Cho vay đặc biệt lãi suất 0%: Phải có cơ chế kiểm soát chặt chẽ, công khai

Hoàng Yến
(TBTCO) - Quy định liên quan đến quyền quyết định cho vay đặc biệt với lãi suất 0% của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) là nội dung được nhiều đại biểu Quốc hội quan tâm trong phiên thảo luận sáng 29/5 về dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Các tổ chức tín dụng (TCTD).
aa
Sửa Luật Các tổ chức tín dụng: Tăng quyền xử lý nợ xấu, sửa quy định cho vay đặc biệt lãi suất 0% Chuyển thẩm quyền quyết định cho vay đặc biệt cho Ngân hàng nhà nước

Chính sách cần thiết trong bối cảnh đặc biệt

Phần lớn đại biểu đồng thuận với mục tiêu của chính sách là kịp thời hỗ trợ ổn định hệ thống tài chính - ngân hàng. Song cũng không ít ý kiến băn khoăn xoay quanh rủi ro lạm dụng chính sách, thiếu cơ chế kiểm soát và nguy cơ tạo tiền lệ tài khóa bất lợi.

Theo đại biểu Trần Thị Thu Đông (đoàn Bạc Liêu), việc NHNN được trao quyền quyết định cho vay đặc biệt không tài sản bảo đảm, với lãi suất 0%, là một cơ chế phản ứng nhanh trong tình huống rủi ro hệ thống hoặc khủng hoảng thanh khoản. Điều này có thể giúp các TCTD vượt qua khó khăn tài chính tạm thời, hạn chế lây lan rủi ro, đặc biệt trong giai đoạn kinh tế biến động mạnh.

Cho vay đặc biệt lãi suất 0%: Phải có cơ chế kiểm soát chặt chẽ, công khai

Đại biểu Trần Thị Thu Đông (đoàn Bạc Liêu)

Đại biểu Phạm Văn Hòa (Đồng Tháp) ủng hộ đề xuất tại dự thảo về phân quyền cho Thống đốc NHNN thay vì để Thủ tướng Chính phủ quyết định như trước đây. Theo đại biểu, việc trao quyền cho NHNN sẽ tăng tính phân cấp, phân quyền, làm rõ trách nhiệm và chủ động trong việc điều hành. Với quy định này, NHNN có thể can thiệp kịp thời khi cần thiết, tránh nguy cơ đổ vỡ dây chuyền, đảm bảo an toàn cho hệ thống.

Cũng tán thành chính sách này, đại biểu Trần Anh Tuấn (TP.HCM) nhấn mạnh thêm rằng trong nhiều tình huống, NHNN có thể linh hoạt áp dụng các mức lãi suất hỗ trợ. Không chỉ duy nhất mức 0%, mà NHNN có thể mở rộng khung lãi suất ưu đãi dưới mức lãi suất chiết khấu hoặc tái cấp vốn hiện hành, dựa trên mức độ tín nhiệm của TCTD. Việc này sẽ giúp đa dạng hóa các công cụ can thiệp, phù hợp với mức độ rủi ro, sức khỏe tài chính và năng lực thanh khoản của từng TCTD.

Tuy nhiên, nhiều đại biểu cũng bày tỏ lo ngại chính sách lãi suất 0% nếu không được giới hạn rõ ràng và kiểm soát chặt chẽ thì dễ bị lạm dụng, tạo gánh nặng lớn cho ngân sách nhà nước và làm sai lệch môi trường cạnh tranh lành mạnh giữa các TCTD.

Đại biểu Nguyễn Hữu Thông (Bình Thuận) cho rằng quy định này có khả năng mâu thuẫn với nguyên tắc thị trường, gây ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng nguồn lực nhà nước nếu không có cơ chế kiểm soát. Do vậy, đại biểu đề nghị cần quy định cụ thể rằng: “Lãi suất 0% chỉ áp dụng cho TCTD thuộc diện kiểm soát đặc biệt, tái cơ cấu bắt buộc hoặc có ảnh hưởng hệ thống đến sự ổn định tài chính quốc gia”. Đồng thời, bổ sung cơ chế giám sát, công khai và đánh giá hiệu quả việc sử dụng nguồn vay đặc biệt này.

Cho vay đặc biệt lãi suất 0%: Phải có cơ chế kiểm soát chặt chẽ, công khai
Đại biểu Trần Văn Tiến (đoàn Vĩnh Phúc)

Cụ thể hóa tiêu chí và trách nhiệm trong cho vay đặc biệt

Từ góc độ minh bạch và giám sát, đại biểu Trần Thị Thu Đông đề nghị bổ sung yêu cầu NHNN phải báo cáo định kỳ với Chính phủ, với Quốc hội về các khoản cho vay đặc biệt đã cấp, gồm: đối tượng, số tiền, thời hạn, kết quả… Và cần tiêu chí rõ ràng về đối tượng được hưởng cho vay đặc biệt để tránh bị lạm dụng cho việc cứu những tổ chức tín dụng yếu kém, không đủ điều kiện thị trường.

Đề cập đến một số vụ việc đã xảy ra, đại biểu Phạm Văn Hòa nêu rõ, có thời điểm, NHNN đã phải sử dụng nguồn ngân sách để cho vay “cứu” một số TCTD mà không có tài sản bảo đảm. Điều này cũng đặt ra khả năng có thể có các tổ chức tín dụng yếu kém hiện nay có thể “ỷ lại” chính sách, tiếp tục được hưởng nguồn vốn giá rẻ mà không có điều kiện ràng buộc cụ thể, đại biểu đặt vấn đề. Theo đại biểu nếu luật không quy định rõ điều kiện và giới hạn cho vay, sẽ dẫn đến tình trạng “ỷ lại” vào ngân sách nhà nước.

Bên cạnh yêu cầu về kiểm soát, một số đại biểu cũng nhấn mạnh việc cần thiết quy định cụ thể về loại tài sản bảo đảm trong trường hợp có yêu cầu, để tránh việc cho vay dựa trên các tài sản không có tính thanh khoản, dễ phát sinh tranh chấp.

Dự thảo được sửa đổi, bổ sung có quy định về tài sản bảo đảm của khoản vay đặc biệt từ NHNN theo quy định của Thống đốc NHNN. Đại biểu Trần Văn Tiến (Vĩnh Phúc) đề nghị NHNN cần ban hành văn bản hướng dẫn kèm theo dự thảo luật, quy định rõ loại tài sản nào đủ điều kiện làm tài sản bảo đảm cho khoản vay đặc biệt. Đồng thời, đại biểu cho rằng NHNN cần làm rõ về các trường hợp, tiêu chí được xem xét gia hạn cho vay đặc biệt để gửi đại biểu Quốc hội nghiên cứu và thảo luận.

Cho vay đặc biệt lãi suất 0%: Phải có cơ chế kiểm soát chặt chẽ, công khai

Đại biểu Nguyễn Hữu Thông (đoàn Bình Thuận)

Đề nghị cho phép cưỡng chế trong thu hồi tài sản đảm bảo

Quy định về quyền thu giữ tài sản bảo đảm tại Điều 198A cũng nhận được nhiều ý kiến quan tâm.

Đại biểu Huỳnh Thị Phúc (Bà Rịa - Vũng Tàu) kiến nghị bổ sung quy định về cưỡng chế hành chính trong trường hợp bên bảo đảm cố tình chống đối, không hợp tác. "Hiện nay dự thảo mới dừng lại ở nghĩa vụ hỗ trợ an ninh, trật tự của chính quyền địa phương, chưa đủ căn cứ pháp lý để tổ chức thực hiện yêu cầu cưỡng chế hành chính trong những trường hợp chống đối có tổ chức. Việc bổ sung này nhằm rút ngắn thời gian xử lý, giảm chi phí và đảm bảo hiệu quả, hiệu lực thi hành quyền của các bên”, đại biểu nêu rõ.

Tuy nhiên, đại biểu Nguyễn Hữu Thông cho rằng phải cân nhắc quy định về thu giữ tài sản đảm bảo vì việc cho phép tổ chức tín dụng tự thu giữ tài sản bảo đảm mà không có quyết định của tòa án trong một số trường hợp có thể xâm phạm quyền sở hữu hợp pháp của công dân được quy định tại Điều 32 và Điều 53 của Hiến pháp cũng như nguyên tắc tôn trọng quyền tài sản trong Bộ luật Dân sự.

Hơn nữa, quy định tại dự thảo chưa làm rõ cơ chế bảo vệ quyền lợi của bên bảo đảm khi có khiếu nại hoặc tranh chấp phát sinh. Chưa quy định rõ khả năng tạm hoãn hoặc hủy việc thu giữ trong trường hợp có dấu hiệu sai phạm hoặc đang tranh chấp quyền sở hữu, đại biểu băn khoăn.

Hoàng Yến

Đọc thêm

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng ngày 24/3 cho thấy, lãi suất huy động tiếp tục tăng, với 10 ngân hàng nâng lãi suất kỳ hạn 6 tháng và 15 ngân hàng tăng ở kỳ hạn 12 tháng chỉ chưa đầy 1 tháng; mức cao nhất đã chạm 9%/năm. Trước diễn biến này, các ngân hàng lớn đều có dự tính riêng về điều hành chính sách lãi suất, khi dự báo chi phí vốn sẽ chịu áp lực.
Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

Năm 2026, OCB đặt nhiều mục tiêu chiến lược, nổi bật là lợi nhuận trước thuế đạt 6.960 tỷ đồng (tăng 39%); tổng tài sản 354.214 tỷ đồng (tăng 10%). Ngân hàng dự kiến nâng vốn điều lệ lên 30.625 tỷ đồng nhằm mở rộng quy mô, tăng năng lực cạnh tranh; đồng thời, kiện toàn Hội đồng quản trị phục vụ giai đoạn tăng trưởng mới.
Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

(TBTCO) - Ngày 24/3/2026, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) chính thức khai trương trụ sở chính tại tòa nhà số 27 - 29 Lý Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội. Việc đặt trụ sở tại Thủ đô là bước triển khai quan trọng trong định hướng phát triển của ngân hàng đã được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông năm 2025.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngày 24/3, tại Hà Nội, Ngân hàng Đầu tư châu Âu (EIB) và Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã công bố thỏa thuận tài trợ trị giá 200 triệu EUR nhằm đẩy nhanh các dự án hành động vì khí hậu, môi trường và phát triển bền vững trên khắp Việt Nam.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,050 17,350
Kim TT/AVPL 17,060 17,360
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,050 17,350
Nguyên Liệu 99.99 16,250 ▼100K 16,450 ▼100K
Nguyên Liệu 99.9 16,200 ▼100K 16,400 ▼100K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,900 17,300
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,850 17,250
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,780 17,230
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 170,500 173,500
Hà Nội - PNJ 170,500 173,500
Đà Nẵng - PNJ 170,500 173,500
Miền Tây - PNJ 170,500 173,500
Tây Nguyên - PNJ 170,500 173,500
Đông Nam Bộ - PNJ 170,500 173,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,050 17,350
Miếng SJC Nghệ An 17,050 17,350
Miếng SJC Thái Bình 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,050 17,350
NL 99.90 15,970 ▼300K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 16,000 ▼300K
Trang sức 99.9 16,540 17,240
Trang sức 99.99 16,550 17,250
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,705 17,352
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,705 17,353
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,703 1,733
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,703 1,734
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,683 1,718
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 163,599 170,099
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 120,113 129,013
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 108,086 116,986
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 96,058 104,958
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 91,419 100,319
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,898 71,798
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cập nhật: 26/03/2026 13:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17780 18054 18629
CAD 18528 18805 19418
CHF 32621 33005 33653
CNY 0 3470 3830
EUR 29840 30113 31141
GBP 34394 34786 35728
HKD 0 3238 3440
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14983 15570
SGD 20001 20283 20811
THB 719 782 835
USD (1,2) 26077 0 0
USD (5,10,20) 26118 0 0
USD (50,100) 26146 26166 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 13:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80