Cách xác định giao dịch liên kết trong quản lý thuế

Nhật Minh
Cách xác định giao dịch liên kết trong kê khai thuế là một trong những nội dung được người nộp thuế rất quan tâm. Để chống thất thu thuế, Luật Quản lý thuế số 38, cũng như Nghị định 132/2020/NĐ-CP đã có quy định cụ thể về quản lý thuế đối với doanh nghiệp có giao dịch liên kết.
aa

giao dịch liên kết

Người nộp thuế cần xác định các trường hợp được quy định là giao dịch liên kết để kê khai thuế. Ảnh minh họa.

Những trường hợp nào được xác định là giao dịch liên kết?

Theo Điều 5, Nghị định 132/2020/NĐ-CP quy định về quản lý thuế đối với doanh nghiệp có giao dịch liên kết thì các bên có quan hệ liên kết là các bên có mối quan hệ thuộc một trong các trường hợp sau:

Trường hợp thứ nhất, một bên tham gia trực tiếp, hoặc gián tiếp vào việc điều hành, kiểm soát, góp vốn hoặc đầu tư vào bên kia.

Trường hợp thứ hai, các bên trực tiếp hay gián tiếp cùng chịu sự điều hành, kiểm soát, góp vốn hoặc đầu tư của một bên khác.

Các bên liên kết được quy định cụ thể như sau: Một doanh nghiệp nắm giữ trực tiếp, hoặc gián tiếp ít nhất 25% vốn góp của chủ sở hữu của doanh nghiệp kia.

Nguyên tắc xác định giao dịch liên kết

Tại khoản 5 Điều 42 Luật Quản lý thuế số 38, việc kê khai, xác định giá tính thuế đối với giao dịch liên kết được quy định theo các nguyên tắc sau:

- Kê khai, xác định giá giao dịch liên kết theo nguyên tắc phân tích, so sánh với các giao dịch độc lập và nguyên tắc bản chất hoạt động, giao dịch quyết định nghĩa vụ thuế để xác định nghĩa vụ thuế phải nộp như trong điều kiện giao dịch giữa các bên độc lập;

- Giá giao dịch liên kết được điều chỉnh theo giao dịch độc lập để kê khai, xác định số tiền thuế phải nộp theo nguyên tắc không làm giảm thu nhập chịu thuế;

- Người nộp thuế có quy mô nhỏ, rủi ro về thuế thấp được miễn thực hiện quy định tại điểm a, điểm b khoản này và được áp dụng cơ chế đơn giản hóa trong kê khai, xác định giá giao dịch liên kết.

Cả hai doanh nghiệp đều có ít nhất 25% vốn góp của chủ sở hữu do một bên thứ ba nắm giữ trực tiếp hoặc gián tiếp.

Một doanh nghiệp là cổ đông lớn nhất về vốn góp của chủ sở hữu và nắm giữ trực tiếp, hoặc gián tiếp ít nhất 10% tổng số cổ phần của doanh nghiệp kia.

Một doanh nghiệp bảo lãnh, hoặc cho một doanh nghiệp khác vay vốn dưới bất kỳ hình thức nào (bao gồm cả các khoản vay từ bên thứ ba được đảm bảo từ nguồn tài chính của bên liên kết và các giao dịch tài chính có bản chất tương tự), với điều kiện khoản vốn vay ít nhất bằng 25% vốn góp của chủ sở hữu của doanh nghiệp đi vay và chiếm trên 50% tổng giá trị các khoản nợ trung và dài hạn của doanh nghiệp đi vay.

Một doanh nghiệp chỉ định thành viên ban lãnh đạo điều hành, hoặc nắm quyền kiểm soát của một doanh nghiệp khác với điều kiện số lượng các thành viên được doanh nghiệp thứ nhất chỉ định chiếm trên 50% tổng số thành viên ban lãnh đạo điều hành, hoặc nắm quyền kiểm soát của doanh nghiệp thứ hai; hoặc một thành viên được doanh nghiệp thứ nhất chỉ định có quyền quyết định các chính sách tài chính, hoặc hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thứ hai.

Hai doanh nghiệp cùng có trên 50% thành viên ban lãnh đạo, hoặc cùng có một thành viên ban lãnh đạo có quyền quyết định các chính sách tài chính hoặc hoạt động kinh doanh được chỉ định bởi một bên thứ ba.

Hai doanh nghiệp được điều hành, hoặc chịu sự kiểm soát về nhân sự, tài chính và hoạt động kinh doanh bởi các cá nhân thuộc một trong các mối quan hệ vợ, chồng; cha mẹ đẻ, cha mẹ nuôi, cha dượng, mẹ kế, cha mẹ vợ, cha mẹ chồng; con đẻ, con nuôi, con riêng của vợ hoặc chồng, con dâu, con rể; anh, chị, em cùng cha mẹ, anh, chị em cùng cha khác mẹ, anh, chị, em cùng mẹ khác cha, anh rể, em rể, chị dâu, em dâu của người cùng cha mẹ hoặc cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha; ông bà nội, ông bà ngoại; cháu nội, cháu ngoại; cô, dì, chú, cậu, bác ruột và cháu ruột.

Hai cơ sở kinh doanh có mối quan hệ trụ sở chính và cơ sở thường trú, hoặc cùng là cơ sở thường trú của tổ chức, cá nhân nước ngoài.

Các doanh nghiệp chịu sự kiểm soát của một cá nhân thông qua vốn góp của cá nhân này vào doanh nghiệp đó, hoặc trực tiếp tham gia điều hành doanh nghiệp.

Các trường hợp khác trong đó doanh nghiệp chịu sự điều hành, kiểm soát, quyết định trên thực tế đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp kia.

Doanh nghiệp có phát sinh các giao dịch nhượng, nhận chuyển nhượng vốn góp ít nhất 25% vốn góp của chủ sở hữu của doanh nghiệp trong kỳ tính thuế; vay, cho vay ít nhất 10% vốn góp của chủ sở hữu tại thời điểm phát sinh giao dịch trong kỳ tính thuế với cá nhân điều hành, kiểm soát doanh nghiệp hoặc với cá nhân thuộc trong một các mối quan hệ theo quy định tại điểm g khoản này.

Xác định chi phí để tính thuế đối với giao dịch liên kết

Theo quy định của Nghị định 132, chi phí của giao dịch liên kết không phù hợp bản chất giao dịch độc lập, hoặc không góp phần tạo ra doanh thu, thu nhập cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của người nộp thuế thì không được tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp trong kỳ, bao gồm:

Chi phí thanh toán cho bên liên kết không thực hiện bất kỳ hoạt động sản xuất, kinh doanh nào liên quan đến ngành nghề, hoạt động sản xuất, kinh doanh của người nộp thuế; không có quyền lợi, trách nhiệm liên quan đối với tài sản, hàng hóa, dịch vụ cung cấp cho người nộp thuế.

Chi phí thanh toán cho bên liên kết có hoạt động sản xuất, kinh doanh nhưng quy mô tài sản, số lượng nhân viên và chức năng sản xuất, kinh doanh không tương xứng với giá trị giao dịch mà bên liên kết nhận được từ người nộp thuế.

Chi phí thanh toán cho bên liên kết là đối tượng cư trú của một nước hoặc vùng lãnh thổ không thu thuế thu nhập doanh nghiệp, không góp phần tạo ra doanh thu, giá trị gia tăng cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của người nộp thuế.

Về chi phí dịch vụ giữa các bên liên kết, theo quy định của Nghị định 132, người nộp thuế được trừ các khoản chi phí dịch vụ vào chi phí tính thuế trong kỳ nếu đáp ứng đủ các điều kiện như sau: dịch vụ được cung cấp có giá trị thương mại, tài chính, kinh tế và phục vụ trực tiếp cho hoạt động sản xuất kinh doanh của người nộp thuế; dịch vụ từ các bên liên kết được xác định đã cung cấp trong điều kiện hoàn cảnh tương tự các bên độc lập chi trả cho các dịch vụ này…

Chi phí dịch vụ không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế bao gồm: chi phí phát sinh từ các dịch vụ được cung cấp chỉ nhằm mục đích phục vụ lợi ích hoặc tạo giá trị cho các bên liên kết khác; dịch vụ phục vụ lợi ích cổ đông của bên liên kết; dịch vụ tính phí trùng lắp do nhiều bên liên kết cung cấp cho cùng một loại dịch vụ, không xác định được giá trị gia tăng cho người nộp thuế; dịch vụ về bản chất là các lợi ích người nộp thuế nhận được do là thành viên của một tập đoàn và chi phí mà bên liên kết cộng thêm đối với dịch vụ do bên thứ ba cung cấp thông qua trung gian bên liên kết không đóng góp thêm giá trị cho dịch vụ.

Theo Nghị định 132, tổng chi phí lãi vay được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) đối với doanh nghiệp có giao dịch liên kết cụ thể như sau:

Tổng chi phí lãi vay sau khi trừ lãi tiền gửi và lãi cho vay phát sinh trong kỳ của người nộp thuế được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế TNDN không vượt quá 30% của tổng lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh trong kỳ cộng chi phí lãi vay sau khi trừ lãi tiền gửi, lãi cho vay phát sinh trong kỳ cộng chi phí khấu hao phát sinh trong kỳ của người nộp thuế.

Phần chi phí lãi vay không được trừ theo quy định tại điểm a khoản này được chuyển sang kỳ tính thuế tiếp theo khi xác định tổng chi phí lãi vay được trừ trong trường hợp tổng chi phí lãi vay phát sinh được trừ của kỳ tính thuế tiếp theo thấp hơn mức 30%. Thời gian chuyển chi phí lãi vay tính liên tục không quá 05 năm kể từ năm tiếp sau năm phát sinh chi phí lãi vay không được trừ.

Chi phí lãi vay 30% không áp dụng với các khoản vay của người nộp thuế là tổ chức tín dụng theo Luật Các tổ chức tín dụng; tổ chức kinh doanh bảo hiểm theo Luật Kinh doanh bảo hiểm; các khoản vay vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA), vay ưu đãi của Chính phủ thực hiện theo phương thức Chính phủ đi vay nước ngoài cho các doanh nghiệp vay lại; các khoản vay thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia.../.

Nhật Minh

Nhật Minh

Đọc thêm

Bộ Tài chính đính chính thay thế một số biểu mẫu trong quản lý thuế tại Thông tư 89

Bộ Tài chính đính chính thay thế một số biểu mẫu trong quản lý thuế tại Thông tư 89

(TBTCO) - Bộ Tài chính vừa ban hành Quyết định về việc đính chính Thông tư số 89/2026/TT-BTC ngày 30/6/2026 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định chi tiết một số điều của Luật Quản lý thuế và Nghị định số 252/2026/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Quản lý thuế.
VPS năm thứ ba liên tiếp dẫn đầu ngành chứng khoán về nộp ngân sách nhà nước

VPS năm thứ ba liên tiếp dẫn đầu ngành chứng khoán về nộp ngân sách nhà nước

(TBTCO) - Ngày 15/9/2026, tại Hà Nội, Công ty Cổ phần Chứng khoán VPS (HOSE: VCK) được vinh danh ở vị trí số 1 trong khối công ty chứng khoán nộp ngân sách lớn nhất Việt Nam, đồng thời góp mặt trong Top 23 doanh nghiệp tư nhân nộp ngân sách lớn nhất toàn quốc, tại Lễ vinh danh các doanh nghiệp nộp ngân sách lớn nhất Việt Nam 2026 (Vietnam Largest Taxpayers – VNTAX 2026) do CafeF tổ chức.
Đơn giản việc phân loại hàng hóa, tạo lực đẩy cho thương mại

Đơn giản việc phân loại hàng hóa, tạo lực đẩy cho thương mại

(TBTCO) - Từ tinh gọn biểu mẫu, số hóa hồ sơ đến xây dựng dữ liệu dùng chung, Thông tư 85/2026/TT-BTC có hiệu lực từ ngày 15/9/2026 mở ra cách làm mới trong phân tích, phân loại hàng hóa xuất nhập khẩu, hướng tới mục tiêu “một mặt hàng, một mã số”, tăng tính thống nhất và giảm rủi ro cho Hải quan, doanh nghiệp.
13 bước kê khai thuế đơn giản bằng Chatbot trên eTax Mobile

13 bước kê khai thuế đơn giản bằng Chatbot trên eTax Mobile

(TBTCO) - Nhằm tạo thuận lợi cho hộ kinh doanh trong việc kê khai thuế, ngành Thuế đã bổ sung tiện ích kê khai thuế bằng Chatbot trên ứng dụng eTax Mobile. Việc bổ sung tiện ích này nhằm cụ thể hóa định hướng chuyển đổi số của ngành Thuế, lấy người nộp thuế làm trung tâm và từng bước đưa các dịch vụ thuế điện tử đến gần hơn với người dân, hộ kinh doanh.
Hải quan Việt Nam - Lào tăng cường hợp tác về phân loại, trị giá và xuất xứ

Hải quan Việt Nam - Lào tăng cường hợp tác về phân loại, trị giá và xuất xứ

(TBTCO) - Hải quan Việt Nam và Hải quan Lào đẩy mạnh trao đổi chuyên môn về phân loại hàng hóa, trị giá hải quan và xuất xứ, qua đó chia sẻ kinh nghiệm, tháo gỡ vướng mắc thực tiễn và nâng cao năng lực thực thi nghiệp vụ cho cán bộ hải quan hai nước.
Hải quan gỡ vướng cách áp dụng tỷ giá đối với hàng hóa xuất khẩu

Hải quan gỡ vướng cách áp dụng tỷ giá đối với hàng hóa xuất khẩu

(TBTCO) - Cục Hải quan có công văn hỏa tốc hướng dẫn Hiệp hội Hồ tiêu và cây gia vị Việt Nam về việc áp dụng tỷ giá đối với hóa đơn hàng hóa xuất khẩu, trong đó làm rõ thời điểm xác định tỷ giá tính thuế và khẳng định chênh lệch số tiền quy đổi sang VND do sử dụng tỷ giá khác nhau không được xác định là chênh lệch về trị giá hàng hóa.
Thuế TP. Hải Phòng phổ biến, giải đáp vướng mắc về thuế cho doanh nghiệp FDI

Thuế TP. Hải Phòng phổ biến, giải đáp vướng mắc về thuế cho doanh nghiệp FDI

(TBTCO) - Sáng 15/9, tại TP. Hải Phòng, Thuế TP. Hải Phòng và Ban Quản lý Khu kinh tế Hải Phòng phối hợp tổ chức Hội nghị hướng dẫn, phổ biến kiến thức pháp luật và giải đáp vướng mắc, khó khăn về thuế cho doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) trên địa bàn thành phố.
Hải quan khu vực I tăng thu ngân sách thu hơn 130 tỷ đồng từ hậu kiểm

Hải quan khu vực I tăng thu ngân sách thu hơn 130 tỷ đồng từ hậu kiểm

(TBTCO) - Qua tăng cường thu thập, phân tích thông tin và lựa chọn doanh nghiệp có rủi ro để kiểm tra sau thông quan (hậu kiểm), Hải quan khu vực I đã thu nộp ngân sách 130,5 tỷ đồng, đạt 135% chỉ tiêu được giao. Riêng trong tháng 8/2026, số thu qua công tác này đạt 14,5 tỷ đồng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều