Ông Phạm Lưu Hưng – Kinh tế trưởng SSI:

Chưa thấy quá nhiều áp lực tiêu cực lên diễn biến tỷ giá USD/VND

Duy Thái (thực hiện)
(TBTCO) - Ở thời điểm hiện tại, khó nói được gì chắc chắn về xu hướng tỷ giá cuối năm. Chỉ số DXY đang ở xu hướng giảm nên diễn biến trên thực tế đang ở chiều ngược lại. Ngoài ra, với việc giá cả hàng hóa nguyên liệu cơ bản có xu hướng giảm, thì cán cân thương mại của Việt Nam nhiều khả năng được cải thiện và do đó cũng chưa thấy quá nhiều áp lực tiêu cực lên tỷ giá USD/VND.
aa

Đây là chia sẻ về xu hướng diễn biến tỷ giá USD/VND của ông Phạm Lưu Hưng - Kinh tế trưởng Công ty Chứng khoán SSI, khi trao đổi nhanh với phóng viên TBTCVN.

Chưa thấy quá nhiều áp lực tiêu cực lên diễn biến tỷ giá USD/VND
Chuyên gia Phạm Lưu Hưng - Kinh tế trưởng SSI.

PV: Thưa ông, tỷ giá USD/VND đã tăng mạnh trong thời gian qua trước áp lực tăng lãi suất mạnh từ Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED). Ông đánh giá thế nào về diễn biến của tỷ giá trong giai đoạn hiện nay?

Tỷ giá ổn định là một yếu tố quan trọng, nếu không muốn nói là một trong các yếu tố quan trọng nhất của việc ổn định kinh tế vĩ mô. Do vậy, việc duy trì được biến động tỷ giá ở mức thấp có thể được coi là thành công trong việc duy trì ổn định kinh tế vĩ mô.

Ông Phạm Lưu Hưng: Áp lực tỷ giá trong quý II, III có tăng, tuy nhiên có thể thấy nếu so với các đồng tiền của các quốc gia khác, VND vẫn đang có mức mất giá thấp hơn khá nhiều. Trong thực tế, VND đang lên giá đối với rất nhiều các ngoại tệ khác như JPY, KRW, EUR, CNY... Do vậy, có thể thấy diễn biến tỷ giá vẫn đang ở xu hướng tích cực nếu nhìn ở mặt bằng chung đối với các quốc gia trong khu vực.

Đối với nợ công, đánh giá mới đây của Bộ Tài chính cũng cho rằng, ảnh hưởng của diễn biến tỷ giá lại ở chiều hướng tích cực, do mức độ giảm giá của JPY hay EUR lớn hơn nhiều so với mức độ tăng giá của USD, khiến nợ công của Việt Nam ước tính giảm so với năm 2021.

PV: Áp lực lên tỷ giá chắc chắn còn tăng trước sự tăng giá của USD, theo dự báo của ông, diễn biến tỷ giá từ nay đến cuối năm sẽ thế nào?

Ông Phạm Lưu Hưng: Thực ra cũng khó nói được gì chắc chắn ở thời điểm hiện tại. Bởi thực ra chỉ số DXY đang ở xu hướng giảm nên diễn biến trên thực tế đang ở chiều ngược lại.

Ngoài ra, với việc giá cả hàng hóa nguyên liệu cơ bản có xu hướng giảm, thì cán cân thương mại của Việt Nam nhiều khả năng được cải thiện trong nửa cuối năm và do đó cũng chưa thấy quá nhiều áp lực tiêu cực lên diễn biến tỷ giá USD/VND.

Chưa thấy quá nhiều áp lực tiêu cực lên diễn biến tỷ giá USD/VND

PV: Mặc dù vậy, nhiều ý kiến cho rằng, Việt Nam vẫn có nhiều trợ lực để kiểm soát tỷ giá. Theo ông, những yếu tố để Việt Nam giữ mức tăng của tỷ giá trong mục tiêu là gì?

Ông Phạm Lưu Hưng: Tôi cho rằng, tỷ giá ổn định là một yếu tố quan trọng, nếu không muốn nói là một trong các yếu tố quan trọng nhất của việc ổn định kinh tế vĩ mô. Do vậy, việc duy trì được biến động tỷ giá ở mức thấp có thể được coi là thành công trong việc duy trì ổn định kinh tế vĩ mô.

Các yếu tố hỗ trợ tỷ giá trong thời gian tới, có thể đến từ việc cán cân thương mại được cải thiện, trong khi nguồn vốn FDI giải ngân tiếp tục tăng cao và nguồn kiều hối cuối năm.

PV: Đây đang là giai đoạn khá khó đối với cơ quan quản lý trong việc điều hành tỷ giá. Theo ông, Ngân hàng Nhà nước sẽ ưu tiên những công cụ gì để điều hành tỷ giá cả trong ngắn hạn và dài hạn (cuối năm), trước áp lực của việc “nhập khẩu lạm phát” cũng như việc FED tăng lãi suất USD?

Các yếu tố hỗ trợ tỷ giá trong thời gian tới, có thể đến từ việc cán cân thương mại được cải thiện, trong khi nguồn vốn FDI giải ngân tiếp tục tăng cao và nguồn kiều hối cuối năm.

Ông Phạm Lưu Hưng: Không chỉ riêng Việt Nam, có thể nói đây là giai đoạn khó khăn chung của tất cả các ngân hàng trung ương trên thế giới trong bối cảnh lạm phát tăng cao, FED tăng lãi suất nhanh hơn so với dự kiến ban đầu và đồng USD mạnh.

Tuy nhiên, như trên đã nói, cũng chưa thể chắc chắn về việc USD sẽ lên giá trong nửa cuối năm, trong khi xuất siêu có thể sẽ quay trở lại mạnh mẽ hơn trong nửa cuối năm, giúp cán cân vãng lai quay lại mức thặng dư. Chưa kể giá cả hàng hóa đang ở xu hướng giảm, nên việc nói nhập khẩu lạm phát là cũng chưa thực sự hợp lý.

Ngoài ra, mức độ chênh lệnh giữa lãi suất VND và USD hiện nay ở mức khá hợp lý, đủ để cân bằng với việc tăng lãi suất của FED trong nửa cuối năm 2022.

PV: Xin cảm ơn ông!

Duy Thái (thực hiện)

Đọc thêm

Prudential ra mắt giải pháp bảo hiểm sức khỏe linh hoạt hàng đầu “may đo” theo từng giai đoạn cuộc đời

Prudential ra mắt giải pháp bảo hiểm sức khỏe linh hoạt hàng đầu “may đo” theo từng giai đoạn cuộc đời

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Prudential Việt Nam (Prudential) vừa chính thức ra mắt PRUKhỏe Linh Hoạt, sản phẩm bảo hiểm bán cùng được thiết kế theo định hướng cá nhân hóa các kế hoạch bảo hiểm sức khỏe, trao cho khách hàng quyền chủ động lựa chọn hạn mức hàng năm, phạm vi địa lý và quyền lợi bảo hiểm tùy chọn để xây dựng kế hoạch phù hợp với nhu cầu, khả năng tài chính và từng giai đoạn cuộc sống.
Phí bảo hiểm xe cơ giới sẽ minh bạch hơn

Phí bảo hiểm xe cơ giới sẽ minh bạch hơn

(TBTCO) - Thông tư số 96/2026/TT-BTC yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm thông báo cụ thể các trường hợp và căn cứ tăng, giảm phí bảo hiểm xe cơ giới. Quy định mới không chỉ đặt ra giới hạn đối với việc giảm phí, mà còn hướng hoạt động cạnh tranh vào thực chất, bảo đảm giá phí tương xứng với mức độ rủi ro và quyền lợi của khách hàng.
Giá vàng hôm nay ngày 14/9: Vàng thế giới lùi về 4.333 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 14/9: Vàng thế giới lùi về 4.333 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm 34 USD/ounce, xuống 4.333 USD/ounce. Trong nước, giá vàng giao dịch trong khoảng 142,5 - 147 triệu đồng/lượng.
NCB sẽ tài trợ vốn cho dự án đầu tư xây dựng tuyến đường kết nối sân bay Gia Bình với Thủ đô Hà Nội

NCB sẽ tài trợ vốn cho dự án đầu tư xây dựng tuyến đường kết nối sân bay Gia Bình với Thủ đô Hà Nội

(TBTCO) - Tại Hội nghị giải pháp khơi thông nguồn lực tài chính - ngân hàng phục vụ tăng trưởng kinh tế Thủ đô giai đoạn 2026 - 2030 vừa tổ chức, Ngân hàng NCB và Công ty TNHH Đầu tư Hạ tầng và Đô thị Bắc Hà Nội đã chính thức ký kết thỏa thuận hợp tác toàn diện, đồng hành cùng triển khai xây dựng tuyến đường kết nối sân bay Gia Bình với Thủ đô Hà Nội.
Hà Nội thúc vốn cho dự án, mở thêm kênh huy động dài hạn

Hà Nội thúc vốn cho dự án, mở thêm kênh huy động dài hạn

(TBTCO) - Tại Hội nghị “Giải pháp khơi thông nguồn lực tài chính - ngân hàng phục vụ tăng trưởng kinh tế Thủ đô giai đoạn 2026 - 2030” do UBND TP. Hà Nội phối hợp với Ngân hàng Nhà nước tổ chức chiều 12/9, lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước và TP. Hà Nội thống nhất nhiều giải pháp nhằm khơi thông dòng vốn, tháo gỡ điểm nghẽn cho các dự án và đa dạng hóa nguồn lực tài chính phục vụ tăng trưởng.
Hà Nội: Tín dụng tăng 13,05%, bài toán khơi thông vốn cho giai đoạn mới

Hà Nội: Tín dụng tăng 13,05%, bài toán khơi thông vốn cho giai đoạn mới

(TBTCO) - Trong 8 tháng đầu năm 2026, huy động vốn trên địa bàn Hà Nội tăng 10,78%, dư nợ tín dụng tăng 13,05%, đưa Thủ đô tiếp tục dẫn đầu cả nước về quy mô huy động và cho vay.
Hà Nội khơi thông nguồn vốn, tạo động lực tăng trưởng

Hà Nội khơi thông nguồn vốn, tạo động lực tăng trưởng

(TBTCO) - Trước yêu cầu tăng trưởng GRDP từ 11% trở lên trong năm 2026 và giai đoạn 2026 - 2030, Hà Nội xác định khơi thông các nguồn lực tài chính, đặc biệt là vốn tín dụng và nguồn lực doanh nghiệp, là nhiệm vụ trọng tâm.
Thị trường tiền tệ tuần 7 - 11/9: USD hạ sâu, hút ròng mạnh 33.000 tỷ đồng nhưng lãi suất qua đêm vẫn dưới 2%

Thị trường tiền tệ tuần 7 - 11/9: USD hạ sâu, hút ròng mạnh 33.000 tỷ đồng nhưng lãi suất qua đêm vẫn dưới 2%

(TBTCO) - Tỷ giá trung tâm giảm tuần thứ hai, USD ngân hàng hạ sâu, song sự “im lặng” của Fed khiến triển vọng lãi suất khó đoán. Dù Ngân hàng Nhà nước hút ròng hơn 33.000 tỷ đồng qua kênh OMO, lãi suất qua đêm giảm mạnh về 1,68%/năm, song áp lực nguồn vốn kỳ hạn dài vẫn hiện hữu.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 142,300 ▼100K 145,300 ▼200K
Hà Nội - PNJ 142,300 ▼100K 145,300 ▼200K
Đà Nẵng - PNJ 142,300 ▼100K 145,300 ▼200K
Miền Tây - PNJ 142,300 ▼100K 145,300 ▼200K
Tây Nguyên - PNJ 142,300 ▼100K 145,300 ▼200K
Đông Nam Bộ - PNJ 142,300 ▼100K 145,300 ▼200K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,230 ▼30K 14,530 ▼30K
Miếng SJC Nghệ An 14,230 ▼30K 14,530 ▼30K
Miếng SJC Thái Bình 14,230 ▼30K 14,530 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,230 ▼30K 14,580 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,230 ▼30K 14,580 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,230 ▼30K 14,580 ▼30K
NL 99.99 13,600
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,500
Trang sức 99.9 13,890 ▼30K 14,490 ▼30K
Trang sức 99.99 13,900 ▼30K 14,500 ▼30K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,423 ▼3K 14,532 ▼30K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,423 ▼3K 14,533 ▼30K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,418 ▼3K 1,448 ▼3K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,418 ▼3K 1,449 ▼3K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,393 ▼3K 1,438 ▼3K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 135,376 ▼297K 142,376 ▼297K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 98,211 ▼225K 108,011 ▼225K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 88,144 ▼204K 97,944 ▼204K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,077 ▲70251K 87,877 ▲79071K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 74,194 ▼175K 83,994 ▼175K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,321 ▼125K 60,121 ▼125K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Cập nhật: 15/09/2026 12:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17981 18255 18828
CAD 18151 18427 19044
CHF 31123 31501 32151
CNY 0 3832 3928
EUR 29362 29583 30662
GBP 34254 34645 35580
HKD 0 3184 3386
JPY 161 165 172
KRW 0 18 20
NZD 0 14643 15231
SGD 19906 20188 20755
THB 697 760 814
USD (1,2) 25737 0 0
USD (5,10,20) 25776 0 0
USD (50,100) 25804 25818 26184
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,810 25,810 26,190
USD(1-2-5) 24,778 - -
USD(10-20) 24,778 - -
EUR 29,400 29,424 30,820
JPY 163.47 163.76 173.66
GBP 34,425 34,518 35,712
AUD 18,169 18,235 18,924
CAD 18,332 18,391 19,072
CHF 31,376 31,474 32,405
SGD 20,019 20,081 20,868
CNY - 3,800 3,946
HKD 3,247 3,257 3,394
KRW 17.7 18.46 20.09
THB 745.51 754.72 808.1
NZD 14,628 14,764 15,205
SEK - 2,613 2,706
DKK - 3,943 4,083
NOK - 2,735 2,833
LAK - 0.89 1.23
MYR 5,954.87 - 6,721.37
TWD 738.48 - 894.7
SAR - 6,804 7,167.1
KWD - 82,423 87,705
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,795 25,825 26,205
EUR 29,462 29,580 30,778
GBP 34,466 34,604 35,634
HKD 3,249 3,262 3,378
CHF 31,259 31,385 32,319
JPY 164.07 164.73 172.71
AUD 18,197 18,270 18,864
SGD 20,103 20,184 20,777
THB 763 766 802
CAD 18,362 18,436 19,026
NZD 14,729 15,268
KRW 18.37 20.31
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25820 25820 26180
AUD 18193 18293 19218
CAD 18340 18440 19460
CHF 31373 31403 32993
CNY 3813.4 3838.4 3973.8
CZK 0 1190 0
DKK 0 4010 0
EUR 29549 29579 31301
GBP 34556 34606 36377
HKD 0 3305 0
JPY 164.5 165 175.52
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2820 0
NZD 0 14781 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2660 0
SGD 20067 20197 20918
THB 0 726.5 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14250000 14250000 14550000
SBJ 13000000 13000000 14550000
Cập nhật: 15/09/2026 12:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30