Chỉ cho vay đặc biệt khi xảy ra hiện tượng rút tiền hàng loạt

Hoàng Yến
(TBTCO) - Theo Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, việc cho vay đặc biệt chỉ có ở trường hợp xảy ra rút tiền hàng loạt. Đã là rút tiền hàng loạt của hệ thống ngân hàng thì nó sẽ lan truyền rất lớn, nếu không kịp thời can thiệp sẽ gây hệ lụy đối với cả hệ thống.
aa
Chuyển thẩm quyền quyết định cho vay đặc biệt cho Ngân hàng nhà nước Cho vay đặc biệt lãi suất 0%: Phải có cơ chế kiểm soát chặt chẽ, công khai

Cho vay đặc biệt vẫn yêu cầu có tài sản đảm bảo

Phát biểu tại phiên họp Quốc hội sáng 29/5, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Nguyễn Thị Hồng đã giải trình làm rõ nhiều nội dung trong dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Các tổ chức tín dụng (TCTD). Trong đó, đáng chú ý là các vấn đề liên quan đến thẩm quyền cho vay đặc biệt không tài sản bảo đảm, lãi suất 0%, và việc luật hóa các nội dung của Nghị quyết 42.

Theo Thống đốc Nguyễn Thị Hồng, quy định mới về việc chuyển thẩm quyền cho vay đặc biệt từ Thủ tướng Chính phủ về NHNN là phù hợp với yêu cầu thực tiễn. Trước khi Luật sửa đổi năm 2024 được ban hành, Luật Các tổ chức tín dụng đã trao quyền cho NHNN tự quyết định về cho vay đặc biệt, kể cả về lãi suất và yêu cầu tài sản bảo đảm.

Chỉ cho vay đặc biệt khi xảy ra hiện tượng rút tiền hàng loạt

Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (Nguyễn Thị Hồng giải trình làm rõ nhiều nội dung trong dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Các tổ chức tín dụng.

Tuy nhiên, trong quá trình sửa đổi Luật năm 2024, thẩm quyền được đưa lên Thủ tướng. Sau khi rà soát và cân nhắc các biến động mới của hệ thống tài chính - ngân hàng, tại dự thảo này, Chính phủ đề xuất đưa thẩm quyền này quay lại NHNN nhằm đảm bảo phản ứng nhanh trong các tình huống cấp bách, đặc biệt là khi xảy ra rút tiền hàng loạt - một hiện tượng ngày càng phức tạp và có thể diễn ra rất nhanh qua các công cụ giao dịch số.

Cùng với đó, “việc cho vay đặc biệt không có tài sản bảo đảm, với lãi suất 0%, không phải là cơ chế thường xuyên mà chỉ áp dụng trong các tình huống rất đặc biệt”, Thống đốc nhấn mạnh.

Làm rõ thêm, Thống đốc cho biết, dự thảo mới sửa đổi đã thiết kế rất nhiều quy định để phát hiện từ sớm, từ xa, nếu cần thiết thì đưa vào can thiệp sớm với những giải pháp yêu cầu các tổ chức tín dụng và cổ đông phải thực hiện. Trường hợp thiếu thanh khoản thì vẫn được vay của NHNN, nhưng đều phải có lãi suất chứ không phải sẽ cho vay đặc biệt lãi suất 0% ngay.

Thống đốc khẳng định lại, “việc cho vay đặc biệt chỉ có ở trường hợp xảy ra rút tiền hàng loạt. Đã là rút tiền hàng loạt của hệ thống ngân hàng thì nó sẽ lan truyền rất lớn, nếu không kịp thời can thiệp sẽ gây hệ lụy đối với cả hệ thống”.

Điều kiện xét cho vay đặc biệt, theo Thống đốc, cũng là ngân hàng phải có tài sản đảm bảo trước. Chỉ khi ngân hàng gặp khó khăn nghiêm trọng, không còn khả năng sử dụng tài sản đảm bảo, thì mới xem xét cho vay không có tài sản đảm bảo.

Tài sản bảo đảm trong các khoản vay đặc biệt thường là các khoản phải đòi từ người vay của ngân hàng, tức các hồ sơ tín dụng. Ngân hàng Nhà nước sẽ rà soát kỹ các hồ sơ này cùng với tài sản đảm bảo của các hồ sơ trước khi quyết định giải ngân. Lấy ví dụ từ vụ việc rút tiền hàng loạt năm 2022, Thống đốc cho biết các cán bộ NHNN đã phải “làm đêm làm ngày” để cùng tổ chức tín dụng rà soát hồ sơ cho vay để lấy làm tài sản đảm bảo.

Ngoài ra, NHNN cũng yêu cầu các ngân hàng sử dụng các giấy tờ có giá như là trái phiếu Chính phủ hay các công cụ tài chính để làm tài sản đảm bảo. Chỉ khi ngân hàng thật sự không còn tài sản khả dụng, hoặc các tài sản đó không thể chuyển hóa ngay thành dòng tiền, thì mới xem xét cơ chế cho vay không có tài sản đảm bảo.

Chỉ cho vay đặc biệt khi xảy ra hiện tượng rút tiền hàng loạt
Chủ tịch nước Lương Cường dự phiên họp sáng ngày 29/5.

Rút tiền hàng loạt không chỉ xuất hiện ở các ngân hàng yếu kém

Về việc áp dụng lãi suất 0% đối với các khoản vay này, Thống đốc giải thích là bởi các ngân hàng được vay thường đã rất khó khăn, mất khả năng sinh lời. Nếu vẫn áp dụng lãi suất thì sẽ càng khó khăn và khó thực hiện tái cơ cấu thành công.

Đối với các ý kiến về tiêu chuẩn, điều kiện cho vay đặc biệt, Thống đốc cho biết thực tế diễn biến của mỗi ngân hàng là khác nhau. Việc rút tiền hàng loạt không chỉ xuất hiện ở các ngân hàng yếu kém. Ngay một số ngân hàng lớn, có lãi nhiều năm liền vẫn có thể rơi vào tình trạng rút tiền hàng loạt do các yếu tố khách quan như tin đồn, sự cố công nghệ hay tâm lý lan truyền. Do đó, cần có những quy định cho phép xử lý nhanh để ứng phó kịp thời.

Cũng trong phần phát biểu, Thống đốc Nguyễn Thị Hồng bày tỏ cảm ơn các đại biểu Quốc hội đã đồng thuận với việc luật hóa ba nội dung quan trọng từ Nghị quyết 42 nhằm tháo gỡ khó khăn trong xử lý nợ xấu.

Chỉ cho vay đặc biệt khi xảy ra hiện tượng rút tiền hàng loạt

Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Thị Hồng giải trình tại Quốc hội

Thống đốc cho biết, khi tài sản bảo đảm được xử lý thuận lợi, đồng thời bảo vệ quyền lợi của người cho vay, cũng chính là bảo vệ người gửi tiền. Đây cũng chính là thực hiện tinh thần của Nghị quyết số 68 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân, trong đó yêu cầu đảm bảo quyền tài sản, quyền thực thi hợp đồng. Điều này cũng phù hợp thực tiễn của thế giới.

Thống đốc nhấn mạnh, tiền cho vay là tiền huy động từ người dân. Vì vậy, khi luật hóa các quy định về xử lý tài sản bảo đảm, sẽ tạo điều kiện cho tổ chức tín dụng thu hồi vốn, tái cấp tín dụng cho các khoản vay mới. Việc này không chỉ góp phần giảm lãi suất, mà còn tăng khả năng tiếp cận vốn cho doanh nghiệp và người dân.

Bên cạnh đó, để đảm bảo quyền lợi của người vay, dự thảo Luật đã quy định rõ các điều kiện, quy trình thu giữ tài sản, yêu cầu công khai minh bạch và các tổ chức tín dụng phải có quy trình nội bộ đểviệc xử lý và thu giữ tài sản đảm bảo được minh bạch, tránh lạm dụng.

Hoàng Yến

Đọc thêm

ABIC hoàn thành 65% kế hoạch lợi nhuận sau 6 tháng, hưởng lợi từ lãi suất tiền gửi tăng

ABIC hoàn thành 65% kế hoạch lợi nhuận sau 6 tháng, hưởng lợi từ lãi suất tiền gửi tăng

(TBTCO) - Bảo hiểm Agribank (ABIC) ghi nhận lợi nhuận trước thuế đạt 227,7 tỷ đồng trong nửa đầu năm 2026, tăng 24,6% và hoàn thành 65% kế hoạch năm. Kết quả được hỗ trợ bởi phí bảo hiểm gốc tăng 8,2%, chi phí bồi thường được kiểm soát hiệu quả, cùng hoạt động đầu tư tài chính khởi sắc khi mặt bằng lãi suất tiền gửi cải thiện, góp phần gia tăng nguồn thu tài chính.
VIB lãi trước thuế gần 5.200 tỷ đồng sau 6 tháng, dư nợ cho vay tiến sát 400 nghìn tỷ đồng

VIB lãi trước thuế gần 5.200 tỷ đồng sau 6 tháng, dư nợ cho vay tiến sát 400 nghìn tỷ đồng

(TBTCO) - VIB ghi nhận lợi nhuận trước thuế 6 tháng đầu năm 2026 đạt 5.185,7 tỷ đồng, tăng 3,4% so với cùng kỳ, nhờ tăng trưởng thu nhập lãi và dịch vụ. Hoạt động cho vay tiếp tục mở rộng với dư nợ đạt hơn 397 nghìn tỷ đồng, chất lượng tài sản được cải thiện, trong khi ngân hàng chủ động tăng cường trích lập dự phòng rủi ro.
Lãi suất vay mua nhà "neo" hai con số, kỳ vọng hạ nhiệt không dễ

Lãi suất vay mua nhà "neo" hai con số, kỳ vọng hạ nhiệt không dễ

(TBTCO) - Lãi suất vay mua nhà lên hai con số ngay giai đoạn ưu đãi, trong khi nhiều khoản vay bước vào giai đoạn lãi suất thả nổi, khiến áp lực trả nợ gia tăng và sức cầu bất động sản suy yếu. Dù người mua nhà mong ngóng "hạ nhiệt", kịch bản giảm lãi suất vẫn khó xảy ra, ít nhất trong năm 2026.
PVI sắp cán đích kế hoạch lợi nhuận chỉ sau 6 tháng, danh mục đầu tư tiến sát 20.000 tỷ đồng

PVI sắp cán đích kế hoạch lợi nhuận chỉ sau 6 tháng, danh mục đầu tư tiến sát 20.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Nửa đầu năm 2026, PVI ghi nhận lợi nhuận trước thuế đạt gần 1.240 tỷ đồng, tăng 31,8% so với cùng kỳ và gần cán đích kế hoạch năm. Động lực tăng trưởng đến từ hoạt động kinh doanh bảo hiểm, lợi nhuận tài chính cải thiện nhờ danh mục đầu tư mở rộng lên gần 20.000 tỷ đồng, trong khi hoạt động tái bảo hiểm phát huy hiệu quả.
"Tiếp sức" hộ kinh doanh: Không để lỡ thời điểm kinh doanh vì thiếu vốn

"Tiếp sức" hộ kinh doanh: Không để lỡ thời điểm kinh doanh vì thiếu vốn

(TBTCO) - Nhu cầu bổ sung vốn lưu động thường phát sinh vào những thời điểm quan trọng như nhập hàng, mở rộng quy mô hay chuẩn bị cho mùa kinh doanh cao điểm. Tuy nhiên, không phải hộ kinh doanh nào cũng dễ dàng tiếp cận nguồn vốn kịp thời, nhất là khi thiếu tài sản bảo đảm hoặc cần giải ngân trong thời gian ngắn.
Gia cố "tấm lưới" bảo hiểm để bảo vệ cho hoạt động đầu tư xây dựng

Gia cố "tấm lưới" bảo hiểm để bảo vệ cho hoạt động đầu tư xây dựng

(TBTCO) - Tiếp tục gia cố và mở rộng "tấm lưới" bảo hiểm bắt buộc cho hàng nghìn công trình, các quy định mới còn định rõ điều kiện xem xét tăng, giảm hoặc không giảm phí, góp phần hạn chế cạnh tranh bằng cách hạ phí, nâng chuẩn quản trị rủi ro và bảo đảm an toàn tài chính cho chính doanh nghiệp bảo hiểm.
Tỷ giá USD hôm nay (25/7): USD nối dài chuỗi tăng, thị trường chờ quyết định lãi suất các ngân hàng trung ương

Tỷ giá USD hôm nay (25/7): USD nối dài chuỗi tăng, thị trường chờ quyết định lãi suất các ngân hàng trung ương

Sáng 25/7, tỷ giá trung tâm chốt tuần ở mức 25.283 đồng, tăng 29 đồng so với cuối tuần trước, nối dài chuỗi tăng lên 11 tuần liên tiếp và chỉ còn cách đỉnh lịch sử 15 đồng. Chỉ số DXY lên 101,46 điểm, cao nhất từ cuối tháng 3/2025, tâm điểm thị trường tuần tới sẽ là các cuộc họp chính sách, lãi suất của các ngân hàng trung ương lớn Fed, BoE và BoJ.
Giá vàng hôm nay ngày 25/7: Vàng thế giới tăng nhẹ, vàng trong nước tiếp đà giảm sâu

Giá vàng hôm nay ngày 25/7: Vàng thế giới tăng nhẹ, vàng trong nước tiếp đà giảm sâu

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giao dịch quanh mức 4.053 USD/ounce, tăng nhẹ so với cùng thời điểm sáng qua. Trong khi đó, giá vàng trong nước tiếp tục giảm mạnh, với vàng miếng tại nhiều doanh nghiệp giảm tới 6,5 triệu đồng/lượng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 136,200 ▼1400K 141,200 ▼1400K
Hà Nội - PNJ 136,200 ▼1400K 141,200 ▼1400K
Đà Nẵng - PNJ 136,200 ▼1400K 141,200 ▼1400K
Miền Tây - PNJ 136,200 ▼1400K 141,200 ▼1400K
Tây Nguyên - PNJ 136,200 ▼1400K 141,200 ▼1400K
Đông Nam Bộ - PNJ 136,200 ▼1400K 141,200 ▼1400K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,750 ▼150K 14,150 ▼150K
Miếng SJC Nghệ An 13,750 ▼150K 14,150 ▼150K
Miếng SJC Thái Bình 13,750 ▼150K 14,150 ▼150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,750 ▼150K 14,150 ▼150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,750 ▼150K 14,150 ▼150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,750 ▼150K 14,150 ▼150K
NL 99.99 12,950 ▼50K
Nhẫn Tròn Thái Bình 12,850 ▼50K
Trang sức 99.9 13,340 ▼150K 14,040 ▼150K
Trang sức 99.99 13,350 ▼150K 14,050 ▼150K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1236K 1,415 ▲1272K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,375 ▲1236K 14,152 ▼150K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,375 ▲1236K 14,153 ▼150K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 137 ▼1248K 141 ▼1284K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 137 ▼1248K 1,411 ▼15K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 134 ▼1221K 139 ▼1266K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 130,624 ▼1485K 137,624 ▼1485K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 9,461 ▼86275K 10,441 ▼95095K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 84,879 ▲84020K 94,679 ▲93722K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 75,148 ▼916K 84,948 ▼916K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 71,395 ▲64168K 81,195 ▲72988K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 48,319 ▼625K 58,119 ▼625K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1236K 1,415 ▲1272K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1236K 1,415 ▲1272K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1236K 1,415 ▲1272K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1236K 1,415 ▲1272K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1236K 1,415 ▲1272K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1236K 1,415 ▲1272K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1236K 1,415 ▲1272K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1236K 1,415 ▲1272K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1236K 1,415 ▲1272K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1236K 1,415 ▲1272K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1236K 1,415 ▲1272K
Cập nhật: 28/07/2026 10:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17884 18158 18733
CAD 18121 18396 19008
CHF 31513 31893 32527
CNY 0 3851 3943
EUR 29322 29542 30620
GBP 34208 34599 35530
HKD 0 3228 3430
JPY 154 158 164
KRW 0 16 18
NZD 0 14884 15472
SGD 19849 20131 20699
THB 698 761 814
USD (1,2) 26071 0 0
USD (5,10,20) 26112 0 0
USD (50,100) 26140 26150 26515
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,150 26,150 26,530
USD(1-2-5) 25,104 - -
USD(10-20) 25,104 - -
EUR 29,446 29,470 30,875
JPY 155.66 155.94 166.16
GBP 34,387 34,480 35,666
AUD 18,081 18,146 18,828
CAD 18,307 18,366 19,040
CHF 31,763 31,862 32,798
SGD 19,963 20,025 20,808
CNY - 3,818 3,963
HKD 3,291 3,301 3,439
KRW 16.53 17.24 18.75
THB 745.7 754.91 808.62
NZD 14,865 15,003 15,448
SEK - 2,662 2,756
DKK - 3,939 4,078
NOK - 2,677 2,773
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,021.51 - 6,798.62
TWD 734.06 - 888.61
SAR - 6,896.93 7,263.62
KWD - 83,265 88,584
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,120 26,135 26,515
EUR 29,394 29,512 30,703
GBP 34,381 34,519 35,547
HKD 3,289 3,302 3,419
CHF 31,623 31,750 32,665
JPY 156.73 157.36 165.26
AUD 18,056 18,129 18,725
SGD 20,034 20,114 20,703
THB 762 765 801
CAD 18,316 18,390 18,966
NZD 14,953 15,496
KRW 17.14 19
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26510
AUD 18057 18157 19080
CAD 18297 18397 19409
CHF 31749 31779 33369
CNY 3831.5 3856.5 3991.9
CZK 0 1190 0
DKK 0 4000 0
EUR 29495 29525 31250
GBP 34498 34548 36306
HKD 0 3355 0
JPY 157.27 157.77 168.29
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.4 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6645 0
NOK 0 2750 0
NZD 0 14990 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2710 0
SGD 19999 20129 20856
THB 0 727 0
TWD 0 805 0
SJC 9999 13750000 13750000 14150000
SBJ 12500000 12500000 14150000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,151 26,201 26,520
USD20 26,101 26,201 26,551
USD1 24,041 26,201 26,571
AUD 18,093 18,193 19,298
EUR 29,288 29,388 31,046
CAD 18,242 18,342 19,648
SGD 20,071 20,221 20,779
JPY 157.73 159.23 164.76
GBP 34,386 34,536 35,600
XAU 13,898,000 0 14,302,000
CNY 0 3,740 0
THB 0 762 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 28/07/2026 10:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80