Chống rửa tiền của các dịch vụ ngân hàng, cuộc chiến với “kẻ vô hình”

Chí Tín
(TBTCO) - Các sản phẩm dịch vụ ngân hàng nở rộ thời gian qua tạo ra sự đa dạng các dịch vụ tài chính phục vụ cộng đồng. Nhưng đi kèm theo đó là yêu cầu tuân thủ các quy định kiểm soát rủi ro. Đặc biệt, việc kiểm soát khả năng tội phạm rửa tiền có thể xé lẻ tiền bần để rửa, thông qua các giao dịch có giá trị nhỏ thậm chí còn gây khó khăn phức tạp hơn rất nhiều so với các giao dịch quy mô lớn.
aa

Chống rửa tiền của các dịch vụ ngân hàng, cuộc chiến với “kẻ vô hình”
Ảnh tư liệu minh họa

Rủi ro rửa tiền ngay ở các khâu ít ngờ nhất

Trong khi mạng lưới thanh toán, giao dịch và sử dụng dịch vụ của người dân và nền kinh tế ngày càng phức tạp thì “cuộc chiến” với tội phạm rửa tiền và tài trợ khủng bố càng trở nên phức tạp hơn.

PGS.TS. Nhữ Trọng Bách - Phó Giám đốc Trường Bồi dưỡng cán bộ tài chính, thuộc Bộ Tài chính cho biết, diễn biến thực tế thời gian qua cho thấy, hoạt động rửa tiền tại Việt Nam hiện phức tạp, gia tăng theo thời gian cả về quy mô, số lượng, đặc biệt hình thức rửa tiền mới đã xuất hiện như: tài sản ảo, tiền ảo, sàn giao dịch ảo... Hoạt động rửa tiền tại Việt Nam đã có tác động tiêu cực đến vĩ mô nền kinh tế, giảm an ninh tiền tệ, an ninh tài chính và an ninh xã hội.

Ý thức tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng

Trong bối cảnh nền kinh tế nước ta đang hội nhập sâu rộng với kinh tế thế giới, các giao dịch xuyên biên giới ngày càng phát triển, hoạt động này ngày càng trở lên quan trọng trong tiến trình phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam. Đứng trước thách thức này, việc thực thi pháp luật liên quan đến hoạt động phòng chống rửa tiền càng phải hiệu quả và chặt chẽ.

Đặc biệt, hành vi rửa tiền có thể núp bóng dưới mọi giao dịch tưởng chừng như bình thường nhất. Bởi lẽ theo suy nghĩ thông thường thì chỉ những giao dịch giá trị lớn mới có tính chất “đáng ngờ”, nhưng thực tế cho thấy, ngay cả những giao dịch giá trị nhỏ lẻ cũng có thể vẫn bị đối tượng rửa tiền lợi dụng. Đặc biệt, việc rửa tiền qua các giao dịch nhỏ lẻ rất khó phát hiện bởi số lượng người sử dụng lớn, rất khó phân biệt dòng tiền bẩn lẫn lộn trong dòng tiền sạch.

Đưa ra ví dụ về vấn đề này, Ths. Nguyễn Thanh Sơn - thuộc Viện Chiến lược ngân hàng cho biết, việc sử dụng sản phẩm ví điện tử hiện cũng chưa được thực hiện nghiêm túc. Chẳng hạn như, một số tổ chức trung gian chưa thực hiện đầy đủ các khâu về nhận biết, xác minh, phân loại, giám sát các đơn vị chấp nhận thanh toán. Ngay cả những khâu cơ bản trong thực hiện mở và sử dụng ví điện tử, các quy trình nhận biết khách hàng cũng chưa được hiện đầy đủ.

Bên cạnh đó, một sản phẩm khác như thẻ trả trước vô danh có hạn mức khá thấp với số tiền có thể sử dụng nhỏ (không quá 5 triệu đồng tại mọi thời điểm) nhưng “kẽ hở” nằm ở chỗ tội phạm có thể nạp quay vòng nhiều lần để sử dụng, hoặc một người có thể dùng nhiều thẻ nên đối tượng vẫn có thể sử dụng loại thẻ này với số tiền lớn.

Yêu cầu về gia tăng thanh toán điện tử

Thực tế cho thấy, các hoạt động ứng dụng chuyển đổi số qua ngân hàng đang là một trong giải pháp để cơ quan quản lý nhà nước có thể nắm được dòng chảy của tiền trong mọi mặt đời sống.

Theo Ngân hàng Nhà nước, cơ quan này đã chỉ đạo, phát triển các mô hình ngân hàng số, gia tăng tiện ích, trải nghiệm khách hàng theo hướng tự động hóa quy trình, tối ưu hóa hoạt động nghiệp vụ, ứng dụng các công nghệ như AI, học máy (ML), Big Data... Các sản phẩm thanh toán cũng phát triển đa dạng, phong phú, tích hợp nhiều tính năng, tiện ích mới không tiếp xúc, qua mobile; số hóa thông

tin/tokenization; xác thực sinh trắc học, qua Internet, điện thoại di động với nhiều công nghệ hiện đại, an toàn, tiện lợi.

Về quy mô thanh toán qua ngân hàng, nếu như thời điểm năm 2018 thì hệ thống thanh toán của Công ty cổ phần Thanh toán quốc gia (NAPAS) chỉ phải xử lý khoảng 50 nghìn giao dịch ngày. Tuy nhiên theo số liệu cập nhật mới đây của NAPAS, trong năm 2023, hệ thống NAPAS xử lý bình quân hơn 20 triệu giao dịch/ngày, tăng tương ứng 52% số lượng và 12% về giá trị giao dịch so với năm 2022. Riêng số lượng giao dịch chuyển tiền nhanh NAPAS 247 tăng tương ứng 62% về số lượng và 13% về giá trị.

Đáng chú ý, số lượng giao dịch qua phương thức quét VietQR tăng 8 lần về số lượng và 4 lần về giá trị giao dịch so với năm 2022. Qua đó cho thấy, người dùng đang ngày càng ưa chuộng và sử dụng thường xuyên hơn dịch vụ chuyển nhanh NAPAS 247 trong chi tiêu, thanh toán hàng ngày, tập trung vào các giao dịch có giá trị nhỏ lẻ, từ thành thị đến nông thôn, từ nhà hàng đến các siêu thị, chợ dân sinh.

Mặc dù vậy, các chuyên gia cho rằng, việc thực hiện các quy định cần phải nghiêm túc vì nếu không cũng vẫn có thể dẫn đến việc tội phạm lợi dụng. Ths. Nguyễn Thanh Sơn đưa ra ví dụ về việc quản lý dịch vụ Mobile Money, doanh nghiệp thí điểm dịch vụ hoặc các điểm kinh doanh không thực hiện đúng các quy trình tác nghiệp, hoặc thiếu năng lực, kinh nghiệm trong xác thực khách hàng thì vẫn có rủi ro có các giao dịch giả mạo, giao dịch bất hợp pháp trà trộn lẫn trong các giao dịch thông thường của người dân.

PGS. TS NGUYỄN THỊ MÙI, THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG TƯ VẤN CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ QUỐC GIA:

Các khoản giao dịch nhỏ dễ bị lơ là thiếu cảnh giác

Chống rửa tiền của các dịch vụ ngân hàng, cuộc chiến với “kẻ vô hình”
PSG. TS. Nguyễn Thị Mùi

Việc phòng chống rủi ro rửa tiền và tài trợ khủng bố gắn với các sản phẩm tài chính toàn diện là yêu cầu thực tiễn hiện nay, vì các sản phẩm tài chính khi ứng dụng thực tế đời sống đều có thể ẩn chứa rủi ro. Ranh giới giữa hoạt động hợp pháp và tội phạm là rất mong manh.

Tính chất của các loại sản phẩm này là đơn giản, dễ sử dụng. Đối tượng sử dụng các sản phẩm này là rất đông đảo, phạm vi rộng, nhưng sự am hiểu kiến thức tài chính ngân hàng của họ lại rất hạn chế. Nhiều trường hợp người dân vô tình tiếp tay cho tội phạm mà không biết. Do đó, việc quản lý rủi ro trong mảng này thậm chí khó khăn hơn rất nhiều so với quản lý rủi ro với các giao dịch tài chính lớn.

Một trong những khó khăn trong việc phòng chống tội phạm nữa chính là ở nhận thức. Chúng ta nhận thức nó là sản phẩm giá trị nhỏ, rủi ro thấp nên chúng ta chưa thực sự coi trọng và đó chính là yếu tố tạo điều kiện cho các đối tượng lợi dụng để rửa tiền. Chẳng hạn như tình trạng rửa tiền qua các khâu khâu thanh toán, không ít trường hợp việc đi truy xuất nguồn gốc dòng tiền rất vòng vo, rất khó phát hiện vì giá trị nhỏ.

PGS.TS NHỮ TRỌNG BÁCH - PHÓ GIÁM ĐỐC TRƯỜNG BỒI DƯỠNG CÁN BỘ TÀI CHÍNH (BỘ TÀI CHÍNH).

“Chu trình” rửa tiền thường trải qua 3 giai đoạn

Chống rửa tiền của các dịch vụ ngân hàng, cuộc chiến với “kẻ vô hình”
PGS. TS. Nhữ Trọng Bách

Tiền “bẩn” thường có nguồn gốc từ buôn lậu, buôn bán ma tuý, tham nhũng và hối lộ, buôn người, trộm cắp, tham ô, lừa đảo, tống tiền, trốn thuế, tội phạm tài chính, tài trợ khủng bố... Kẻ rửa tiền thường thực hiện qua các giai đoạn: sắp xếp, phân lớp và hòa nhập trong một quy trình nhằm biến những đồng tiền có nguồn gốc phi pháp thành những đồng tiền có vẻ ngoài hợp pháp.

Giai đoạn sắp xếp (sắp đặt) là giai đoạn đầu tiên trong quy trình rửa tiền liên quan đến việc bố trí các khoản tiền phi pháp vào trong hệ thống tài chính ngân hàng hoặc các hệ thống khác.

Giai đoạn thứ hai là phân lớp (phân tán), mục đích của giai đoạn này là tách các khoản tiền có được từ hoạt động tội phạm khỏi nguồn gốc phạm tội của chúng. Mục đích là chuyển những khoản tiền, tài sản đó càng xa nơi xảy ra tội phạm càng tốt, nhằm tránh bị lực lượng thực thi pháp luật phát hiện và tịch thu bằng cách tạo ra các lớp giao dịch tài chính phức tạp.

Giai đoạn thứ ba là hòa nhập (quy tụ), đây là giai đoạn cuối cùng khi kẻ rửa tiền tiến hành hoà nhập những khoản tiền có được từ hoạt động bất hợp pháp vào nền kinh tế./.

Chí Tín

Đọc thêm

Ban hành Thông tư về chế độ tài chính của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam, đặt trọng tâm bảo toàn vốn

Ban hành Thông tư về chế độ tài chính của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam, đặt trọng tâm bảo toàn vốn

(TBTCO) - Bộ Tài chính vừa ban hành Thông tư số 33/2026/TT-BTC quy định về chế độ tài chính của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/5/2026 và áp dụng từ năm tài chính 2026. Thông tư nhấn mạnh nguyên tắc việc sử dụng vốn của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam đảm bảo bảo toàn vốn khi thực hiện hoạt động đầu tư và gia tăng nguồn vốn hoạt động.
Ngân hàng dựng “lá chắn số”, chặn gần 4.000 tỷ đồng giao dịch đáng ngờ

Ngân hàng dựng “lá chắn số”, chặn gần 4.000 tỷ đồng giao dịch đáng ngờ

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách nhằm thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt, phát triển ngân hàng số và đảm bảo an ninh, an toàn hệ thống. Tính đến ngày 23/3, hệ thống đã cảnh báo 3,5 triệu lượt khách hàng; trong đó hơn 1,1 triệu lượt đã dừng hoặc hủy giao dịch, với tổng giá trị khoảng 3,99 nghìn tỷ đồng, góp phần hạn chế rủi ro gian lận.
Sacombank đặt mục tiêu giữ nợ xấu dưới 4,5%, "để dành" trên 30.000 tỷ đồng lợi nhuận

Sacombank đặt mục tiêu giữ nợ xấu dưới 4,5%, "để dành" trên 30.000 tỷ đồng lợi nhuận

Sacombank đặt mục tiêu lợi nhuận trước thuế năm 2026 đạt 8.100 tỷ đồng, tăng 6%; kiểm soát nợ xấu dưới 4,5%; đồng thời, trình loạt đề xuất mang tính "bước ngoặt" như đổi tên, chuyển trụ sở và gia hạn Đề án tái cơ cấu. Ngân hàng chưa có kế hoạch chia cổ tức, tiếp tục tích lũy vốn, nâng lợi nhuận giữ lại lũy kế lên 30.125,2 tỷ đồng.
Mặt bằng rủi ro khách hàng đảo chiều tăng nhẹ, trên 11% tổ chức tín dụng lo lợi nhuận giảm

Mặt bằng rủi ro khách hàng đảo chiều tăng nhẹ, trên 11% tổ chức tín dụng lo lợi nhuận giảm

(TBTCO) - Khảo sát từ Ngân hàng Nhà nước cho thấy, kỳ vọng tăng trưởng huy động và tín dụng năm 2026 bị điều chỉnh giảm lần lượt 0,45 điểm phần trăm và 2,1 điểm phần trăm so với kỳ trước. Rủi ro khách hàng đảo chiều tăng nhẹ, kéo theo áp lực nợ xấu gia tăng. Đáng chú ý, 11,3% tổ chức tín dụng lo ngại lợi nhuận sụt giảm.
Chính sách tín dụng đặc thù hỗ trợ hơn 14 nghìn người chấp hành xong án phạt tù vay vốn

Chính sách tín dụng đặc thù hỗ trợ hơn 14 nghìn người chấp hành xong án phạt tù vay vốn

(TBTCO) - Chính sách tín dụng với người chấp hành xong án phạt tù được coi là chính sách tín dụng đặc thù và có ý nghĩa nhân văn, góp phần hỗ trợ ổn định cuộc sống và hạn chế tái phạm tội. Ngân hàng Chính sách xã hội đã chủ động triển khai, đến nay dư nợ đạt khoảng 1,2 nghìn tỷ đồng, hỗ trợ hơn 14 nghìn người chấp hành xong án phạt tù vay vốn.
Shinhan Bank bứt tốc tín dụng, báo lãi trên 5.400 tỷ đồng

Shinhan Bank bứt tốc tín dụng, báo lãi trên 5.400 tỷ đồng

(TBTCO) - Shinhan Bank Việt Nam ghi nhận tổng tài sản gần 237 nghìn tỷ đồng vào cuối năm 2025, tăng hơn 22%, tín dụng tăng 23,8%, lãi trước thuế đạt 5.411,7 tỷ đồng, NIM duy trì 3,79%. Kết quả kinh doanh phản ánh nền tảng tăng trưởng ổn định, dù chịu áp lực chi phí vốn và cạnh tranh lãi suất.
Lãi suất “nổi sóng", điều hành giữ nhịp tránh "giật cục"

Lãi suất “nổi sóng", điều hành giữ nhịp tránh "giật cục"

(TBTCO) - PGS. TS. Nguyễn Hữu Huân - Giám đốc Chương trình đào tạo Thị trường Chứng khoán, Khoa Ngân hàng, Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh cho rằng, các chương trình “cộng lãi suất ngầm” cho thấy cạnh tranh huy động ở giai đoạn gay gắt hơn. Cần điều hành theo hướng phân tầng lãi suất, tín dụng; giữ hệ thống không rơi vào trạng thái “giật cục”.
Tập đoàn Bảo Việt: Tổng tài sản hợp nhất tại ngày 31/12/2025 đạt gần 292.000 tỷ đồng, tăng trưởng 16,1%

Tập đoàn Bảo Việt: Tổng tài sản hợp nhất tại ngày 31/12/2025 đạt gần 292.000 tỷ đồng, tăng trưởng 16,1%

(TBTCO) - Tập đoàn Bảo Việt vừa công bố kết quả kinh doanh năm 2025 (kiểm toán), theo đó, Công ty mẹ và các đơn vị thành viên ghi nhận mức tăng trưởng khả quan với tổng doanh thu hợp nhất đạt 59.700 tỷ đồng, tăng 5% so với năm 2024. Tổng tài sản hợp nhất tại ngày 31/12/2025 đạt gần 292.000 tỷ đồng, tăng trưởng khả quan 16,1% so với 31/12/2024.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,370 17,670
Kim TT/AVPL 17,380 17,680
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,370 17,670
Nguyên Liệu 99.99 15,920 16,120
Nguyên Liệu 99.9 15,870 16,070
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,870 17,170
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,820 17,120
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,750 17,100
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 173,700 176,700
Hà Nội - PNJ 173,700 176,700
Đà Nẵng - PNJ 173,700 176,700
Miền Tây - PNJ 173,700 176,700
Tây Nguyên - PNJ 173,700 176,700
Đông Nam Bộ - PNJ 173,700 176,700
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,370 17,670
Miếng SJC Nghệ An 17,370 17,670
Miếng SJC Thái Bình 17,370 17,670
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,350 17,650
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,350 17,650
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,350 17,650
NL 99.90 15,870
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,900
Trang sức 99.9 16,840 17,540
Trang sức 99.99 16,850 17,550
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,737 1,767
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,737 17,672
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,737 17,673
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,735 1,765
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,735 1,766
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,715 175
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 166,767 173,267
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 122,513 131,413
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 110,262 119,162
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 98,011 106,911
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 93,285 102,185
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 64,232 73,132
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,737 1,767
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,737 1,767
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,737 1,767
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,737 1,767
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,737 1,767
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,737 1,767
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,737 1,767
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,737 1,767
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,737 1,767
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,737 1,767
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,737 1,767
Cập nhật: 02/04/2026 08:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17747 18020 18593
CAD 18428 18705 19321
CHF 32553 32937 33581
CNY 0 3470 3830
EUR 29903 30176 31204
GBP 34212 34603 35537
HKD 0 3229 3431
JPY 159 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 14876 15458
SGD 19981 20264 20793
THB 723 787 840
USD (1,2) 26070 0 0
USD (5,10,20) 26111 0 0
USD (50,100) 26139 26159 26360
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,140 26,140 26,360
USD(1-2-5) 25,095 - -
USD(10-20) 25,095 - -
EUR 29,986 30,010 31,252
JPY 161.73 162.02 170.78
GBP 34,355 34,448 35,421
AUD 17,934 17,999 18,563
CAD 18,593 18,653 19,223
CHF 32,713 32,815 33,576
SGD 20,094 20,156 20,815
CNY - 3,795 3,913
HKD 3,291 3,301 3,419
KRW 16.19 16.88 18.26
THB 772 781.53 832.13
NZD 14,854 14,992 15,344
SEK - 2,753 2,833
DKK - 4,013 4,129
NOK - 2,674 2,752
LAK - 0.91 1.26
MYR 6,111.86 - 6,857.48
TWD 744.46 - 896.33
SAR - 6,894.3 7,218.62
KWD - 83,531 88,332
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,110 26,140 26,360
EUR 29,882 30,002 31,178
GBP 34,215 34,352 35,350
HKD 3,291 3,304 3,419
CHF 32,429 32,559 33,474
JPY 161.75 162.40 169.70
AUD 17,868 17,940 18,525
SGD 20,128 20,209 20,785
THB 788 791 826
CAD 18,591 18,666 19,228
NZD 14,885 15,413
KRW 16.73 18.35
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26326 26226 26360
AUD 17926 18026 18954
CAD 18602 18702 19718
CHF 32787 32817 34400
CNY 3770.7 3795.7 3931
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 30071 30101 31824
GBP 34501 34551 36308
HKD 0 3355 0
JPY 162.45 162.95 173.46
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 14982 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2790 0
SGD 20137 20267 21002
THB 0 752.3 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17370000 17370000 17670000
SBJ 16000000 16000000 17670000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,164 26,214 26,360
USD20 26,164 26,214 26,360
USD1 26,164 26,214 26,360
AUD 17,889 17,989 19,100
EUR 30,155 30,155 31,564
CAD 18,530 18,630 19,942
SGD 20,176 20,326 20,891
JPY 162.97 164.47 169.01
GBP 34,308 34,658 35,526
XAU 17,298,000 0 17,602,000
CNY 0 3,675 0
THB 0 786 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 02/04/2026 08:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80