Biến cơ chế đặc thù thành nguồn lực, tạo động lực tăng trưởng mới cho Hà Nội
PV: Thưa ông, sau hơn 2 tháng Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 có hiệu lực, Hà Nội đã triển khai những nhiệm vụ trọng tâm nào để đưa các cơ chế mới vào thực tiễn?
Ông Nguyễn Xuân Lưu: Hà Nội đã chủ động chuẩn bị các điều kiện tổ chức thi hành Luật ngay từ trước thời điểm Luật có hiệu lực, với quan điểm không chờ đến ngày 1/7/2026 mới bắt đầu triển khai.
Ngay sau khi Luật được thông qua, thành phố triển khai đồng bộ nhiều nhiệm vụ. UBND thành phố ban hành 3 kế hoạch về rà soát văn bản quy phạm pháp luật; tuyên truyền, phổ biến, tập huấn, bồi dưỡng và tổ chức thi hành Luật. Thành ủy ban hành Chỉ thị số 15-CT/TU ngày 4/5/2026 để lãnh đạo, chỉ đạo; UBND thành phố thành lập Tổ công tác theo dõi, đôn đốc, kiểm tra tiến độ thực hiện.
Trọng tâm là nhanh chóng cụ thể hóa các cơ chế, chính sách được Quốc hội trao cho Hà Nội. Đến nay, HĐND thành phố đã thông qua 61 nghị quyết quy phạm pháp luật, UBND thành phố ban hành 16 quyết định quy phạm pháp luật để triển khai Luật Thủ đô năm 2026.
![]() |
| Ông Nguyễn Xuân Lưu |
Thành phố đồng thời rà soát hệ thống văn bản hiện hành nhằm bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ, tránh khoảng trống pháp lý.
HĐND thành phố đã công bố 22 nghị quyết tiếp tục có hiệu lực tại Nghị quyết số 23/NQ-HĐND ngày 2/6/2026; UBND thành phố công bố 2 quyết định tiếp tục có hiệu lực tại Quyết định số 2849/QĐ-UBND ngày 6/6/2026.
Cùng với hoàn thiện thể chế, Hà Nội đặc biệt chú trọng tuyên truyền, phổ biến và tập huấn. Hơn 250 hội nghị đã được tổ chức với trên 50.000 lượt người tham dự; hơn 14.000 tài liệu tuyên truyền được phát hành tại các xã, phường. Nội dung Luật cũng được tăng cường phổ biến trên hệ thống truyền thanh cơ sở, các cổng và trang thông tin điện tử.
Đây là điều kiện quan trọng để cán bộ thực thi hiểu đúng, người dân và doanh nghiệp biết rõ để tiếp cận, sử dụng các cơ chế mới.
Tuy nhiên, đây mới là bước khởi đầu. Thời gian tới, thành phố sẽ tiếp tục theo dõi quá trình thực thi, đánh giá tác động của từng cơ chế, nhận diện vướng mắc phát sinh và lắng nghe ý kiến từ người dân, doanh nghiệp, cơ sở để kịp thời tháo gỡ.
Mục tiêu không chỉ là hoàn thiện văn bản, mà quan trọng hơn là biến cơ chế, chính sách đặc thù thành nguồn lực phát triển thực chất, tạo dư địa tăng trưởng, nâng cao hiệu quả quản trị đô thị và chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp.
PV: Trong bối cảnh Hà Nội phải tăng trưởng nhanh nhưng không chạy theo tăng trưởng bằng mọi giá, Luật Thủ đô năm 2026 sẽ được cụ thể hóa như thế nào để vừa tạo động lực kinh tế, vừa nâng cao chất lượng sống?
Ông Nguyễn Xuân Lưu: Hà Nội đang cụ thể hóa yêu cầu này bằng việc khẩn trương ban hành các cơ chế, chính sách để huy động, khơi thông và sử dụng hiệu quả các nguồn lực cho phát triển, cả trước mắt và lâu dài.
Trước mắt, thành phố tập trung vào những cơ chế có khả năng tạo kết quả và động lực tăng trưởng ngay, nhất là đầu tư công, phát triển hạ tầng và đô thị, huy động nguồn lực xã hội, thu hút đầu tư và nhà đầu tư chiến lược.
Cùng với đó, Hà Nội đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, cải cách thủ tục hành chính, tháo gỡ điểm nghẽn về quy hoạch, đất đai, đầu tư để rút ngắn thời gian chuẩn bị, đẩy nhanh tiến độ dự án và đưa nguồn lực vào phát triển.
Về dài hạn, thành phố tập trung tạo dựng động lực tăng trưởng mới và bền vững, trong đó khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp và chuyển đổi số là những hướng trọng tâm. Các cơ chế hỗ trợ nghiên cứu, ứng dụng, thương mại hóa kết quả nghiên cứu và phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp sẽ góp phần nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của nền kinh tế.
Hà Nội cũng phát huy các giá trị văn hóa, lịch sử, thúc đẩy công nghiệp văn hóa, kinh tế ban đêm và các mô hình kinh doanh, sáng tạo mới để hình thành thêm không gian, động lực phát triển.
Một nhiệm vụ quan trọng khác là khai thác hiệu quả các nguồn lực sẵn có như đất đai, tài sản công, ngân sách và kết cấu hạ tầng, bảo đảm nguồn lực công được sử dụng có trọng tâm, tạo hiệu ứng dẫn dắt và thu hút thêm nguồn lực xã hội.
Quan điểm của thành phố là tăng trưởng nhanh phải đi cùng hiệu quả sử dụng nguồn lực, đổi mới sáng tạo và phát triển bền vững. Kết quả cuối cùng phải được chuyển hóa thành hạ tầng tốt hơn, môi trường tốt hơn, dịch vụ tốt hơn và chất lượng sống cao hơn cho người dân Thủ đô.
PV: Để cơ chế thực sự trở thành nguồn lực, Hà Nội sẽ ưu tiên tháo gỡ những điểm nghẽn nào trong quy hoạch, đất đai, giải phóng mặt bằng và thủ tục đầu tư?
Ông Nguyễn Xuân Lưu: Cơ chế đặc thù mới chỉ tạo ra điều kiện cần; để nguồn lực thực sự khơi thông, phải tổ chức thực hiện quyết liệt, đồng bộ và đúng trọng tâm.
Các điểm nghẽn về quy hoạch, đất đai, giải phóng mặt bằng và thủ tục đầu tư có quan hệ chặt chẽ với nhau. Thành phố sẽ tháo gỡ đồng bộ nhưng có thứ tự ưu tiên, tập trung trước vào những khâu đang trực tiếp làm chậm dự án, cản trở dòng vốn và nguồn lực đi vào nền kinh tế.
Trước hết là quy hoạch và đất đai. Thành phố đang đẩy nhanh cụ thể hóa Quy hoạch tổng thể Thủ đô thông qua các quy hoạch phân khu, quy hoạch chi tiết; đồng thời hoàn thiện dữ liệu đất đai, rà soát thủ tục giao đất, cho thuê đất, xác định giá đất, chuyển mục đích sử dụng đất để hạn chế tình trạng dự án đã có chủ trương nhưng vẫn phải chờ thủ tục đầu vào.
![]() |
| Không gian đô thị trung tâm Hà Nội về đêm, nơi hội tụ các hoạt động tài chính, dịch vụ và thương mại của nền kinh tế Thủ đô. Ảnh: VGP. |
Giải phóng mặt bằng cũng là khâu quan trọng. Thành phố đang phân công, phân cấp rõ trách nhiệm, giao thẩm quyền, chỉ tiêu, KPI cho cấp xã; đồng thời làm tốt vận động, thuyết phục người dân và thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, tạm cư theo đúng quy định.
Quan điểm là phải đúng pháp luật, đồng thời hợp tình, hợp lý, bảo đảm hài hòa lợi ích của Nhà nước, người dân và nhà đầu tư.
Thành phố cũng cải cách quy trình, thủ tục đầu tư theo hướng rõ đầu mối, rõ trách nhiệm, rõ thời hạn và rõ kết quả. Với dự án trọng điểm, dự án đầu tư công có khả năng giải ngân lớn, dự án đầu tư xã hội có sức lan tỏa cao hoặc dự án tồn đọng kéo dài, cần chuyển sang cách xử lý theo từng dự án, từng nhóm vướng mắc cụ thể.
Việc thuộc thẩm quyền cấp nào phải được giải quyết ở cấp đó; nội dung vượt thẩm quyền phải được tổng hợp, báo cáo kịp thời, không để hồ sơ đi vòng hoặc kéo dài.
Một nhiệm vụ khác là rà soát, xử lý các dự án chậm triển khai, sử dụng đất chưa hiệu quả. Dự án còn khả năng thực hiện thì tập trung tháo gỡ; dự án không còn phù hợp hoặc không có khả năng thực hiện thì xử lý theo quy định, đưa đất đai và các nguồn lực liên quan trở lại phục vụ phát triển.
Khi quy hoạch rõ, đất đai được quản lý minh bạch, thủ tục được tháo gỡ, mặt bằng được bàn giao và trách nhiệm từng cấp, từng ngành được xác định cụ thể, các dự án sẽ có điều kiện triển khai nhanh hơn, tạo hạ tầng, thu hút đầu tư và mở ra không gian phát triển mới.
PV: Làm thế nào để hiệu quả của các cơ chế đặc thù được đo bằng kết quả phát triển thực chất, thay vì chỉ bằng số lượng chính sách hay dự án được triển khai, thưa ông?
Ông Nguyễn Xuân Lưu: Giá trị của cơ chế đặc thù không nằm ở số lượng chính sách được ban hành hay dự án được phê duyệt, mà phải được đo bằng chuyển biến thực chất về tăng trưởng, chất lượng sống, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và hiệu quả quản trị.
Luật Thủ đô năm 2026 trao cho Hà Nội không gian chủ động lớn hơn, đồng thời đặt ra yêu cầu cao hơn về trách nhiệm, hiệu quả và giải trình. Vì vậy, thành phố phải chuyển mạnh từ quản lý theo quy trình sang quản trị theo kết quả.
Mỗi cơ chế khi triển khai phải làm rõ ba vấn đề: giải quyết điểm nghẽn nào; tạo thêm nguồn lực, động lực tăng trưởng nào; kết quả cuối cùng được đo bằng chỉ tiêu gì.
Chẳng hạn, với cơ chế về đầu tư, đất đai, phát triển đô thị theo định hướng giao thông công cộng (TOD), không chỉ tính số dự án được phê duyệt mà phải đo bằng thời gian chuẩn bị đầu tư được rút ngắn, nguồn lực đất đai được đưa vào sử dụng, vốn xã hội được huy động và tiến độ các công trình chiến lược được đẩy nhanh.
![]() |
| Liên danh Nhật Bản - Tập đoàn T&T đề xuất đầu tư tổ hợp ga Ngọc Hồi. (Ảnh minh họa) |
Với thu hút nhà đầu tư chiến lược, cần nhìn vào vốn thực hiện, công nghệ chuyển giao, năng lực R&D, việc làm chất lượng cao và giá trị gia tăng tạo ra trên địa bàn.
Đối với khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và các mô hình thử nghiệm có kiểm soát, kết quả phải thể hiện qua sản phẩm được thương mại hóa, doanh nghiệp công nghệ hình thành và đóng góp vào năng suất, tăng trưởng.
Đi cùng với đó là nguyên tắc rõ cơ quan chủ trì, rõ người chịu trách nhiệm, rõ tiến độ, rõ sản phẩm và rõ tiêu chí đánh giá. Người đứng đầu không chỉ chịu trách nhiệm về việc “đã triển khai” mà phải chịu trách nhiệm về kết quả đầu ra.
Thành phố sẽ theo dõi một số chỉ số cốt lõi như tăng trưởng GRDP, năng suất lao động, tổng vốn đầu tư xã hội, vốn tư nhân và FDI thực hiện, giải ngân đầu tư công, số dự án tồn đọng được tháo gỡ, hiệu quả khai thác quỹ đất và tài sản công, tiến độ các dự án hạ tầng chiến lược, số doanh nghiệp thành lập mới, doanh nghiệp công nghệ, thời gian xử lý thủ tục hành chính và mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp.
Qua đó, Hà Nội có thể xác định cơ chế nào thực sự tạo ra giá trị, cơ chế nào chưa phát huy hiệu quả để kịp thời điều chỉnh.
Đặc biệt, Luật Thủ đô năm 2026 phải trở thành công cụ hình thành động lực tăng trưởng mới, chứ không chỉ tháo gỡ thủ tục, vướng mắc hiện hữu.
Thành phố sẽ ưu tiên các cơ chế để huy động và đưa nhanh nguồn lực về đất đai, tài chính, tín dụng, khoa học - công nghệ, dữ liệu và nguồn lực xã hội vào những lĩnh vực có khả năng tạo giá trị gia tăng cao như công nghệ cao, bán dẫn, kinh tế số, đổi mới sáng tạo, công nghiệp văn hóa, tài chính xanh, logistics và phát triển đô thị gắn với TOD.
Thước đo cuối cùng không phải Hà Nội đã sử dụng bao nhiêu cơ chế đặc thù, mà là những cơ chế đó đã tạo thêm bao nhiêu nguồn lực, tháo gỡ bao nhiêu điểm nghẽn, hình thành bao nhiêu động lực tăng trưởng mới và mang lại lợi ích cụ thể gì cho người dân, doanh nghiệp.
Đó cũng là cách Hà Nội biến quyền chủ động lớn hơn thành trách nhiệm lớn hơn và kết quả phát triển cao hơn, đáp ứng yêu cầu của Trung ương đối với Thủ đô trong giai đoạn phát triển mới.
PV: Xin cảm ơn ông!






