Bảo hiểm gia tăng áp lực trước "sóng gió" Trung Đông

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Xung đột tại Trung Đông đang đẩy phí bảo hiểm leo thang và siết chặt điều khoản tái bảo hiểm tại nhiều khu vực. Dù phần lớn rủi ro chiến tranh bị loại trừ và các nghiệp vụ liên quan đến ngành bảo hiểm trong nước chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ, song tác động gián tiếp vẫn đáng kể do biến động chính trị kéo theo nguy cơ suy giảm kinh tế, từ đó gia tăng áp lực lên tăng trưởng toàn ngành.
aa

Phí tăng mạnh, điều kiện siết chặt

Trong báo cáo đánh giá mới đây về tác động của xung đột tại Trung Đông đối với ngành bảo hiểm, Tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc tế Fitch Ratings cho rằng, các yêu cầu bồi thường ban đầu sẽ được ghi nhận trong quý I/2026, phản ánh tác động tới lợi nhuận của doanh nghiệp bảo hiểm.

Thống kê cho thấy, có khoảng 1.000 tàu, với tổng giá trị thân tàu vượt 25 tỷ USD hoạt động tại khu vực Vùng Vịnh và các vùng biển lân cận. Rủi ro tích tụ ở mức cao do có nhiều tàu tập trung quanh khu vực Hormuz. Trên thực tế, nhiều hợp đồng bảo hiểm rủi ro chiến tranh trong lĩnh vực hàng hải và hàng không bị hủy gấp, hoặc phải ký lại với mức phí cao hơn đáng kể. Điều này khiến phí bảo hiểm chiến tranh cho các tàu đi qua eo biển Hormuz biến động mạnh, thậm chí có thể tăng tới 20 lần.

"Phí bảo hiểm cao có khả năng sẽ kéo dài đến cuối năm 2026" - Fitch Ratings đánh giá.

Bảo hiểm gia tăng áp lực trước
Với nghiệp vụ rủi ro cao như bảo hiểm thân tàu, doanh nghiệp bảo hiểm trong nước thường nhượng tái bảo hiểm với tỷ lệ lớn. Ảnh: An Thư

Tương tự, Tổ chức xếp hạng tín nhiệm Morningstar DBRS cũng cảnh báo, căng thẳng địa chính trị và quân sự kéo dài ở Trung Đông có thể thắt chặt các điều khoản tái bảo hiểm và khiến các công ty bảo hiểm xem xét lại giá cả và các điều khoản bảo hiểm. Trong đó, các tài sản nhạy cảm về chính trị có thể đối mặt với phí cao hơn, hoặc hạn mức bảo hiểm thấp hơn.

Ở góc độ thị trường, ông Dylan Mortimer - Trưởng bộ phận bảo hiểm thân tàu và rủi ro chiến tranh Công ty môi giới bảo hiểm Marsh (Mỹ) cho biết, trong ngắn hạn, mức phí bảo hiểm thân tàu biển tại khu vực Vùng Vịnh có thể tăng 25 - 50%.

Nhằm khởi động lại dòng chảy năng lượng và thương mại qua eo biển Hormuz, Tập đoàn Tài chính Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (DFC) tiết lộ, Bảo hiểm Chubb là đối tác chính trong kế hoạch tái bảo hiểm hàng hải trị giá 20 tỷ USD. ​​Fitch cho rằng, sự hỗ trợ này có thể giúp hạn chế tổn thất cho các công ty bảo hiểm tham gia.

Nếu kinh tế chậm lại, phí bảo hiểm khó bứt phá

Doanh thu phí bảo hiểm phi nhân thọ thường đi theo tốc độ tăng trưởng kinh tế, quy mô tài sản được tạo ra tương ứng cần được bảo hiểm. Khi chi phí nhiên liệu tăng, doanh nghiệp và người dân buộc phải đối phó, làm suy kiệt việc phát triển hoạt động khác. Đó là chưa kể tác động vào túi tiền của người tiêu dùng, gây hạn chế chi tiêu, làm giảm tăng trưởng kinh tế...

Bình luận về kế hoạch tái bảo hiểm hàng hải hàng tỷ USD, theo ông Trần Nguyên Đán - Viện trưởng Học viện Bảo hiểm và Quản trị rủi ro tài chính (IFRM), cơ chế này tương tự quỹ bảo hiểm động đất của Nhật Bản, tức là với những rủi ro quá lớn mà một doanh nghiệp bảo hiểm đơn lẻ không thể gánh chịu, Chính phủ sẽ đứng ra thiết lập quỹ để hỗ trợ bù đắp. Về bản chất, đây gần như là một cơ chế bảo hiểm cho điều khoản chiến tranh.

"Quỹ này trước hết ưu tiên cho tài sản của Mỹ trong khu vực và tiếp đến là các tài sản được Chubb bảo hiểm có liên quan đến Mỹ, nên phạm vi khá hạn chế và không liên quan nhiều đến các đối tượng khác" - ông Đán nhận định. Cùng với đó, quy mô vài chục tỷ USD cũng không thể bao phủ toàn bộ thiệt hại nếu chiến tranh leo thang diện rộng.

Nhiều doanh nghiệp chưa ghi nhận tổn thất

Xung đột tại Trung Đông được đánh giá chỉ tác động hạn chế tới thị trường bảo hiểm phi nhân thọ trong nước, chủ yếu ảnh hưởng đến các nghiệp vụ liên quan vận tải và hàng hóa, vốn chiếm tỷ trọng nhỏ trong cơ cấu doanh thu. Số liệu toàn thị trường từ Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm (Bộ Tài chính) cho thấy, năm 2025, bảo hiểm hàng hóa vận chuyển chiếm 3,83% doanh thu phí gốc; bảo hiểm hàng không chiếm 1,14%; bảo hiểm thân tàu và trách nhiệm dân sự chủ tàu chiếm 2,66%.

Khảo sát của phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư tại một số doanh nghiệp như Bảo Việt, MIC, PTI, BSH, DBV... cho thấy, hiện chưa ghi nhận tổn thất phát sinh từ khách hàng. Lý do một phần do mức độ hiện diện của đội tàu Việt Nam tại khu vực còn hạn chế.

Theo báo cáo của Cục Hàng hải và Đường thủy Việt Nam (Bộ Xây dựng), đến đầu tháng 3/2026, chỉ có 17 tàu dầu thuộc sở hữu của doanh nghiệp Việt Nam cùng 213 thuyền viên hoạt động tại Trung Đông. Riêng Nhà máy Lọc dầu Nghi Sơn phụ thuộc 100% nguồn dầu thô nhập từ Trung Đông, với khoảng 4 chuyến tàu/tháng.

Năm 2025, kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam với Trung Đông chỉ khoảng 2%. Dù tỷ trọng không lớn, một số mặt hàng vẫn phụ thuộc đáng kể, đặc biệt khoảng 80% dầu thô nhập khẩu đến từ khu vực này.

Bên cạnh đó, với các nghiệp vụ rủi ro cao như hàng không, thân tàu, doanh nghiệp bảo hiểm trong nước thường nhượng tái bảo hiểm với tỷ lệ lớn, nên mức giữ lại rất thấp, khoảng 2% với thân tàu và 0,3% với hàng không. Nhờ đó, tác động trực tiếp đến kết quả kinh doanh được hạn chế đáng kể.

Trao đổi với phóng viên, đại diện PVI cho biết, hiện doanh nghiệp chưa ghi nhận ảnh hưởng trực tiếp. Tuy nhiên, xung đột có thể gián tiếp tác động đến hoạt động của khách hàng như: đứt gãy chuỗi cung ứng hoặc suy giảm hoạt động khai thác, sử dụng tài sản, qua đó, làm giảm doanh thu phí bảo hiểm.

Cũng theo đại diện PVI, doanh nghiệp chủ yếu bảo hiểm cho các tài sản kỹ thuật và cháy nổ, mà các tài sản này đều nằm trong nước; trong khi đó, hoạt động tái bảo hiểm có tham gia trên nhiều thị trường, nhưng tỷ lệ rủi ro giữ lại của PVI rất thấp, nên nhìn chung tác động là không đáng kể.

Đại diện Bảo hiểm Bảo Việt chia sẻ, doanh nghiệp chủ động cập nhật thông tin từ thị trường quốc tế để tư vấn cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu về phạm vi bảo hiểm hàng hải, bảo hiểm rủi ro chiến tranh và các giải pháp bảo vệ chuỗi cung ứng, đồng thời đảm bảo quyền lợi khách hàng theo đúng hợp đồng đã ký kết.

Tổn thất trực tiếp hạn chế, tác động vẫn lan rộng

Đánh giá về các tác động trực tiếp từ xung đột tại Trung Đông, chuyên gia Trần Nguyên Đán chỉ rõ, bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ tàu (P&I) và bảo hiểm thân tàu đều loại trừ rủi ro chiến tranh. Thông thường, các doanh nghiệp bảo hiểm sẽ loại trừ những khu vực có mức độ tích tụ rủi ro cao, thậm chí có thể điều chỉnh điều khoản hợp đồng ngay lập tức, chẳng hạn không chi trả đối với tàu thuyền đi qua khu vực vịnh Ba Tư.

"Về cơ bản, chi phí bồi thường không tăng, tức là tác động trực tiếp ở khía cạnh này không đáng kể" - ông Đán nhận định.

Còn theo đánh giá của giám đốc phân tích và nghiên cứu tại một công ty quản lý quỹ lớn, tại các khu vực rủi ro cao, phí bảo hiểm, đặc biệt là phí chiến tranh, tăng mạnh từ khoảng 0,25% lên 3% giá trị tàu (gấp 10 - 12 lần), chủ yếu áp dụng với tàu đi qua vùng xung đột.

"Các tuyến vận tải từ Việt Nam đi châu Âu, Mỹ... không chịu phí này, nhưng vẫn bị ảnh hưởng gián tiếp do giá nhiên liệu tăng và nguy cơ thiếu tàu, kéo dài hành trình và tăng chi phí" - vị chuyên gia này phân tích.

Về tác động gián tiếp, theo ông Đán, khi nguồn cung dầu bị gián đoạn, giá nhiên liệu tăng sẽ kéo chi phí vận tải và giá hàng hóa đi lên. Do phí bảo hiểm hàng hóa thường tính trên giá CIF (bao gồm vận chuyển), sẽ làm phí bảo hiểm trên mỗi đơn vị hàng hóa tăng, qua đó, có thể tăng doanh thu phí ở mảng này.

Tuy nhiên, theo các chuyên gia, tác động tiêu cực lớn hơn khi gây suy giảm tăng trưởng GDP, không chỉ làm giảm nhu cầu bảo hiểm phi nhân thọ, mà còn ảnh hưởng đến bảo hiểm nhân thọ. Trong kịch bản tác động gián tiếp, phần suy giảm doanh thu phí bảo hiểm có thể cao nếu xung đột không sớm kết thúc.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng ngày 24/3 cho thấy, lãi suất huy động tiếp tục tăng, với 10 ngân hàng nâng lãi suất kỳ hạn 6 tháng và 15 ngân hàng tăng ở kỳ hạn 12 tháng chỉ chưa đầy 1 tháng; mức cao nhất đã chạm 9%/năm. Trước diễn biến này, các ngân hàng lớn đều có dự tính riêng về điều hành chính sách lãi suất, khi dự báo chi phí vốn sẽ chịu áp lực.
Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

Năm 2026, OCB đặt nhiều mục tiêu chiến lược, nổi bật là lợi nhuận trước thuế đạt 6.960 tỷ đồng (tăng 39%); tổng tài sản 354.214 tỷ đồng (tăng 10%). Ngân hàng dự kiến nâng vốn điều lệ lên 30.625 tỷ đồng nhằm mở rộng quy mô, tăng năng lực cạnh tranh; đồng thời, kiện toàn Hội đồng quản trị phục vụ giai đoạn tăng trưởng mới.
Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

(TBTCO) - Ngày 24/3/2026, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) chính thức khai trương trụ sở chính tại tòa nhà số 27 - 29 Lý Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội. Việc đặt trụ sở tại Thủ đô là bước triển khai quan trọng trong định hướng phát triển của ngân hàng đã được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông năm 2025.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngày 24/3, tại Hà Nội, Ngân hàng Đầu tư châu Âu (EIB) và Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã công bố thỏa thuận tài trợ trị giá 200 triệu EUR nhằm đẩy nhanh các dự án hành động vì khí hậu, môi trường và phát triển bền vững trên khắp Việt Nam.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Kim TT/AVPL 16,810 ▼250K 17,110 ▼250K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Nguyên Liệu 99.99 15,950 ▼400K 16,150 ▼400K
Nguyên Liệu 99.9 15,900 ▼400K 16,100 ▼400K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,600 ▼300K 17,000 ▼300K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,550 ▼300K 16,950 ▼300K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,480 ▼300K 16,930 ▼300K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Hà Nội - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đà Nẵng - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Miền Tây - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Tây Nguyên - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đông Nam Bộ - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Nghệ An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Thái Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
NL 99.90 15,820 ▼450K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,850 ▼450K
Trang sức 99.9 16,290 ▼250K 16,990 ▼250K
Trang sức 99.99 16,300 ▼250K 17,000 ▼250K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 168 ▼1537K 17,102 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 168 ▼1537K 17,103 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,678 ▼25K 1,708 ▼25K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,678 ▼25K 1,709 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,658 ▼25K 1,693 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 161,124 ▼2475K 167,624 ▼2475K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 118,238 ▼1875K 127,138 ▼1875K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 106,386 ▼1700K 115,286 ▼1700K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 94,533 ▼1525K 103,433 ▼1525K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 89,962 ▼1457K 98,862 ▼1457K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 61,855 ▼1043K 70,755 ▼1043K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cập nhật: 26/03/2026 14:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17778 18052 18627
CAD 18532 18809 19423
CHF 32618 33002 33637
CNY 0 3470 3830
EUR 29834 30106 31134
GBP 34406 34798 35732
HKD 0 3241 3443
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14965 15552
SGD 20005 20287 20812
THB 720 783 837
USD (1,2) 26078 0 0
USD (5,10,20) 26119 0 0
USD (50,100) 26147 26167 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 14:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80