Đằng sau sự tăng trưởng trái chiều của dòng vốn tín dụng rót vào bất động sản

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Dòng vốn tín dụng đang đổ vào phía cung thị trường, phục vụ các doanh nghiệp đầu tư kinh doanh bất động sản, trong khi người dân e dè vay ngân hàng mua nhà dù mặt bằng lãi suất cho vay đang ở mức thấp, chủ yếu do giá đất tăng cao bất thường. Ngân hàng Nhà nước sẽ tiếp tục kiểm soát rủi ro cấp tín dụng với phân khúc bất động sản cao cấp dư thừa nguồn cung song kích cầu cho vay mua nhà, phục vụ nhu cầu ở thực.
aa
Đằng sau sự tăng trưởng trái chiều của dòng vốn tín dụng rót vào bất động sản
Làn sóng "giá ảo" là hệ lụy để lại từ những chiêu trò đầu cơ lướt sóng. Ảnh tư liệu

Thống kê của Chứng khoán Vietcombank (VCBS) cho thấy, tính đến cuối quý III/2024, dư nợ cho vay mua nhà tăng 4,6% so với cuối năm 2023, trong đó, tính riêng quý 3 tăng 3,4% còn nửa đầu năm chỉ tăng vỏn vẹn hơn 1%. Trong khi đó, phân khúc tín dụng phục vụ hoạt động kinh doanh bất động sản bật tăng 16% trong 9 tháng.

Dân nản lòng vay mua nhà, tín dụng đổ vào phía cung

Cũng tính tới cuối quý III/2024, dư nợ tín dụng bất động sản chiếm khoảng 20% tổng dư nợ của nền kinh tế, đạt khoảng 3,15 triệu tỷ đồng. Cũng theo thống kê của TBTCVN, tổng dư nợ tín dụng bất động sản của 13 ngân hàng niêm yết hạch toán chi tiết khoản mục cho vay kinh doanh bất động sản đạt 661,86 nghìn tỷ đồng đến cuối quý III/2024, tăng 23,1% so với cuối năm 2023 và cao hơn đáng kể tăng trưởng tín dụng của nền kinh tế (9%). Trong đó, có hai ngân hàng có tỷ trọng cho vay kinh doanh bất động sản trong tổng dư nợ cao hơn nhiều so với hệ thống, đó là Techcombank và VPBank, lần lượt đạt 33,5% và 26%.

Thị trường đang méo mó, dành cho giới đầu cơ

Đằng sau sự tăng trưởng trái chiều của dòng vốn tín dụng rót vào bất động sản

"Về nguồn vốn, gói vay ưu đãi 120.000 tỷ đồng đối với nhà ở xã hội rất ít doanh nghiệp vay, sắp tới Bộ Xây dựng tiếp tục đưa ra gói tín dụng ưu đãi 100.000 tỷ đồng, cũng chưa chắc người dân sẽ vay, bởi thị trường hiện nay không phải thị trường của người dân mà là thị trường của ba "ông lớn": chủ đầu tư, nhà đầu cơ và ngân hàng thương mại. Cả ba đối tượng này đều không muốn giảm giá nhà ở".

TS. Lê Xuân Nghĩa - Thành viên Hội đồng Tư vấn Chính sách tài chính - tiền tệ quốc gia.

Xét về tốc độ tăng trưởng, VIB tăng 275,1% song tỷ trọng cho vay bất động sản chỉ chiếm 2,1% dư nợ. Kienlongbank tăng mạnh 171,9%; chiếm 10,07% tổng dư nợ.

Sau 2 năm kể từ khi những vụ án lớn xảy ra tác động mạnh đến tâm lý nhà đầu tư khiến thị trường địa ốc rơi vào trầm lắng, nhiều dự án vướng về pháp lý đến nay vẫn chưa được tháo gỡ, dòng vốn của một số ngân hàng đổ vào lĩnh vực kinh doanh bất động sản vẫn chưa có dấu hiệu ngơi nghỉ. Thống kê của TBTCVN cho thấy một số nhà băng có tốc độ tăng trưởng dư nợ cho vay bất động sản tăng "nóng" ba chữ số sau 2 năm có thể kể đến như: VPBank tăng trưởng 225%; VIB (213%); SHB tăng 215% và Techcombank (113%).

Có thể thấy, dòng vốn tín dụng đang tập trung vào phía cung thị trường, cho vay các nhà phát triển và doanh nghiệp đầu tư bất động sản, trong khi đó, người dân ngại ngần vay ngân hàng mua nhà đất dù mặt bằng lãi suất cho vay đang ở mức thấp so với nhiều năm.

Tại Agribank, ngân hàng duy trì mức lãi suất cho vay mua nhà tháng 11 là 6,5%/năm cố định 12 tháng đầu (khoản vay tối thiểu 3 năm); hoặc 7%/năm cố định 24 tháng đầu (khoản vay tối thiểu 5 năm). Sang tháng 12/2024, lãi suất cho vay mua nhà được điều chỉnh giảm 0,5%, với lãi suất lần lượt 6% và 6,5% khi áp dụng các điều kiện vay như trên.

Hệ luỵ khi giá nhà đất tăng "ảo"

Nhiều ý kiến cho rằng, người dân không nản lòng vay tiền ngân hàng mua nhà bởi giá nhà đang tăng phi mã, thậm chí bất thường. Không ít những phép toán nhẩm tính người trẻ phải mất đến 24 năm đi làm, hay công chức mất tới hàng chục năm thì mới mua được nhà, trong khi tại nhiều nước trên thế giới, chỉ mất khoảng 10-12 năm. Điều này cho thấy giá nhà đất đang vượt xa tầm với của đại bộ phận người dân.

Làn sóng "giá ảo" là hệ lụy để lại từ những chiêu trò đầu cơ lướt sóng, bỏ cọc sau đấu giá đất trong bối cảnh nguồn cung mới vô cùng khan hiếm. Nhìn lại những đợt giá tăng đột biến gần đây ở một số khu vực ngoại thành Hà Nội, có tới 38% môi giới cho rằng, đất đấu giá cao bất thường là do các yếu tố đầu cơ; 21% ý kiến nhận định các nhóm lợi ích đang thổi giá đất vùng ven.

Không chỉ vậy, giới đầu cơ lợi dụng tình trạng nguồn cung khan hiếm cùng tâm lý người dân để lướt sóng, thổi giá nhà đất tăng hàng tỷ đồng chỉ trong thời gian ngắn. Chẳng hạn, một căn nhà ngõ 109 phố Quan Nhân, Thanh Xuân có diện tích 25,9m2 trải qua 2 đời chủ mới trong vòng 2 tháng gần đây, giá nhà thổi từ 4 tỷ đồng lên 5,5 tỷ đồng và gần nhất là 6,5 tỷ đồng. Hay tại khu tái định cư Nam Trung Yên (Cầu Giấy, Hà Nội), giá bán căn hộ năm 2022 dao động 35 - 37 triệu đồng/m2, nay xuống cấp nghiêm trọng, tường bong tróc, ẩm thấp nay chào bán khoảng 60 triệu đồng/m2.

Trước nhiều diễn biến bất thường trên thị trường bất động sản, trao đổi với báo giới gần đây, TS. Lê Xuân Nghĩa - Thành viên Hội đồng Tư vấn Chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia quan ngại rằng, thị trường bất động sản không biết sẽ đi về đâu.

Hiện lãng phí về đất đai rất lớn khi Hà Nội có khoảng 1.500 dự án "đắp chiếu", TP. Hồ Chí Minh có khoảng 2.600 dự án, tương đương khoảng 1 triệu tỷ đồng đang đắp chiếu nằm đó vài chục năm. Trong khi đó, người dân vẫn chờ đợi may mắn gõ cửa, mong giá nhà sẽ giảm.

Theo ông Nghĩa, thị trường bất động sản hiện là khu vực đầu cơ, méo mó, đầy biến tướng và không phải thị trường cho những người muốn mua nhà phục vụ nhu cầu ở thực mà dành cho ba "tay chơi" lớn trên thị trường.

Nhiều lần vị chuyên gia này phải lên tiếng khuyến cáo các tỉnh, thành muốn phát triển công nghiệp, dịch vụ thì không thể để giá bất động sản cao bất thường, bởi nhà đầu tư không dám đến các tỉnh đầu tư, kể cả nhà đầu tư nước ngoài.

Kiểm soát rủi ro, hướng tín dụng vào nhu cầu ở thực

Khảo sát từ batdongsan.com.vn cho thấy, nguồn cung trong năm 2023 - 2024 thấp nhất trong vòng 10 năm trở lại đây, lượng dự án mới ra mắt thị trường chỉ đếm trên đầu ngón tay. Trong quý III/2024, thị trường Hà Nội ghi nhận gần 10 dự án có sản phẩm mở bán mới song giá cao, dao động quanh 70 - 90 triệu đồng, người dân "đỏ mắt" không thể tìm ra dự án mới có giá dưới 40 triệu đồng/m2.

Thời gian tới, nhằm hỗ trợ thị trường bất động sản phát triển lành mạnh, bền vững và bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) tiếp tục thực hiện các giải pháp tiền tệ, tín dụng, cung ứng vốn đi đôi với nâng cao chất lượng tín dụng. NHNN chỉ đạo tổ chức tín dụng kiểm soát rủi ro cấp tín dụng với phân khúc bất động sản cao cấp đang dư thừa nguồn cung; kinh doanh có tính đầu cơ, làm giá, lũng đoạn thị trường; kiểm soát mức độ tập trung tín dụng vào một số khách hàng/nhóm khách hàng lớn, khách hàng có liên quan đến cổ đông lớn của tổ chức tín dụng, bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng. Còn tín dụng phục vụ mục đích chính đáng của người mua nhà được bảo đảm công bằng như các lĩnh vực khác.

Những tín hiệu mới từ ba bộ luật mới là Luật Kinh doanh bất động sản 2023, Luật Nhà ở 2023 và Luật Đất đai 2024 cũng đang được các nhà kinh doanh bất động sản, giới đầu cơ và người dân chờ đợi mức độ thẩm thấu vào thị trường.

Theo TS. Lê Xuân Nghĩa, năm 2025 tới đây sẽ chấn chỉnh toàn bộ nền tảng pháp lý, cải cách bộ máy hành chính và ban hành thêm một số nghị quyết đặc biệt tháo gỡ vướng mắc về mặt pháp lý cho thị trường bất động sản. Cùng với đó, cả nước rục rịch triển khai đại dự án đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam với 23 nhà ga trải khắp các tỉnh, thành, cũng là 23 đầu mối đô thị quan trọng. Khi đó, thị trường bất động sản năm 2026 hứa hẹn có nhiều chuyển biến mới tích cực hơn.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (8/4): Tỷ giá trung tâm giảm nhẹ, USD suy yếu sau thông tin Mỹ - Iran đàm phán ngừng bắn

Tỷ giá USD hôm nay (8/4): Tỷ giá trung tâm giảm nhẹ, USD suy yếu sau thông tin Mỹ - Iran đàm phán ngừng bắn

(TBTCO) - Sáng ngày 8/4, tỷ giá trung tâm giảm 2 đồng xuống 25.106 VND/USD; tỷ giá ngân hàng dao động trong biên độ 23.850,7 - 26.361,3 VND/USD, còn thị trường tự do đi ngang. Trên thị trường quốc tế, DXY giảm 0,88% xuống 98,98 điểm, mất mốc quan trọng 100 điểm sau khi thông tin Mỹ - Iran đàm phán ngừng bắn.
SHB nâng cao nền tảng vốn, tạo đà kế hoạch kinh doanh bứt phá năm 2026

SHB nâng cao nền tảng vốn, tạo đà kế hoạch kinh doanh bứt phá năm 2026

(TBTCO) - Trong lộ trình tăng tốc năm 2026, SHB đang đồng thời triển khai hai trụ cột quan trọng: nâng cao nền tảng vốn, nâng chuẩn quản trị theo thông lệ quốc tế; song song với đó là thúc đẩy kế hoạch kinh doanh bứt phá trên nền tảng chuyển đổi mạnh mẽ, toàn diện và định hướng phát triển bám sát các chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước. Đây là bước đi quan trọng để Ngân hàng nâng cao năng lực cạnh tranh, mở rộng cơ hội tiếp cận dòng vốn quốc tế và tiếp tục gia tăng giá trị bền vững cho cổ đông.
Giá vàng hôm nay ngày 8/4: Giá vàng trong nước lùi về vùng 169 - 172,5 triệu đồng

Giá vàng hôm nay ngày 8/4: Giá vàng trong nước lùi về vùng 169 - 172,5 triệu đồng

(TBTCO) - Sáng ngày 8/4, giá vàng trong nước tiếp tục giảm tại nhiều doanh nghiệp lớn, đưa mặt bằng giao dịch vàng miếng và vàng nhẫn lùi về quanh vùng 169 - 172,5 triệu đồng/lượng.
Bảo hiểm DBV đặt mục tiêu 6.200 tỷ đồng doanh thu gốc, bứt tốc thị phần lọt top 4

Bảo hiểm DBV đặt mục tiêu 6.200 tỷ đồng doanh thu gốc, bứt tốc thị phần lọt top 4

Bảo hiểm DBV đặt mục tiêu năm 2026 đạt doanh thu bảo hiểm gốc 6.200 tỷ đồng, tái cấu trúc danh mục nghiệp vụ theo hướng giảm dần phụ thuộc vào xe cơ giới. Doanh nghiệp đẩy mạnh mở rộng kênh phân phối, hợp tác với các đối tác chiến lược, phát triển bảo hiểm số, hướng tới lọt top 4 công ty bảo hiểm phi nhân thọ hàng đầu.
Bảo hiểm BSH tái định vị theo hướng tinh gọn, lợi nhuận kỳ vọng tăng hơn 70%

Bảo hiểm BSH tái định vị theo hướng tinh gọn, lợi nhuận kỳ vọng tăng hơn 70%

Bảo hiểm BSH đặt kế hoạch năm 2026 với phí bảo hiểm giữ lại đạt 1.326,3 tỷ đồng, trong đó, doanh thu phí bảo hiểm gốc còn 879 tỷ đồng, giảm 66% cùng kỳ. Dù quy mô thu hẹp, doanh nghiệp vẫn kỳ vọng lợi nhuận trước thuế tăng 73% lên 49 tỷ đồng, tiếp tục theo đuổi chiến lược tinh gọn, tập trung vào hiệu quả lợi nhuận, phù hợp với chiến lược phát triển mới.
TPBank đạt chuẩn quốc tế ICXS2019 về trải nghiệm khách hàng

TPBank đạt chuẩn quốc tế ICXS2019 về trải nghiệm khách hàng

(TBTCO) - Mới đây, TPBank trở thành ngân hàng đầu tiên tại Việt Nam được Viện Tiêu chuẩn Anh Quốc (BSI) cấp chứng chỉ International Customer Experience Standard 2019 (ICXS2019), đồng thời đạt bậc xếp hạng cao nhất “International Excellence”. Kết quả này phản ánh hành trình chuyển đổi toàn diện của ngân hàng, nơi trải nghiệm khách hàng được đặt vào trung tâm trong mọi hoạt động vận hành.
Ngân hàng dồn lực tăng vốn điều lệ mùa đại hội, gia cố "bộ đệm" đón tăng trưởng

Ngân hàng dồn lực tăng vốn điều lệ mùa đại hội, gia cố "bộ đệm" đón tăng trưởng

(TBTCO) - Mùa Đại hội đồng cổ đông 2026, các ngân hàng đồng loạt ưu tiên chia cổ tức bằng cổ phiếu và đẩy mạnh chào bán cổ phiếu để tăng vốn, với kế hoạch tăng 25 - 50%, đưa vốn điều lệ nhiều nhà băng hướng tới mốc 100.000 tỷ đồng dẫn đầu hệ thống. Xu hướng này nhằm củng cố hệ số CAR, đáp ứng nhu cầu tăng trưởng tín dụng và tạo “bộ đệm” vững chắc mở rộng quy mô.
MBV thông báo về việc khai trương đi vào hoạt động Chi nhánh Dĩ An

MBV thông báo về việc khai trương đi vào hoạt động Chi nhánh Dĩ An

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc chính thức khai trương và đi vào hoạt động Chi nhánh Dĩ An.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,200 ▲250K 17,550 ▲300K
Kim TT/AVPL 17,210 ▲270K 17,560 ▲310K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,200 ▲270K 17,550 ▲310K
Nguyên Liệu 99.99 15,890 ▲390K 16,090 ▲390K
Nguyên Liệu 99.9 15,840 ▲390K 16,040 ▲390K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,930 ▲310K 17,330 ▲310K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,880 ▲310K 17,280 ▲310K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,810 ▲310K 17,260 ▲310K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 171,500 ▲2500K 175,000 ▲3000K
Hà Nội - PNJ 171,500 ▲2500K 175,000 ▲3000K
Đà Nẵng - PNJ 171,500 ▲2500K 175,000 ▲3000K
Miền Tây - PNJ 171,500 ▲2500K 175,000 ▲3000K
Tây Nguyên - PNJ 171,500 ▲2500K 175,000 ▲3000K
Đông Nam Bộ - PNJ 171,500 ▲2500K 175,000 ▲3000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,200 ▲250K 17,550 ▲300K
Miếng SJC Nghệ An 17,200 ▲250K 17,550 ▲300K
Miếng SJC Thái Bình 17,200 ▲250K 17,550 ▲300K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,150 ▲250K 17,500 ▲300K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,150 ▲250K 17,500 ▲300K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,150 ▲250K 17,500 ▲300K
NL 99.90 15,570 ▲70K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,600 ▲70K
Trang sức 99.9 16,690 ▲300K 17,390 ▲300K
Trang sức 99.99 16,700 ▲300K 17,400 ▲300K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 ▲20K 1,755 ▲30K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,715 ▲20K 17,552 ▲300K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,715 ▲20K 17,553 ▲300K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 171 ▲2K 175 ▲3K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 171 ▲2K 1,751 ▲30K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 169 ▲2K 1,735 ▲30K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 165,282 ▲2970K 171,782 ▲2970K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 121,388 ▲2250K 130,288 ▲2250K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 109,242 ▲2040K 118,142 ▲2040K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 97,096 ▲1831K 105,996 ▲1831K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 92,411 ▲1750K 101,311 ▲1750K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 63,607 ▲1251K 72,507 ▲1251K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 ▲20K 1,755 ▲30K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 ▲20K 1,755 ▲30K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 ▲20K 1,755 ▲30K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 ▲20K 1,755 ▲30K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 ▲20K 1,755 ▲30K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 ▲20K 1,755 ▲30K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 ▲20K 1,755 ▲30K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 ▲20K 1,755 ▲30K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 ▲20K 1,755 ▲30K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 ▲20K 1,755 ▲30K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 ▲20K 1,755 ▲30K
Cập nhật: 08/04/2026 13:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18086 18361 18940
CAD 18498 18775 19394
CHF 32709 33094 33747
CNY 0 3800 3870
EUR 30131 30405 31430
GBP 34538 34930 35875
HKD 0 3230 3432
JPY 159 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 15055 15642
SGD 20122 20405 20931
THB 737 800 853
USD (1,2) 26061 0 0
USD (5,10,20) 26102 0 0
USD (50,100) 26131 26150 26361
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,141 26,141 26,361
USD(1-2-5) 25,096 - -
USD(10-20) 25,096 - -
EUR 30,289 30,313 31,569
JPY 162.16 162.45 171.22
GBP 34,733 34,827 35,817
AUD 18,265 18,331 18,907
CAD 18,722 18,782 19,351
CHF 32,997 33,100 33,871
SGD 20,272 20,335 21,009
CNY - 3,791 3,912
HKD 3,303 3,313 3,431
KRW 16.47 17.18 18.58
THB 784.92 794.61 845.79
NZD 15,027 15,167 15,522
SEK - 2,781 2,862
DKK - 4,054 4,171
NOK - 2,705 2,784
LAK - 0.91 1.26
MYR 6,180.73 - 6,934.66
TWD 750.22 - 903.26
SAR - 6,912.47 7,236.31
KWD - 83,726 88,536
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,111 26,141 26,361
EUR 30,167 30,288 31,468
GBP 34,634 34,773 35,777
HKD 3,292 3,305 3,420
CHF 32,701 32,832 33,759
JPY 162.18 162.83 170.17
AUD 18,226 18,299 18,889
SGD 20,274 20,355 20,937
THB 799 802 838
CAD 18,668 18,743 19,308
NZD 14,997 15,526
KRW 17.06 18.74
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26130 26130 26361
AUD 18194 18294 19219
CAD 18668 18768 19785
CHF 32900 32930 34516
CNY 3792.9 3817.9 3954
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 30267 30297 32022
GBP 34759 34809 36569
HKD 0 3355 0
JPY 162.69 163.19 173.7
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15103 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2790 0
SGD 20260 20390 21111
THB 0 764.7 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17320000 17320000 17620000
SBJ 16000000 16000000 17620000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,159 26,209 26,361
USD20 26,159 26,209 26,361
USD1 26,159 26,209 26,361
AUD 18,267 18,367 19,479
EUR 30,434 30,434 31,842
CAD 18,624 18,724 20,029
SGD 20,331 20,481 21,048
JPY 163.06 164.56 169.1
GBP 34,673 35,023 36,150
XAU 17,398,000 0 17,702,000
CNY 0 3,703 0
THB 0 800 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 08/04/2026 13:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80