85% tổ chức tín dụng kỳ vọng tăng trưởng lợi nhuận năm 2025

Ánh Tuyết
Theo kết quả điều tra xu hướng kinh doanh quý I/2025, các tổ chức tín dụng đánh giá nhu cầu vay vốn tiếp tục cải thiện và dự báo tăng trưởng tín dụng 3,4% trong quý đầu năm. Trong bối cảnh tình hình kinh doanh cải thiện, có tới 85,1% tổ chức tín dụng kỳ vọng lợi nhuận trước thuế tăng trưởng dương năm nay.
aa
Những tín hiệu lạc quan tạo sức bật cho tăng trưởng tín dụng Đằng sau sự tăng trưởng trái chiều của dòng vốn tín dụng rót vào bất động sản Tín dụng chờ "bơm" 2,5 triệu tỷ đồng năm 2025, nhu cầu vốn đến từ lĩnh vực nào?

Vụ Dự báo, Thống kê (Ngân hàng Nhà nước Việt Nam) vừa công bố kết quả điều tra xu hướng kinh doanh quý I/2025 đối với toàn bộ các tổ chức tín dụng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài.

Cuộc điều tra được tiến hành từ ngày 25/11 - 10/12/2024, đối tượng điều tra, khảo sát là toàn bộ các tổ chức tín dụng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam, tỷ lệ trả lời đạt 99%.

Nhu cầu vay vốn cải thiện rõ rệt hơn gửi tiền và thanh toán

Kết quả điều tra cho thấy, trong quý IV/2024, nhu cầu sử dụng dịch vụ ngân hàng, gồm nhu cầu gửi tiền, sử dụng dịch vụ thanh toán, thẻ và vay vốn của khách hàng cải thiện mạnh hơn so với quý III/2024 nhưng chưa đạt được như kỳ vọng. Trong đó, nhu cầu dịch vụ vay vốn được nhận định cải thiện mạnh hơn nhu cầu sử dụng dịch vụ thanh toán, thẻ và gửi tiền sau 5 kỳ điều tra liên tiếp kể từ quý III/2023.

"Trong quý I/2025 và cả năm 2025, các tổ chức tín dụng kỳ vọng nhu cầu sử dụng dịch vụ ngân hàng của khách hàng cải thiện tốt hơn so với quý IV/2024 và năm 2024 khi nền kinh tế dự báo tiếp tục phục hồi. Trong đó, nhu cầu vay vốn tiếp tục được kỳ vọng cải thiện nhiều hơn nhu cầu gửi tiền và thanh toán" - Vụ Dự báo, Thống kê cho biết.

"Dư nợ tín dụng tổng thể của hệ thống ngân hàng được các tổ chức tín dụng dự báo tăng 3,4% trong quý I/2025 và tăng 14,2% trong năm 2025, điều chỉnh giảm 0,2 điểm phần trăm so với mức dự báo 14,4% tại kỳ điều tra trước. Tốc độ tăng trưởng tín dụng ngắn hạn được dự báo tăng cao hơn trung dài hạn ở hầu hết các nhóm tổ chức tín dụng trong quý I/2025 và cả năm 2025" - Vụ Dự báo, Thống kê cho biết.

Cũng theo Vụ Dự báo, Thống kê, các tổ chức tín dụng nhận định giá bình quân các sản phẩm, dịch vụ của hệ thống ngân hàng tiếp tục xu hướng giữ ổn định hoặc giảm nhẹ trong quý IV/2024 và tính chung trong năm 2024 giảm nhẹ so với năm 2023. Trong đó, các đơn vị tập trung giảm lãi suất biên nhiều hơn so với giảm phí dịch vụ.

"Tuy nhiên, các tổ chức tín dụng cho biết có thể sẽ điều chỉnh tăng nhẹ giá bình quân các sản phẩm, dịch vụ trong quý I/2025 và cả năm 2025, chủ yếu là tăng phí dịch vụ trong quý I/2025, có thể điều chỉnh tăng nhẹ mặt bằng lãi suất trong các quý cuối của năm 2025" - Vụ Dự báo, Thống kê thông tin.

Nhu cầu vay vốn cải thiện rõ rệt từ đầu năm, 85% tổ chức tín dụng kỳ vọng tăng trưởng lợi nhuận
Dư nợ tín dụng tổng thể của hệ thống ngân hàng được các tổ chức tín dụng dự báo tăng 3,4% trong quý I/2025 và tăng 14,2% trong năm 2025.

Cũng theo nhận định của các tổ chức tín dụng, thanh khoản của hệ thống ngân hàng trong quý IV/2024 vẫn duy trì trạng thái “tốt”, tiếp tục cải thiện so với quý trước nhưng chưa đạt cao như kỳ vọng.

Tính chung trong cả năm 2024 so với năm 2023, thanh khoản được đánh giá tiếp tục cải thiện so với năm trước nhưng mức độ cải thiện thấp hơn so với kỳ vọng và so với mức độ cải thiện của năm 2023. Các tổ chức tín dụng dự báo tình hình thanh khoản sẽ tiếp tục cải thiện trong quý I/2025 và cả năm 2025.

Về huy động vốn toàn hệ thống, các tổ chức tín dụng kỳ vọng tăng bình quân 3,5% trong quý I/2025 và tăng 12,8% trong năm 2025. Huy động vốn kỳ hạn dưới 1 năm được dự báo tăng trưởng tương đương kỳ hạn trên 1 năm trong năm 2024 và quý I/2025.

Kỳ vọng nợ xấu giảm dần

Trái với kỳ vọng tại kỳ điều tra tháng 9/2024 và tháng 12/2023 về xu hướng “giảm” rủi ro trong năm 2024, mặt bằng rủi ro tổng thể của các nhóm khách hàng được các tổ chức tín dụng nhận định vẫn “tăng nhẹ” trong quý IV/2024 và trong cả năm 2024 so với năm 2023, nhưng tốc độ tăng đã chậm lại nhiều so với năm 2023. Các tổ chức tín dụng dự báo mặt bằng rủi ro sẽ tương đối ổn định trong quý I/2025 và kỳ vọng xu hướng giảm dần rủi ro trong năm 2025.

Khác với nhận định tỷ lệ nợ xấu “tăng nhẹ” trong quý III/2024, các tổ chức tín dụng nhận định tỷ lệ nợ xấu có chiều hướng giảm trong quý IV/2024 so với quý trước và kỳ vọng tiếp tục giảm trong quý I/2025.

"Tính đến cuối năm 2024, các tổ chức tín dụng ước tính tỷ lệ nợ xấu/dư nợ tín dụng bình quân toàn hệ thống điều chỉnh giảm so với mức dự kiến tại kỳ điều tra trước và thấp hơn tỷ lệ nợ xấu ở thời điểm cuối năm 2023. Các tổ chức tín dụng dự kiến tỷ lệ nợ xấu/dư nợ tín dụng tính đến cuối năm 2025 tiếp tục điều chỉnh giảm so với mức ước tính ở thời điểm cuối năm 2024" - Vụ Dự báo, Thống kê cho biết.

Nhu cầu vay vốn cải thiện rõ rệt từ đầu năm, 85% tổ chức tín dụng kỳ vọng tăng trưởng lợi nhuận
Nhu cầu vay vốn cải thiện rõ nét, 85% tổ chức tín dụng kỳ vọng tăng trưởng lợi nhuận.

Theo kết quả điều tra, tình hình kinh doanh tổng thể và lợi nhuận trước thuế của hệ thống ngân hàng trong quý IV/2024 có sự cải thiện tốt hơn so với quý III/2024 mặc dù chưa đạt được như kỳ vọng ở kỳ điều tra trước.

Đánh giá tổng thể năm 2024, các tổ chức tín dụng nhận định tình hình kinh doanh chưa đạt được như kỳ vọng tuy nhiên vẫn cải thiện hơn so với năm 2023; 78,9% tổ chức tín dụng ước tính lợi nhuận trước thuế tăng trưởng dương trong năm 2024 so với năm 2023, bên cạnh đó, vẫn có 15,8% tổ chức tín dụng ước tính lợi nhuận tăng trưởng âm và 5,3% ước tính lợi nhuận không thay đổi./.

85% tổ chức tín dụng kỳ vọng tăng trưởng lợi nhuận năm 2025

Kết quả điều tra của Vụ Dự báo, Thống kê cho thấy, các tổ chức tín dụng dự báo tình hình kinh doanh sẽ khả quan hơn trong quý I/2025 và cả năm 2025 với 74,6 - 84,2% tổ chức tín dụng kỳ vọng tình hình kinh doanh cải thiện hơn trong quý I và cả năm 2025. Trong năm 2025, có 85,1% tổ chức tín dụng kỳ vọng lợi nhuận trước thuế tăng trưởng dương so với năm 2024. Bên cạnh đó, vẫn có 9,6% tổ chức tín dụng lo ngại lợi nhuận tăng trưởng âm trong năm 2025 và 5,3% kỳ vọng lợi nhuận không thay đổi.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng ngày 24/3 cho thấy, lãi suất huy động tiếp tục tăng, với 10 ngân hàng nâng lãi suất kỳ hạn 6 tháng và 15 ngân hàng tăng ở kỳ hạn 12 tháng chỉ chưa đầy 1 tháng; mức cao nhất đã chạm 9%/năm. Trước diễn biến này, các ngân hàng lớn đều có dự tính riêng về điều hành chính sách lãi suất, khi dự báo chi phí vốn sẽ chịu áp lực.
Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

Năm 2026, OCB đặt nhiều mục tiêu chiến lược, nổi bật là lợi nhuận trước thuế đạt 6.960 tỷ đồng (tăng 39%); tổng tài sản 354.214 tỷ đồng (tăng 10%). Ngân hàng dự kiến nâng vốn điều lệ lên 30.625 tỷ đồng nhằm mở rộng quy mô, tăng năng lực cạnh tranh; đồng thời, kiện toàn Hội đồng quản trị phục vụ giai đoạn tăng trưởng mới.
Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

(TBTCO) - Ngày 24/3/2026, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) chính thức khai trương trụ sở chính tại tòa nhà số 27 - 29 Lý Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội. Việc đặt trụ sở tại Thủ đô là bước triển khai quan trọng trong định hướng phát triển của ngân hàng đã được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông năm 2025.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngày 24/3, tại Hà Nội, Ngân hàng Đầu tư châu Âu (EIB) và Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã công bố thỏa thuận tài trợ trị giá 200 triệu EUR nhằm đẩy nhanh các dự án hành động vì khí hậu, môi trường và phát triển bền vững trên khắp Việt Nam.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Kim TT/AVPL 16,810 ▼250K 17,110 ▼250K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,750 ▼300K 17,050 ▼300K
Nguyên Liệu 99.99 15,950 ▼400K 16,150 ▼400K
Nguyên Liệu 99.9 15,900 ▼400K 16,100 ▼400K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,600 ▼300K 17,000 ▼300K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,550 ▼300K 16,950 ▼300K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,480 ▼300K 16,930 ▼300K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Hà Nội - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đà Nẵng - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Miền Tây - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Tây Nguyên - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đông Nam Bộ - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Nghệ An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Thái Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
NL 99.90 15,820 ▼450K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,850 ▼450K
Trang sức 99.9 16,290 ▼250K 16,990 ▼250K
Trang sức 99.99 16,300 ▼250K 17,000 ▼250K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 168 ▼1537K 17,102 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 168 ▼1537K 17,103 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,678 ▼25K 1,708 ▼25K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,678 ▼25K 1,709 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,658 ▼25K 1,693 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 161,124 ▼2475K 167,624 ▼2475K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 118,238 ▼1875K 127,138 ▼1875K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 106,386 ▼1700K 115,286 ▼1700K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 94,533 ▼1525K 103,433 ▼1525K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 89,962 ▼1457K 98,862 ▼1457K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 61,855 ▼1043K 70,755 ▼1043K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cập nhật: 26/03/2026 14:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17767 18041 18614
CAD 18517 18794 19412
CHF 32591 32975 33624
CNY 0 3470 3830
EUR 29812 30084 31114
GBP 34376 34767 35701
HKD 0 3239 3440
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14961 15549
SGD 19985 20267 20795
THB 717 780 834
USD (1,2) 26077 0 0
USD (5,10,20) 26118 0 0
USD (50,100) 26146 26166 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 14:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80