Chống rửa tiền của các dịch vụ ngân hàng, cuộc chiến với “kẻ vô hình”

Chí Tín
(TBTCO) - Các sản phẩm dịch vụ ngân hàng nở rộ thời gian qua tạo ra sự đa dạng các dịch vụ tài chính phục vụ cộng đồng. Nhưng đi kèm theo đó là yêu cầu tuân thủ các quy định kiểm soát rủi ro. Đặc biệt, việc kiểm soát khả năng tội phạm rửa tiền có thể xé lẻ tiền bần để rửa, thông qua các giao dịch có giá trị nhỏ thậm chí còn gây khó khăn phức tạp hơn rất nhiều so với các giao dịch quy mô lớn.
aa

Chống rửa tiền của các dịch vụ ngân hàng, cuộc chiến với “kẻ vô hình”
Ảnh tư liệu minh họa

Rủi ro rửa tiền ngay ở các khâu ít ngờ nhất

Trong khi mạng lưới thanh toán, giao dịch và sử dụng dịch vụ của người dân và nền kinh tế ngày càng phức tạp thì “cuộc chiến” với tội phạm rửa tiền và tài trợ khủng bố càng trở nên phức tạp hơn.

PGS.TS. Nhữ Trọng Bách - Phó Giám đốc Trường Bồi dưỡng cán bộ tài chính, thuộc Bộ Tài chính cho biết, diễn biến thực tế thời gian qua cho thấy, hoạt động rửa tiền tại Việt Nam hiện phức tạp, gia tăng theo thời gian cả về quy mô, số lượng, đặc biệt hình thức rửa tiền mới đã xuất hiện như: tài sản ảo, tiền ảo, sàn giao dịch ảo... Hoạt động rửa tiền tại Việt Nam đã có tác động tiêu cực đến vĩ mô nền kinh tế, giảm an ninh tiền tệ, an ninh tài chính và an ninh xã hội.

Ý thức tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng

Trong bối cảnh nền kinh tế nước ta đang hội nhập sâu rộng với kinh tế thế giới, các giao dịch xuyên biên giới ngày càng phát triển, hoạt động này ngày càng trở lên quan trọng trong tiến trình phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam. Đứng trước thách thức này, việc thực thi pháp luật liên quan đến hoạt động phòng chống rửa tiền càng phải hiệu quả và chặt chẽ.

Đặc biệt, hành vi rửa tiền có thể núp bóng dưới mọi giao dịch tưởng chừng như bình thường nhất. Bởi lẽ theo suy nghĩ thông thường thì chỉ những giao dịch giá trị lớn mới có tính chất “đáng ngờ”, nhưng thực tế cho thấy, ngay cả những giao dịch giá trị nhỏ lẻ cũng có thể vẫn bị đối tượng rửa tiền lợi dụng. Đặc biệt, việc rửa tiền qua các giao dịch nhỏ lẻ rất khó phát hiện bởi số lượng người sử dụng lớn, rất khó phân biệt dòng tiền bẩn lẫn lộn trong dòng tiền sạch.

Đưa ra ví dụ về vấn đề này, Ths. Nguyễn Thanh Sơn - thuộc Viện Chiến lược ngân hàng cho biết, việc sử dụng sản phẩm ví điện tử hiện cũng chưa được thực hiện nghiêm túc. Chẳng hạn như, một số tổ chức trung gian chưa thực hiện đầy đủ các khâu về nhận biết, xác minh, phân loại, giám sát các đơn vị chấp nhận thanh toán. Ngay cả những khâu cơ bản trong thực hiện mở và sử dụng ví điện tử, các quy trình nhận biết khách hàng cũng chưa được hiện đầy đủ.

Bên cạnh đó, một sản phẩm khác như thẻ trả trước vô danh có hạn mức khá thấp với số tiền có thể sử dụng nhỏ (không quá 5 triệu đồng tại mọi thời điểm) nhưng “kẽ hở” nằm ở chỗ tội phạm có thể nạp quay vòng nhiều lần để sử dụng, hoặc một người có thể dùng nhiều thẻ nên đối tượng vẫn có thể sử dụng loại thẻ này với số tiền lớn.

Yêu cầu về gia tăng thanh toán điện tử

Thực tế cho thấy, các hoạt động ứng dụng chuyển đổi số qua ngân hàng đang là một trong giải pháp để cơ quan quản lý nhà nước có thể nắm được dòng chảy của tiền trong mọi mặt đời sống.

Theo Ngân hàng Nhà nước, cơ quan này đã chỉ đạo, phát triển các mô hình ngân hàng số, gia tăng tiện ích, trải nghiệm khách hàng theo hướng tự động hóa quy trình, tối ưu hóa hoạt động nghiệp vụ, ứng dụng các công nghệ như AI, học máy (ML), Big Data... Các sản phẩm thanh toán cũng phát triển đa dạng, phong phú, tích hợp nhiều tính năng, tiện ích mới không tiếp xúc, qua mobile; số hóa thông

tin/tokenization; xác thực sinh trắc học, qua Internet, điện thoại di động với nhiều công nghệ hiện đại, an toàn, tiện lợi.

Về quy mô thanh toán qua ngân hàng, nếu như thời điểm năm 2018 thì hệ thống thanh toán của Công ty cổ phần Thanh toán quốc gia (NAPAS) chỉ phải xử lý khoảng 50 nghìn giao dịch ngày. Tuy nhiên theo số liệu cập nhật mới đây của NAPAS, trong năm 2023, hệ thống NAPAS xử lý bình quân hơn 20 triệu giao dịch/ngày, tăng tương ứng 52% số lượng và 12% về giá trị giao dịch so với năm 2022. Riêng số lượng giao dịch chuyển tiền nhanh NAPAS 247 tăng tương ứng 62% về số lượng và 13% về giá trị.

Đáng chú ý, số lượng giao dịch qua phương thức quét VietQR tăng 8 lần về số lượng và 4 lần về giá trị giao dịch so với năm 2022. Qua đó cho thấy, người dùng đang ngày càng ưa chuộng và sử dụng thường xuyên hơn dịch vụ chuyển nhanh NAPAS 247 trong chi tiêu, thanh toán hàng ngày, tập trung vào các giao dịch có giá trị nhỏ lẻ, từ thành thị đến nông thôn, từ nhà hàng đến các siêu thị, chợ dân sinh.

Mặc dù vậy, các chuyên gia cho rằng, việc thực hiện các quy định cần phải nghiêm túc vì nếu không cũng vẫn có thể dẫn đến việc tội phạm lợi dụng. Ths. Nguyễn Thanh Sơn đưa ra ví dụ về việc quản lý dịch vụ Mobile Money, doanh nghiệp thí điểm dịch vụ hoặc các điểm kinh doanh không thực hiện đúng các quy trình tác nghiệp, hoặc thiếu năng lực, kinh nghiệm trong xác thực khách hàng thì vẫn có rủi ro có các giao dịch giả mạo, giao dịch bất hợp pháp trà trộn lẫn trong các giao dịch thông thường của người dân.

PGS. TS NGUYỄN THỊ MÙI, THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG TƯ VẤN CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ QUỐC GIA:

Các khoản giao dịch nhỏ dễ bị lơ là thiếu cảnh giác

Chống rửa tiền của các dịch vụ ngân hàng, cuộc chiến với “kẻ vô hình”
PSG. TS. Nguyễn Thị Mùi

Việc phòng chống rủi ro rửa tiền và tài trợ khủng bố gắn với các sản phẩm tài chính toàn diện là yêu cầu thực tiễn hiện nay, vì các sản phẩm tài chính khi ứng dụng thực tế đời sống đều có thể ẩn chứa rủi ro. Ranh giới giữa hoạt động hợp pháp và tội phạm là rất mong manh.

Tính chất của các loại sản phẩm này là đơn giản, dễ sử dụng. Đối tượng sử dụng các sản phẩm này là rất đông đảo, phạm vi rộng, nhưng sự am hiểu kiến thức tài chính ngân hàng của họ lại rất hạn chế. Nhiều trường hợp người dân vô tình tiếp tay cho tội phạm mà không biết. Do đó, việc quản lý rủi ro trong mảng này thậm chí khó khăn hơn rất nhiều so với quản lý rủi ro với các giao dịch tài chính lớn.

Một trong những khó khăn trong việc phòng chống tội phạm nữa chính là ở nhận thức. Chúng ta nhận thức nó là sản phẩm giá trị nhỏ, rủi ro thấp nên chúng ta chưa thực sự coi trọng và đó chính là yếu tố tạo điều kiện cho các đối tượng lợi dụng để rửa tiền. Chẳng hạn như tình trạng rửa tiền qua các khâu khâu thanh toán, không ít trường hợp việc đi truy xuất nguồn gốc dòng tiền rất vòng vo, rất khó phát hiện vì giá trị nhỏ.

PGS.TS NHỮ TRỌNG BÁCH - PHÓ GIÁM ĐỐC TRƯỜNG BỒI DƯỠNG CÁN BỘ TÀI CHÍNH (BỘ TÀI CHÍNH).

“Chu trình” rửa tiền thường trải qua 3 giai đoạn

Chống rửa tiền của các dịch vụ ngân hàng, cuộc chiến với “kẻ vô hình”
PGS. TS. Nhữ Trọng Bách

Tiền “bẩn” thường có nguồn gốc từ buôn lậu, buôn bán ma tuý, tham nhũng và hối lộ, buôn người, trộm cắp, tham ô, lừa đảo, tống tiền, trốn thuế, tội phạm tài chính, tài trợ khủng bố... Kẻ rửa tiền thường thực hiện qua các giai đoạn: sắp xếp, phân lớp và hòa nhập trong một quy trình nhằm biến những đồng tiền có nguồn gốc phi pháp thành những đồng tiền có vẻ ngoài hợp pháp.

Giai đoạn sắp xếp (sắp đặt) là giai đoạn đầu tiên trong quy trình rửa tiền liên quan đến việc bố trí các khoản tiền phi pháp vào trong hệ thống tài chính ngân hàng hoặc các hệ thống khác.

Giai đoạn thứ hai là phân lớp (phân tán), mục đích của giai đoạn này là tách các khoản tiền có được từ hoạt động tội phạm khỏi nguồn gốc phạm tội của chúng. Mục đích là chuyển những khoản tiền, tài sản đó càng xa nơi xảy ra tội phạm càng tốt, nhằm tránh bị lực lượng thực thi pháp luật phát hiện và tịch thu bằng cách tạo ra các lớp giao dịch tài chính phức tạp.

Giai đoạn thứ ba là hòa nhập (quy tụ), đây là giai đoạn cuối cùng khi kẻ rửa tiền tiến hành hoà nhập những khoản tiền có được từ hoạt động bất hợp pháp vào nền kinh tế./.

Chí Tín

Đọc thêm

Xây dựng hệ sinh thái fintech ASEAN mở, an toàn và bền vững

Xây dựng hệ sinh thái fintech ASEAN mở, an toàn và bền vững

(TBTCO) - Chia sẻ tại Tọa đàm “Kiến tạo hệ sinh thái công nghệ tài chính khu vực: Từ chính sách đến hành động”, trong khuôn khổ Diễn đàn Tương lai ASEAN, ngày 9/6, Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Văn Thắng đề nghị kiến tạo một hệ sinh thái công nghệ tài chính ASEAN mở, an toàn, minh bạch, bao trùm và bền vững.
Chất lượng tài sản ngân hàng có dấu hiệu suy yếu, ba "biến số" làm gia tăng áp lực nợ xấu

Chất lượng tài sản ngân hàng có dấu hiệu suy yếu, ba "biến số" làm gia tăng áp lực nợ xấu

SSI Research cho rằng, ngành ngân hàng sẽ tiếp tục đối mặt áp lực thanh khoản, NIM thu hẹp và chất lượng tài sản suy yếu trong nửa cuối năm 2026. Đáng chú ý, rủi ro từ lãi suất thả nổi, nhu cầu tái cấp vốn cho chủ đầu tư bất động sản và điều chỉnh quy hoạch Hà Nội có thể tạo thêm áp lực lên nợ xấu.
Tín dụng tiếp đà tăng, thanh khoản ngân hàng kỳ vọng cải thiện dần từ cuối năm 2026

Tín dụng tiếp đà tăng, thanh khoản ngân hàng kỳ vọng cải thiện dần từ cuối năm 2026

(TBTCO) - Thanh khoản hệ thống ngân hàng tiếp tục chịu áp lực khi tín dụng tăng 5,71% tính đến cuối tháng 5, vượt xa tốc độ huy động vốn và khiến chênh lệch giữa tín dụng - huy động ngày càng nới rộng. Tuy nhiên, giới phân tích kỳ vọng, nguồn vốn huy động sẽ cải thiện dần từ cuối năm 2026 nhờ sự hỗ trợ của nhiều động lực trong và ngoài hệ thống.
ABIC để ngỏ hai phương án cổ tức, phấn đấu mở rộng độ phủ bảo hiểm dư nợ ngân hàng mẹ

ABIC để ngỏ hai phương án cổ tức, phấn đấu mở rộng độ phủ bảo hiểm dư nợ ngân hàng mẹ

Bảo hiểm ABIC đặt mục tiêu năm 2026 đạt 3.100 tỷ đồng doanh thu kinh doanh bảo hiểm, phấn đấu đưa tỷ lệ dư nợ tín dụng Agribank được bảo hiểm lên tối thiểu 41,4% trong giai đoạn 5 năm tới. Doanh nghiệp dự kiến duy trì cổ tức tối thiểu 15%, ưu tiên trả bằng cổ phiếu nếu đủ điều kiện pháp lý.
Eximbank biến động nhân sự cấp cao trước thềm Đại hội đồng cổ đông bất thường

Eximbank biến động nhân sự cấp cao trước thềm Đại hội đồng cổ đông bất thường

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank, mã ck: EIB) đã chính thức phát đi thông báo về việc tiếp tục triển khai các nội dung quản trị và thay đổi nhân sự quan trọng thuộc Hội đồng quản trị. Đây là bước đi nằm trong định hướng chuyển đổi đã được Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2026 thông qua.
Hơn 60% dư nợ tập trung cho lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn

Hơn 60% dư nợ tập trung cho lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn

(TBTCO) - Phó Tổng Giám đốc Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank) cho biết, hiện dư nợ lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn chiếm trên 60% trong tổng dư nợ cho vay nền kinh tế trên 2 triệu tỷ đồng của Agribank.
Tỷ giá chịu sức ép ngắn hạn khi nhập siêu tăng, USD phục hồi

Tỷ giá chịu sức ép ngắn hạn khi nhập siêu tăng, USD phục hồi

(TBTCO) - Sau giai đoạn hạ nhiệt đầu năm, tỷ giá USD/VND chịu áp lực trở lại khi USD phục hồi mạnh trước căng thẳng Mỹ - Iran. Dù mới tăng khoảng 0,1% từ đầu năm, tỷ giá vẫn đối mặt sức ép từ xu hướng trượt giá của VND và cán cân thương mại thâm hụt 6 tháng liên tiếp, dù triển vọng cuối năm được kỳ vọng tích cực hơn.
Bắt nhịp “sóng” lãi suất, doanh nghiệp bảo hiểm xoay trục danh mục "trăm nghìn tỷ"

Bắt nhịp “sóng” lãi suất, doanh nghiệp bảo hiểm xoay trục danh mục "trăm nghìn tỷ"

(TBTCO) - Mặt bằng lãi suất huy động ở mức cao là động lực, đưa tổng lợi nhuận hoạt động tài chính các doanh nghiệp bảo hiểm niêm yết quý I/2026 tăng 14% so với cùng kỳ. Quản lý danh mục đầu tư hơn 350.000 tỷ đồng, các doanh nghiệp chủ động cơ cấu danh mục tài sản, tăng tiền gửi và khóa lãi suất nhằm cải thiện hiệu quả sinh lời.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 13,330 ▼550K 13,830 ▼550K
Kim TT/AVPL 13,430 ▼450K 13,830 ▼550K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 13,270 ▼610K 13,830 ▼550K
Nguyên Liệu 99.99 13,350 ▼450K 13,550 ▼450K
Nguyên Liệu 99.9 13,300 ▼450K 13,500 ▼450K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,400 ▼400K 13,800 ▼500K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,350 ▼400K 13,750 ▼500K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,280 ▼400K 13,730 ▼500K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 133,800 ▼5000K 138,800 ▼5000K
Hà Nội - PNJ 133,800 ▼5000K 138,800 ▼5000K
Đà Nẵng - PNJ 133,800 ▼5000K 138,800 ▼5000K
Miền Tây - PNJ 133,800 ▼5000K 138,800 ▼5000K
Tây Nguyên - PNJ 133,800 ▼5000K 138,800 ▼5000K
Đông Nam Bộ - PNJ 133,800 ▼5000K 138,800 ▼5000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,330 ▼550K 13,830 ▼550K
Miếng SJC Nghệ An 13,330 ▼550K 13,830 ▼550K
Miếng SJC Thái Bình 13,330 ▼550K 13,830 ▼550K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,330 ▼550K 13,830 ▼550K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,330 ▼550K 13,830 ▼550K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,330 ▼550K 13,830 ▼550K
NL 99.90 13,050 ▼400K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,100 ▼400K
Trang sức 99.9 13,020 ▼550K 13,720 ▼550K
Trang sức 99.99 13,030 ▼550K 13,730 ▼550K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,333 ▼55K 13,832 ▼550K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,333 ▼55K 13,833 ▼550K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,332 ▼54K 1,382 ▼54K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,332 ▼54K 1,383 ▼54K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,312 ▼54K 1,367 ▼54K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 128,347 ▼5346K 135,347 ▼5346K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 93,185 ▼4051K 102,685 ▼4051K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 83,615 ▼3673K 93,115 ▼3673K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 74,045 ▲66311K 83,545 ▲74861K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 70,354 ▼3149K 79,854 ▼3149K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 4,766 ▼45146K 5,716 ▼53696K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Cập nhật: 10/06/2026 18:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17911 18185 18764
CAD 18364 18640 19260
CHF 32310 32693 33334
CNY 0 3842 3935
EUR 29785 30007 31088
GBP 34458 34850 35783
HKD 0 3228 3430
JPY 157 161 167
KRW 0 16 18
NZD 0 14985 15573
SGD 19899 20181 20757
THB 716 779 832
USD (1,2) 26054 0 0
USD (5,10,20) 26095 0 0
USD (50,100) 26124 26138 26410
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,130 26,130 26,410
USD(1-2-5) 25,085 - -
USD(10-20) 25,085 - -
EUR 29,941 29,965 31,273
JPY 159.88 160.17 169.2
GBP 34,673 34,767 35,827
AUD 18,166 18,232 18,854
CAD 18,558 18,618 19,229
CHF 32,636 32,737 33,576
SGD 20,050 20,112 20,824
CNY - 3,817 3,948
HKD 3,296 3,306 3,432
KRW 15.94 16.62 18.01
THB 764.27 773.71 825.41
NZD 15,002 15,141 15,531
SEK - 2,739 2,825
DKK - 4,006 4,131
NOK - 2,735 2,820
LAK - 0.91 1.26
MYR 6,063.87 - 6,818.96
TWD 752.89 - 908.55
SAR - 6,901.9 7,242.16
KWD - 83,501 88,500
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,120 26,140 26,410
EUR 29,830 29,950 31,137
GBP 34,602 34,741 35,759
HKD 3,291 3,304 3,420
CHF 32,403 32,533 33,442
JPY 160.16 160.80 168.62
AUD 18,156 18,229 18,820
SGD 20,107 20,188 20,771
THB 780 783 817
CAD 18,534 18,608 19,175
NZD 15,068 15,605
KRW 16.63 18.23
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26148 26148 26410
AUD 18096 18196 19121
CAD 18545 18645 19660
CHF 32542 32572 34162
CNY 3822.3 3847.3 3982.7
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 29962 29992 31715
GBP 34752 34802 36562
HKD 0 3355 0
JPY 160.51 161.01 171.52
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15098 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20057 20187 20920
THB 0 744.7 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 13330000 13330000 13830000
SBJ 11000000 11000000 13830000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,100 26,142 26,410
USD20 26,100 26,142 26,410
USD1 23,896 26,142 26,410
AUD 18,180 18,280 19,384
EUR 30,105 30,105 31,513
CAD 18,475 18,575 19,879
SGD 20,139 20,289 20,844
JPY 161.06 162.56 167.12
GBP 34,638 34,988 35,861
XAU 13,328,000 13,328,000 13,832,000
CNY 0 3,735 0
THB 0 780 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 10/06/2026 18:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80