Xu hướng dòng vốn FDI vào Việt Nam sẽ tiếp tục đà tăng trưởng

Luyện Vũ
(TBTCO) - Dựa trên kết quả 6 tháng đầu năm 2025, xu hướng dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Việt Nam sẽ tiếp tục đà tăng trưởng trong thời gian tới. Tuy nhiên, dòng vốn này có thể phân hóa rõ hơn về chất lượng và lĩnh vực đầu tư. Đây là chia sẻ của TS. Đặng Thảo Quyên - Chủ nhiệm cấp cao Bộ môn Kinh doanh quốc tế (Đại học RMIT Việt Nam) khi trao đổi với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư.
aa
Xu hướng dòng vốn FDI vào Việt Nam sẽ tiếp tục đà tăng trưởng
Nguồn: Cục Thống kê. Đồ họa: Văn Chung

PV: Theo số liệu mới được Cục Thống kê (Bộ Tài chính) công bố, tổng vốn FDI vào Việt Nam trong 6 tháng đầu năm tăng rất tích cực. Bà có bình luận gì về con số này?

Xu hướng dòng vốn FDI vào Việt Nam sẽ tiếp tục đà tăng trưởng

TS. Đặng Thảo Quyên: Tổng vốn đầu tư đăng ký mới, điều chỉnh và góp vốn mua cổ phần, mua phần vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài trong 6 tháng đầu năm 2025 đạt 21,52 tỷ USD, tăng 32,6% so với cùng kỳ, là mức cao nhất kể từ năm 2009. Đây là con số ấn tượng, phản ánh sức hấp dẫn mạnh mẽ và khả năng duy trì sức hấp dẫn của Việt Nam đối với các nhà đầu tư nước ngoài. Điều này cũng phản ánh niềm tin ngày càng tăng của nhà đầu tư nước ngoài vào môi trường đầu tư tại Việt Nam. Trong bối cảnh toàn cầu còn nhiều bất ổn, đặc biệt là căng thẳng địa chính trị và xu hướng bảo hộ thương mại, kết quả này của Việt Nam là rất đáng ghi nhận.

Việc vốn thực hiện đạt 11,72 tỷ USD, tăng 8,1% so với cùng kỳ, cho thấy không chỉ có cam kết đầu tư mới mà còn có sự hiện thực hóa dòng vốn, một yếu tố quan trọng để đánh giá chất lượng thu hút FDI. Đáng chú ý, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo vẫn là lĩnh vực thu hút FDI lớn nhất, chiếm 55,6% tổng vốn đăng ký - cho thấy Việt Nam tiếp tục là điểm đến chiến lược trong chuỗi cung ứng toàn cầu. Bên cạnh đó, ngành bất động sản cũng ghi nhận mức tăng gấp đôi, phản ánh kỳ vọng vào sự phục hồi và phát triển hạ tầng đô thị.

Các nhà đầu tư tin tưởng vào tiềm năng của nền kinh tế Việt Nam

Theo Báo cáo Đầu tư thế giới 2025 của Hội nghị Liên Hợp quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD), dòng vốn FDI toàn cầu đã giảm 11% trong năm 2024, nhưng Việt Nam lại ghi nhận mức tăng trưởng cao, duy trì cho tới nửa đầu năm 2025, cho thấy sự tin tưởng của các nhà đầu tư vào tiềm năng của nền kinh tế Việt Nam. TS. Đặng Thảo Quyên cho rằng, dự gia tăng này được hỗ trợ bởi các yếu tố như vị trí chiến lược của Việt Nam trong chuỗi cung ứng toàn cầu, các hiệp định thương mại tự do như CPTPP và môi trường chính trị ổn định.

Tuy nhiên, khoảng cách giữa vốn đăng ký (21,5 tỷ USD) và vốn thực hiện (11,72 tỷ USD) cho thấy vẫn còn thách thức trong việc triển khai dự án, có thể liên quan đến cơ sở hạ tầng hoặc thủ tục hành chính. Bên cạnh đó, cần lưu ý rằng, dù có thay đổi theo hướng tích cực song vốn đăng ký mới giảm 9,6% so với cùng kỳ, do số lượng dự án lớn trên 100 triệu USD giảm. Điều này cho thấy sự dịch chuyển sang các dự án vừa và nhỏ, hoặc các nhà đầu tư đang thận trọng hơn trong bối cảnh chính sách thuế quốc tế tiềm ẩn nhiều thay đổi.

PV: Việc tăng mạnh vốn điều chỉnh (gấp 2,2 lần) và vốn góp, mua cổ phần (tăng 73,6%) phản ánh điều gì về niềm tin của nhà đầu tư nước ngoài vào môi trường đầu tư tại Việt Nam, thưa bà?

TS. Đặng Thảo Quyên: Sự gia tăng mạnh mẽ về vốn điều chỉnh (gấp 2,2 lần) và vốn góp, mua cổ phần (tăng 73,6%) trong 6 tháng đầu năm 2025 là một minh chứng rõ ràng, củng cố niềm tin của nhà đầu tư nước ngoài vào môi trường đầu tư tại Việt Nam. Đây không chỉ là sự lựa chọn Việt Nam như một điểm đến mới, mà còn là quyết định mở rộng quy mô các dự án hiện hữu – một hành động thường chỉ xảy ra khi nhà đầu tư đánh giá cao hiệu quả hoạt động, tiềm năng thị trường và sự ổn định chính sách.

Theo báo cáo của Bộ Tài chính, có tới 826 lượt dự án đăng ký điều chỉnh vốn, với tổng vốn tăng thêm gần 8,95 tỷ USD. Điều này cho thấy các nhà đầu tư đã có thời gian hoạt động tại Việt Nam, hiểu rõ môi trường kinh doanh và sẵn sàng cam kết lâu dài. Tương tự, 1.708 giao dịch góp vốn, mua cổ phần với tổng giá trị 3,28 tỷ USD phản ánh xu hướng đầu tư gián tiếp ngày càng phổ biến, đặc biệt trong các lĩnh vực bán lẻ, công nghệ và bất động sản.

Một khảo sát của EuroCham quý II/2025 cho thấy, gần 72% lãnh đạo doanh nghiệp châu Âu sẵn sàng giới thiệu Việt Nam là điểm đến đầu tư. Dù chỉ số niềm tin kinh doanh (BCI) giảm nhẹ, mức độ sẵn sàng này vẫn rất cao, cho thấy sự kiên định của nhà đầu tư trong bối cảnh toàn cầu còn nhiều biến động.

Thực tế cũng chứng minh điều này qua các dự án lớn như công viên Yên Sở (Malaysia, tăng vốn 1,12 tỷ USD) hay tổ hợp sản xuất tái chế vải polyester tại Gia Lai của Syre, một công ty con của tập đoàn H&M (Thụy Điển, vốn đăng ký 1 tỷ USD). Đây là những dự án công nghệ cao, thân thiện môi trường – phù hợp với định hướng thu hút FDI chất lượng của Việt Nam.

Tóm lại, sự gia tăng mạnh mẽ của vốn điều chỉnh và góp vốn, mua cổ phần là minh chứng cho niềm tin ngày càng vững chắc của nhà đầu tư quốc tế vào Việt Nam. Tuy nhiên, để duy trì niềm tin này, Việt Nam cần tiếp tục cải thiện minh bạch, giảm thiểu rủi ro pháp lý và tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các giao dịch đầu tư. Đồng thời, việc phát triển cơ sở hạ tầng và nâng cao chất lượng nhân lực cũng là yếu tố quan trọng để hỗ trợ sự gia tăng này.

PV: Với những diễn biến gần đây của kinh tế Việt Nam, bà dự báo thế nào về xu hướng dòng vốn FDI vào Việt Nam? Theo bà, các chính sách thuế mới của Hoa Kỳ hay xu hướng dịch chuyển chuỗi cung ứng toàn cầu có thể ảnh hưởng như thế nào đến việc thu hút FDI của Việt Nam trong giai đoạn tới?

TS. Đặng Thảo Quyên: Dựa trên kết quả 6 tháng đầu năm 2025, tôi cho rằng, xu hướng dòng vốn FDI vào Việt Nam sẽ tiếp tục duy trì đà tăng trưởng trong 6 tháng cuối năm, nhưng có thể phân hóa rõ hơn về chất lượng và lĩnh vực đầu tư. Việt Nam đang hưởng lợi từ xu hướng dịch chuyển chuỗi cung ứng toàn cầu, đặc biệt trong các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, công nghệ cao và năng lượng tái tạo. Việc các tập đoàn đa quốc gia tái cấu trúc chuỗi cung ứng đã tạo cơ hội cho Việt Nam trở thành điểm đến mang tính chiến lược.

Tuy nhiên, chính sách thuế tối thiểu toàn cầu đang đặt ra thách thức mới. Việt Nam cần có các biện pháp hỗ trợ thay thế, như quỹ hỗ trợ đầu tư quốc gia hay ưu đãi phi thuế (hạ tầng, nhân lực, thủ tục hành chính), nhằm đảm bảo lợi thế cạnh tranh trong mắt các nhà đầu tư lớn.

Ngoài ra, các chính sách thuế mới của Hoa Kỳ, Việt Nam đã có những bước tiến trong đàm phán song phương, tuy nhiên sự bất định chính sách vẫn là yếu tố khiến một số nhà đầu tư thận trọng hơn trong giải ngân vốn quy mô lớn.

Việt Nam vẫn có tiềm năng lớn trong thu hút FDI, nhưng cần chuyển từ chiến lược “ưu đãi thuế” sang “ưu đãi thể chế và chất lượng”. Việc cải cách hành chính, nâng cao năng lực địa phương, phát triển hạ tầng số và đào tạo nhân lực chất lượng cao sẽ là chìa khóa để duy trì và nâng cao vị thế trong chuỗi cung ứng toàn cầu.

PV: Xin cảm ơn bà!

Luyện Vũ

Đọc thêm

Nâng cấp nền tảng công nghệ, Báo Tài chính - Đầu tư tiến vào chặng đường phát triển mạnh mẽ

Nâng cấp nền tảng công nghệ, Báo Tài chính - Đầu tư tiến vào chặng đường phát triển mạnh mẽ

(TBTCO) - Phát biểu tại Lễ ra mắt giao diện mới của báo điện tử Báo Tài chính - Đầu tư (thoibaotaichinhvietnam.vn), Thứ trưởng Trần Quốc Phương tin tưởng với bề dày truyền thống đã được xây dựng và phát triển qua nhiều năm của ba cơ quan báo chí tiền thân, cùng với sự đoàn kết, sáng tạo và quyết tâm đổi mới của tập thể lãnh đạo, phóng viên, biên tập viên và người lao động, Báo Tài chính - Đầu tư sẽ tiếp tục phát triển mạnh mẽ, đóng góp ngày càng tích cực vào công tác thông tin tuyên truyền của ngành Tài chính và vào sự phát triển chung của nền kinh tế đất nước.
Thủ tướng Phạm Minh Chính dự Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam - Nga

Thủ tướng Phạm Minh Chính dự Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam - Nga

Phát biểu tại Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam - Liên bang Nga, Thủ tướng Phạm Minh Chính mong muốn doanh nghiệp hai nước tăng cường trao đổi, tìm kiếm cơ hội hợp tác đầu tư, góp phần vào sự phát triển nhanh và bền vững của mỗi nước, vì hòa bình, ổn định, hợp tác, phát triển trong khu vực và trên thế giới.
Chuỗi cung ứng đảo chiều, luật chơi thay đổi: Doanh nghiệp Việt còn bao nhiêu thời gian?

Chuỗi cung ứng đảo chiều, luật chơi thay đổi: Doanh nghiệp Việt còn bao nhiêu thời gian?

(TBTCO) - Theo các chuyên gia, doanh nghiệp Việt đang bước vào một cuộc cạnh tranh mới, khi chuỗi cung ứng đảo chiều và “luật chơi” thị trường thay đổi nhanh chóng. Lợi thế giá rẻ không còn mang tính quyết định, trong khi áp lực từ địa chính trị, tiêu chuẩn xanh và yêu cầu chuỗi cung ứng buộc doanh nghiệp phải tái cấu trúc nhanh hơn, sâu hơn và thực chất hơn.
EuroCham ra mắt Sách Trắng 2026: Định vị Việt Nam cho làn sóng đầu tư châu Âu tiếp theo

EuroCham ra mắt Sách Trắng 2026: Định vị Việt Nam cho làn sóng đầu tư châu Âu tiếp theo

(TBTCO) - Trong bối cảnh các cam kết đầu tư trị giá hàng tỷ EUR đang là tâm điểm tại Diễn đàn Kinh doanh và Đầu tư EU - Việt Nam - Chiến lược Cửa ngõ toàn cầu tổ chức ngày 24/3 tại Hà Nội, Hiệp hội Doanh nghiệp châu Âu tại Việt Nam (EuroCham) đã chính thức ra mắt ấn bản thứ 17 của Sách Trắng. Ấn phẩm thường niên này đóng vai trò là công cụ chiến lược nhằm hỗ trợ việc triển khai hiệu quả và bền vững các dòng vốn đầu tư quy mô lớn từ châu Âu vào Việt Nam.
Việt Nam - EU mở rộng hợp tác chiến lược, đón dòng vốn 560 triệu EUR cho hạ tầng và tăng trưởng xanh

Việt Nam - EU mở rộng hợp tác chiến lược, đón dòng vốn 560 triệu EUR cho hạ tầng và tăng trưởng xanh

(TBTCO) - Sáng 24/3 tại Hà Nội, Diễn đàn Kinh doanh và Đầu tư EU - Việt Nam quy tụ khoảng 500 đại biểu cấp cao hai bên, diễn ra trong bối cảnh quan hệ vừa nâng cấp lên Đối tác Chiến lược Toàn diện. Sự kiện ghi nhận gói đầu tư hơn 560 triệu EUR, mở rộng hợp tác trong giao thông hiện đại, năng lượng sạch và các động lực tăng trưởng mới.
Các quốc gia chủ động ứng phó nguy cơ gián đoạn nguồn cung năng lượng toàn cầu

Các quốc gia chủ động ứng phó nguy cơ gián đoạn nguồn cung năng lượng toàn cầu

(TBTCO) - Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước (Bộ Công thương) cho biết, gián đoạn tại eo biển Hormuz đang gây biến động mạnh thị trường năng lượng toàn cầu, vượt cả các cú sốc dầu mỏ thập niên 1970, buộc nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam, khẩn trương ứng phó để bảo đảm nguồn cung và ổn định kinh tế.
“Nắn” dòng vốn PPP vào khu vực phía Nam TP. Đà Nẵng

“Nắn” dòng vốn PPP vào khu vực phía Nam TP. Đà Nẵng

(TBTCO) - Gần 300 nghìn tỷ đồng là số vốn đầu tư mà Đà Nẵng dự kiến thu hút đầu tư theo phương thức đối tác công - tư (PPP) vào khu vực phía Nam thành phố nhằm khai thác dư địa cho phát triển công nghiệp, du lịch, hệ sinh thái đô thị sân bay, cảng biển, hạ tầng, hướng đến xây dựng khu vực này trở thành cực tăng trưởng tích cực.
Thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp năng lượng tái tạo, năng lượng mới

Thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp năng lượng tái tạo, năng lượng mới

(TBTCO) - Phó Thủ tướng Bùi Thanh Sơn vừa ký Quyết định số 458/QĐ-TTg phê duyệt Đề án cập nhật triển khai Tuyên bố chính trị thiết lập quan hệ đối tác chuyển đổi năng lượng công bằng.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,850 ▼200K 17,150 ▼200K
Kim TT/AVPL 16,860 ▼200K 17,160 ▼200K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,850 ▼200K 17,150 ▼200K
Nguyên Liệu 99.99 15,800 ▼550K 16,000 ▼550K
Nguyên Liệu 99.9 15,750 ▼550K 15,950 ▼550K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,550 ▼350K 16,950 ▼350K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,500 ▼350K 16,900 ▼350K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,430 ▼350K 16,880 ▼350K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 168,500 ▼2000K 171,500 ▼2000K
Hà Nội - PNJ 168,500 ▼2000K 171,500 ▼2000K
Đà Nẵng - PNJ 168,500 ▼2000K 171,500 ▼2000K
Miền Tây - PNJ 168,500 ▼2000K 171,500 ▼2000K
Tây Nguyên - PNJ 168,500 ▼2000K 171,500 ▼2000K
Đông Nam Bộ - PNJ 168,500 ▼2000K 171,500 ▼2000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,850 ▼200K 17,150 ▼200K
Miếng SJC Nghệ An 16,850 ▼200K 17,150 ▼200K
Miếng SJC Thái Bình 16,850 ▼200K 17,150 ▼200K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
NL 99.90 15,670 ▼600K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,700 ▼600K
Trang sức 99.9 16,290 ▼250K 16,990 ▼250K
Trang sức 99.99 16,300 ▼250K 17,000 ▼250K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,685 ▼20K 17,152 ▼200K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,685 ▼20K 17,153 ▼200K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,683 ▼20K 1,713 ▼20K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,683 ▼20K 1,714 ▼20K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,663 ▼20K 1,698 ▼20K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 161,619 ▼1980K 168,119 ▼1980K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 118,613 ▼1500K 127,513 ▼1500K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 106,726 ▼1360K 115,626 ▼1360K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 94,838 ▼1220K 103,738 ▼1220K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 90,253 ▼1166K 99,153 ▼1166K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,064 ▼834K 70,964 ▼834K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Cập nhật: 26/03/2026 16:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17742 18015 18591
CAD 18512 18789 19406
CHF 32581 32965 33609
CNY 0 3470 3830
EUR 29794 30066 31094
GBP 34338 34729 35663
HKD 0 3238 3440
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14925 15512
SGD 19981 20263 20791
THB 718 782 835
USD (1,2) 26082 0 0
USD (5,10,20) 26123 0 0
USD (50,100) 26151 26171 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,908 29,932 31,173
JPY 160.68 160.97 169.67
GBP 34,530 34,623 35,601
AUD 17,945 18,010 18,579
CAD 18,689 18,749 19,319
CHF 32,804 32,906 33,674
SGD 20,093 20,155 20,826
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.13 16.82 18.19
THB 765.08 774.53 824.92
NZD 14,915 15,053 15,406
SEK - 2,766 2,846
DKK - 4,003 4,119
NOK - 2,672 2,750
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,163.18 - 6,915.14
TWD 744.21 - 896.03
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,549 88,351
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,173 26,223 26,357
USD20 26,173 26,223 26,357
USD1 26,173 26,223 26,357
AUD 17,982 18,082 19,194
EUR 30,134 30,134 31,551
CAD 18,645 18,745 20,058
SGD 20,226 20,376 20,945
JPY 162.19 163.69 168.27
GBP 34,565 34,915 35,797
XAU 16,848,000 0 17,152,000
CNY 0 3,665 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 16:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80