/USD lại không hoàn toàn hạ nhiệt theo diễn biến của chỉ số này và vì thế, giới tài chính và kinh doanh trong nước vẫn mang những trạng thái tâm lý khác nhau xoay quanh câu chuyện của tỷ giá.

Cụ thể, chỉ số DXY sau một giai đoạn tăng nóng và đạt đỉnh trên 106 điểm vào cuối tháng 4/2024, chỉ số DXY đã đi vào xu hướng từ đầu tháng 5 đến nay và hiện đã về dưới mốc 105 điểm.

DXY là chỉ số so sánh tương quan giữa đồng USD với 6 đồng tiền chủ chốt của thế giới, bao gồm EUR của châu Âu, JPY của Nhật Bản, GBP của Anh, CAD của Canada, SEK của Thụy Điển và CHF của Thụy Sĩ, trong đó đồng EUR đóng vai trò chủ đạo trong tính toán. Trong giai đoạn từ tháng 3 đến tháng 4/2024, chỉ số DXY tăng điểm do động thái của một số ngân hàng trung ương châu Âu đã chủ động hạ lãi suất sớm.

Tỷ giá VND vẫn tăng bất chấp DXY hạ nhiệt và diễn biến thời gian tới
Tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố tuần qua nhích tăng so với cuối tuần trước. Ảnh tư liệu

Chẳng hạn như, Ngân hàng Trung ương Thụy Sỹ (SNB) đã điều chỉnh giảm 0,25% vào hồi tháng 3/2024 và sau đó đã hạ lãi suất từ 4% xuống 3,75%. Tuy nhiên, Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) cho đến nay mới chỉ dừng ở tuyên bố về khả năng sẽ hạ lãi suất khi ECB, nhưng vẫn chưa chính thực hiện thực thực hóa việc này.

Với những diễn biến như hiện nay, mặc dù đã có một số động thái hạ lãi suất của các ngân hàng trung ương, “làn sóng” hạ lãi suất đã không xuất hiện và những hành động đi trước Cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED) về việc hạ lãi suất của các nước cũng cho thấy khá yếu ớt và đây là lý do khiến cho đồng USD kết thúc đà tăng.

Với góc nhìn của một chuyên gia tài chính trong nước về vấn đề này, PGS.TS. Nguyễn Hữu Huân - Trưởng Bộ môn Thị trường tài chính thuộc Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh cũng cho biết, diễn biến thời gian qua của một số nước họ giảm lãi suất nhưng chỉ ở mức độ nhẹ và mang tính chất tâm lý là chính chứ cũng chưa phải là yếu tố có thể tác động mạnh đến thị trường tài chính.

Câu chuyện riêng của tỷ giá VND

Một trong những lý do khiến tỷ giá VND/USD tăng trong giai đoạn tháng 3, tháng 4/2024 là do đồng USD tăng trên thị trường quốc tế và đồng Việt Nam cũng chịu sự ảnh hưởng chung này. Tuy nhiên, chỉ số DXY đã đi vào giai đoạn hạ nhiệt từ đầu tháng 5 đến nay, nhưng tỷ giá VND/USD vẫn biến động thất thường.

Diễn biến tỷ giá đầu tuần hôm 27/5 ghi nhận tỷ giá trung tâm do NHNN công bố ở mức 24.268 VND/USD, tiếp tục nhích tăng so với mức 24.264 VND/USD cuối tuần trước. Tỷ giá bán ra tại Vietcombank ghi nhận mức 25.481 VND/USD cũng tiếp tục nhích tăng so với cuối tuần trước. Tiếp đó, tỷ giá ngày 28/5 đã có một số tín hiệu giảm nhiệt phần nào, nhưng việc này cũng chưa thể hiện xu hướng rõ ràng về các biến động tỷ giá trong thời gian tới.

Đánh giá về bối cảnh tỷ giá hiện tại, một chuyên gia cho rằng, thời gian qua Mỹ vẫn tiếp tục giữ lãi suất USD ở mức cao, trong khi lãi suất VND thấp hơn so với lãi suất USD quốc tế (khiến chênh lệch lãi suất giữa 2 đồng tiền âm). Việc này thúc đẩy tổ chức kinh tế mua ngoại tệ kỳ hạn để phục vụ thanh toán trong tương lai - chuyển nhu cầu ngoại tệ trong tương lai về hiện tại. Trong khi đó, khách hàng có nguồn thu ngoại tệ lại có tâm lý trì hoãn bán ngoại tệ cho hệ thống tổ chức tín dụng, việc này khiến cân đối cung cầu ngoại tệ kém thuận lợi trong ngắn hạn và gây áp lực lên tỷ giá.

Tuy nhiên, theo đánh giá của ông Phạm Chí Quang - Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ, NHNN, tất cả các khó khăn, thách thức nêu trên của thị trường ngoại tệ trong nước chỉ là ngắn hạn. Lý do là, thời gian tới với đà phục hồi khả quan của xuất khẩu thì nguồn cung ngoại tệ sẽ được hỗ trợ gia tăng. Trong khi đó, doanh nghiệp vừa qua tăng mạnh mua ngoại tệ kỳ hạn là yếu tố làm giảm bớt nhu cầu ngoại tệ trong tương lai, qua đó cân đối cung – cầu ngoại tệ có nhiều khả năng được cải thiện tích cực hơn tới đây.

Thời gian qua, NHNN đã phát hành tín phiếu với kỳ hạn và khối lượng phù hợp nhằm điều tiết lượng tiền VND dư thừa và bán ngoại tệ can thiệp hỗ trợ thanh khoản thị trường. Ông Quang cho biết, trong thời gian tới, NHNN cũng sẽ điều hành tỷ giá linh hoạt, phù hợp với diễn biến thị trường thông qua việc tiếp tục kết hợp đồng bộ các công cụ chính sách tiền tệ với việc bán ngoại tệ can thiệp hỗ trợ thanh khoản thị trường, qua đó phục vụ các nhu cầu ngoại tệ hợp pháp.

Tỷ giá VND vẫn tăng bất chấp DXY hạ nhiệt và diễn biến thời gian tới

Với cơ chế điều hành tỷ giá trung tâm và biên độ +/-5% hiện nay, tỷ giá thị trường đã có đủ dư địa để diễn biến linh hoạt. Như vậy, một số thông tin vừa qua về thay đổi điều hành tỷ giá của NHNN là không chính xác và không phù hợp với mục tiêu bình ổn thị trường, ổn định kinh tế vĩ mô của Chính phủ, tạo tâm lý bất ổn trên thị trường. Do đó, doanh nghiệp và người dân cần thận trọng trước những tin đồn." - ông Phạm Chí Quang - Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ, Ngân hàng Nhà nước.

Chí Tín

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 5/6: Giá vàng tiếp tục lùi về quanh 152,4 - 155,4 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 5/6: Giá vàng tiếp tục lùi về quanh 152,4 - 155,4 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước tiếp tục giảm 600.000 đồng/lượng trong sáng 5/6, đưa mặt bằng giao dịch phổ biến về quanh 152,4 - 155,4 triệu đồng/lượng.
Thanh khoản ngân hàng chịu sức ép khi M2 sụt giảm, chênh lệch tín dụng và huy động sát 2 triệu tỷ đồng

Thanh khoản ngân hàng chịu sức ép khi M2 sụt giảm, chênh lệch tín dụng và huy động sát 2 triệu tỷ đồng

(TBTCO) - Báo cáo của Chứng khoán SHS cho thấy áp lực thanh khoản trong hệ thống ngân hàng vẫn ở mức cao khi chênh lệch giữa tín dụng và huy động vượt 1,9 triệu tỷ đồng vào cuối quý I/2026. Đáng chú ý, tổng phương tiện thanh toán (M2) từng giảm khoảng 1,25 triệu tỷ đồng, phản ánh lượng tiền trong nền kinh tế bị thu hẹp, qua đó gia tăng áp lực huy động vốn.
ACB chốt lịch chia cổ tức tỷ lệ 20%, nâng vốn điều lệ vượt 58.000 tỷ đồng

ACB chốt lịch chia cổ tức tỷ lệ 20%, nâng vốn điều lệ vượt 58.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Ngân hàng ACB vừa chốt ngày 16/6 là ngày đăng ký cuối cùng để cổ đông nhận cổ tức năm 2025 bằng cả tiền mặt và cổ phiếu, với tổng tỷ lệ 20%. Theo kế hoạch, ngân hàng sẽ phát hành tối đa gần 668 triệu cổ phiếu để trả cổ tức tỷ lệ 13%, qua đó, nâng vốn điều lệ thêm 6.677,6 tỷ đồng, lên hơn 58.000 tỷ đồng, tiếp tục củng cố năng lực tài chính và nền tảng tăng trưởng.
Sun Life Việt Nam đồng hành cùng Children’s Cancer Run 2026, lan tỏa hy vọng cho trẻ em mắc ung thư

Sun Life Việt Nam đồng hành cùng Children’s Cancer Run 2026, lan tỏa hy vọng cho trẻ em mắc ung thư

(TBTCO) - Khẳng định cam kết đồng hành lâu dài vì sức khỏe và chất lượng cuộc sống của cộng đồng, Sun Life Việt Nam tiếp tục là nhà tài trợ đồng hành cùng Children’s Cancer Run 2026 – giải chạy ý nghĩa nhằm chung tay hỗ trợ trẻ em mắc bệnh ung thư tại Việt Nam do Hiệp hội Doanh nghiệp Canada tại Việt Nam (CanCham) tổ chức.
Từ ngân hàng đến bảo hiểm: Khi những banker chọn “rẽ hướng”

Từ ngân hàng đến bảo hiểm: Khi những banker chọn “rẽ hướng”

(TBTCO) - Họ từng có công việc ổn định, môi trường chuyên nghiệp và nền tảng kiến thức tài chính vững chắc trong ngành ngân hàng. Điều khiến họ chuyển hướng không chỉ là mong muốn thay đổi, mà là nhu cầu tìm một không gian rộng hơn để năng lực đã tích lũy có thể tạo ra tác động rõ hơn, gần hơn với khách hàng và mở ra không gian phát triển lớn hơn trong bảo hiểm nhân thọ.
Giá vàng hôm nay ngày 4/6: Giá vàng giảm sâu, lùi về quanh 154 - 157 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 4/6: Giá vàng giảm sâu, lùi về quanh 154 - 157 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt giảm tới 500.000 đồng/lượng tại nhiều doanh nghiệp lớn, đưa mặt bằng giao dịch phổ biến lùi về quanh 154 - 157 triệu đồng/lượng.
OCB tiếp đà tăng vốn lên hơn 30.625 tỷ đồng khi vừa vượt mốc dư nợ 200.000 tỷ đồng

OCB tiếp đà tăng vốn lên hơn 30.625 tỷ đồng khi vừa vượt mốc dư nợ 200.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước vừa chấp thuận cho OCB tăng vốn điều lệ tối đa thêm gần 3.994,6 tỷ đồng thông qua phát hành cổ phiếu từ nguồn vốn chủ sở hữu, nâng vốn điều lệ lên hơn 30.625 tỷ đồng. Động thái tăng vốn diễn ra trong bối cảnh OCB lần đầu vượt mốc dư nợ cho vay 200.000 tỷ đồng và đẩy mạnh chiến lược chuyển đổi số dưới sự điều hành của quyền Tổng Giám đốc mới, chuyên gia về AI.
Vietcombank đồng hành cùng Cục Thuế hỗ trợ hộ kinh doanh vững bước chuyển đổi, hưởng ứng Ngày Tài chính số 2026

Vietcombank đồng hành cùng Cục Thuế hỗ trợ hộ kinh doanh vững bước chuyển đổi, hưởng ứng Ngày Tài chính số 2026

(TBTCO) - Nhằm thúc đẩy nộp thuế điện tử và thanh toán không dùng tiền mặt, ngày 3/6/2026, Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) phối hợp cùng Cục Thuế tổ chức Lễ ký kết Thỏa thuận hợp tác đồng hành hỗ trợ hộ kinh doanh chuyển đổi số. Đây là hoạt động trọng điểm nhằm hưởng ứng Ngày Tài chính số năm 2026 và hiện thực hóa Nghị định số 68/2026/NĐ-CP của Chính phủ.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,920 ▼380K 15,320 ▼280K
Kim TT/AVPL 14,920 ▼380K 15,320 ▼280K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,920 ▼380K 15,320 ▼280K
Nguyên Liệu 99.99 14,500 ▼50K 14,700 ▼50K
Nguyên Liệu 99.9 14,450 ▼50K 14,650 ▼50K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 14,800 ▼100K 15,200 ▼100K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 14,750 ▼100K 15,150 ▼100K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 14,680 ▼100K 15,130 ▼100K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 150,200 ▼2800K 153,200 ▼2800K
Hà Nội - PNJ 150,200 ▼2800K 153,200 ▼2800K
Đà Nẵng - PNJ 150,200 ▼2800K 153,200 ▼2800K
Miền Tây - PNJ 150,200 ▼2800K 153,200 ▼2800K
Tây Nguyên - PNJ 150,200 ▼2800K 153,200 ▼2800K
Đông Nam Bộ - PNJ 150,200 ▼2800K 153,200 ▼2800K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,920 ▼380K 15,320 ▼280K
Miếng SJC Nghệ An 14,920 ▼380K 15,320 ▼280K
Miếng SJC Thái Bình 14,920 ▼380K 15,320 ▼280K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,920 ▼380K 15,320 ▼280K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,920 ▼380K 15,320 ▼280K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,920 ▼380K 15,320 ▼280K
NL 99.90 14,050 ▼150K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,100 ▼150K
Trang sức 99.9 14,510 ▼280K 15,210 ▼280K
Trang sức 99.99 14,520 ▼280K 15,220 ▼280K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,492 ▲1339K 1,532 ▲1376K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,492 ▲1339K 15,322 ▼280K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,492 ▲1339K 15,323 ▼280K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 149 ▼1379K 153 ▼1405K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 149 ▼1379K 1,531 ▼28K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 147 ▼1361K 1,515 ▼28K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 1,435 ▼144837K 150 ▼152622K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 104,886 ▼2101K 113,786 ▼2101K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 9,428 ▼86756K 10,318 ▼94766K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 83,674 ▼1708K 92,574 ▼1708K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 79,583 ▼1633K 88,483 ▼1633K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 54,432 ▲53876K 63,332 ▲62687K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,492 ▲1339K 1,532 ▲1376K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,492 ▲1339K 1,532 ▲1376K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,492 ▲1339K 1,532 ▲1376K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,492 ▲1339K 1,532 ▲1376K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,492 ▲1339K 1,532 ▲1376K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,492 ▲1339K 1,532 ▲1376K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,492 ▲1339K 1,532 ▲1376K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,492 ▲1339K 1,532 ▲1376K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,492 ▲1339K 1,532 ▲1376K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,492 ▲1339K 1,532 ▲1376K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,492 ▲1339K 1,532 ▲1376K
Cập nhật: 05/06/2026 16:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18246 18522 19103
CAD 18428 18705 19321
CHF 32772 33157 33806
CNY 0 3847 3940
EUR 30006 30279 31307
GBP 34614 35007 35935
HKD 0 3230 3432
JPY 157 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 15158 15743
SGD 19965 20247 20773
THB 722 785 839
USD (1,2) 26061 0 0
USD (5,10,20) 26102 0 0
USD (50,100) 26131 26145 26404
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,124 26,124 26,404
USD(1-2-5) 25,080 - -
USD(10-20) 25,080 - -
EUR 30,127 30,151 31,466
JPY 160.42 160.71 169.73
GBP 34,794 34,888 35,952
AUD 18,437 18,504 19,129
CAD 18,619 18,679 19,290
CHF 33,041 33,144 33,990
SGD 20,105 20,168 20,881
CNY - 3,820 3,950
HKD 3,300 3,310 3,435
KRW 15.79 16.47 17.85
THB 770.16 779.67 831.51
NZD 15,132 15,273 15,661
SEK - 2,767 2,854
DKK - 4,031 4,157
NOK - 2,774 2,861
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,106.87 - 6,867.32
TWD 756.3 - 912.66
SAR - 6,906.56 7,246.23
KWD - 83,637 88,643
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,114 26,134 26,404
EUR 30,005 30,125 31,314
GBP 34,707 34,846 35,865
HKD 3,292 3,305 3,421
CHF 32,793 32,925 33,851
JPY 160.74 161.39 168.93
AUD 18,383 18,457 19,052
SGD 20,127 20,208 20,792
THB 785 788 823
CAD 18,584 18,659 19,228
NZD 15,179 15,717
KRW 16.38 17.95
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26125 26125 26404
AUD 18407 18507 19429
CAD 18585 18685 19696
CHF 32940 32970 34561
CNY 3824.9 3849.9 3985
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30121 30151 31876
GBP 34828 34878 36647
HKD 0 3355 0
JPY 161.03 161.53 172.07
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15229 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20098 20228 20955
THB 0 749.3 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 15140000 15140000 15440000
SBJ 13000000 13000000 15440000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,157 26,207 26,404
USD20 26,157 26,207 26,404
USD1 26,157 26,207 26,404
AUD 18,455 18,555 19,700
EUR 30,276 30,315 31,683
CAD 18,531 18,631 19,939
SGD 20,177 20,327 20,891
JPY 161.59 163.09 167.62
GBP 34,744 35,094 36,250
XAU 15,138,000 0 15,442,000
CNY 0 3,735 0
THB 0 785 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 05/06/2026 16:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80