Dai-ichi Life Việt Nam liên tiếp 4 năm đạt hai giải thưởng tại châu Á - APEA

(TBTCO) - Dai-ichi Life Việt Nam vừa được Hiệp hội Doanh nghiệp châu Á (Enterprise Asia) vinh danh hai giải thưởng lớn “Doanh nghiệp xuất sắc châu Á” (Corporate Excellence Award) và “Thương hiệu truyền cảm hứng” (Inspirational Brand Award) tại Lễ trao giải thưởng Doanh nghiệp châu Á - Asia Pacific Enterprise Awards (APEA) 2024.
aa
Dai-ichi Life Việt Nam liên tiếp 4 năm đạt hai giải thưởng tại châu Á - APEA

Các thành viên Ban giám đốc Dai-ichi Life Việt Nam tại Lễ trao Giải thưởng Doanh nghiệp châu Á - Asia Pacific Enterprise Awards (APEA) 2024

Với chủ đề “Celebrating Inclusive Entrepreneurship - Tôn vinh tinh thần kinh doanh toàn diện”, APEA 2024 hướng đến vinh danh những doanh nghiệp và nhà lãnh đạo xuất sắc, có những đóng góp tích cực cho sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững, đồng thời đề cao vai trò của tinh thần kinh doanh toàn diện trong bối cảnh mới tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương.

Để đạt giải thưởng, các ứng viên đã trải qua quá trình đánh giá với nhiều tiêu chí của hội đồng giám khảo như: kiểm toán tài chính, đánh giá dữ liệu doanh nghiệp và năng lực lãnh đạo trong nhiều năm, phỏng vấn ban lãnh đạo trực tuyến và bỏ phiếu kín bởi Hội đồng tư vấn quốc tế của Enterprise Asia. Để tìm ra 62 đại diện xuất sắc cho giải thưởng, hội đồng đánh giá đã tiến hành nghiên cứu, đánh giá toàn diện đối với hơn 300 đơn vị tham gia đề cử.

Đây là năm thứ tư liên tiếp (2021- 2024), Dai-ichi Life Việt Nam tự hào nhận giải thưởng kép tại APEA 2024. Thành tích ấn tượng này một lần nữa khẳng định vị thế hàng đầu của công ty với chiến lược tăng trưởng bền vững song hành cùng thực hiện tốt trách nhiệm xã hội doanh nghiệp, đồng thời minh chứng sức lan tỏa và truyền cảm hứng của thương hiệu bảo hiểm nhân thọ uy tín đến từ Nhật Bản trong hơn 17 năm qua tại Việt Nam.

Ông Đặng Hồng Hải – Tổng Giám đốc Dai-ichi Life Việt Nam, chia sẻ: “Với triết lý kinh doanh “Khách hàng là trên hết”, hai giải thưởng uy tín tại châu Á trong 4 năm liên tiếp là niềm vinh dự và động lực lớn cho Dai-ichi Life Việt Nam khi được ghi nhận những thành quả và nỗ lực bền bỉ của công ty trong thời gian qua nhằm mang đến những giá trị vượt trội và sự hài lòng cao nhất cho khách hàng. Nhân dịp này, tôi xin gửi lời tri ân sâu sắc đến gần 5 triệu khách hàng và gia đình, đối tác, cộng đồng đã luôn tin yêu và ủng hộ để tạo nên thành công Dai-ichi Life Việt Nam ngày hôm nay”.

Trong bối cảnh đầy thách thức của nền kinh tế và thị trường, Dai-ichi Life Việt Nam đã đạt kết quả kinh doanh khả quan trong 6 tháng đầu năm 2024 với tổng doanh thu phí bảo hiểm đạt gần 9.200 tỷ đồng, thị phần đạt 13%, tăng 0,5 điểm phần trăm so với cuối năm 2023, giữ vị trí Top 3 công ty bảo hiểm nhân thọ nước ngoài về tổng doanh thu phí bảo hiểm. Doanh thu phí bảo hiểm khai thác mới đạt gần 1.800 tỷ đồng, dẫn đầu trong các công ty bảo hiểm nhân thọ nước ngoài về doanh thu phí bảo hiểm khai thác mới quy năm và đứng thứ hai trên thị trường về lợi nhuận sau thuế với hơn 1.100 tỷ đồng, nộp vào ngân sách Nhà nước gần 645 tỷ đồng, tổng lũy kế lợi nhuận sau thuế chưa phân phối đạt trên 10.700 tỷ đồng, tổng tài sản lên gần 71.000 tỷ đồng, tăng 14% so với cùng kỳ năm trước. Nhằm đảm bảo thực hiện cam kết chi trả quyền lợi của khách hàng trong tương lai, theo quy định của Nhà nước, đến nay, Dai-ichi Life Việt Nam đã trích lập khoản dự phòng nghiệp vụ lên đến gần 47.000 tỷ đồng, tăng 17% so với cùng kỳ năm trước.

Luôn cam kết bảo đảm quyền lợi ưu việt cho khách hàng, trong 6 tháng đầu năm 2024, Dai-ichi Life Việt Nam đã chi trả quyền lợi bảo hiểm trên 2.200 tỷ đồng cho hơn 200.000 trường hợp, trong đó, chi trả quyền lợi bảo hiểm chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ viện phí và tai nạn gần 700 tỷ đồng, nâng tổng số tiền chi trả quyền lợi bảo hiểm trên 21.700 tỷ đồng cho hơn 1,9 triệu trường hợp trong gần 17 năm qua, góp phần bảo đảm an sinh xã hội cho người dân Việt Nam.

Bên cạnh nỗ lực tăng trưởng bền vững, trong hơn 17 năm qua, Dai-ichi Life Việt Nam luôn cam kết thực hiện tốt trách nhiệm xã hội doanh nghiệp. Thông qua Quỹ Vì cuộc sống tươi đẹp, công ty đã tiên phong khởi xướng nhiều chương trình và sáng kiến hỗ trợ cộng đồng ý nghĩa với tổng số tiền đóng góp lên đến trên 75 tỷ đồng xuyên suốt bốn lĩnh vực: giáo dục, sức khỏe y tế, môi trường và từ thiện xã hội.

“Chúng tôi cam kết tiếp tục nỗ lực phát triển bền vững và trở thành người bạn đồng hành “Gắn bó dài lâu” cùng người dân Việt Nam nhằm bảo đảm cuộc sống bình an và tương lai tươi sáng cho mỗi người, mỗi nhà, góp phần mang đến những giá trị tốt đẹp và hạnh phúc bền vững cho cộng đồng và xã hội”- ông Hải chia sẻ thêm./.

Hồng Chi

Đọc thêm

Tổng tài sản SeABank tăng hơn 4,6 lần, đóng góp gần 5.300 tỷ đồng ngân sách trong 5 năm

Tổng tài sản SeABank tăng hơn 4,6 lần, đóng góp gần 5.300 tỷ đồng ngân sách trong 5 năm

(TBTCO) - Trải qua 32 năm phát triển, Ngân hàng TMCP Đông Nam Á (SeABank, HOSE: SSB) từng bước mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quả hoạt động, qua đó khẳng định vị thế trong hệ thống ngân hàng Việt Nam. Đáng chú ý, trong giai đoạn 2020 - 2025, tổng nộp ngân sách nhà nước của Ngân hàng đạt gần 5.300 tỷ đồng và quy mô tài sản tăng gấp hơn 4,6 lần, phản ánh rõ nét chiến lược phát triển bền vững gắn với hiệu quả, tuân thủ và đóng góp cho sự phát triển của đất nước.
Cho vay trung, dài hạn mở thêm dư địa 1 triệu tỷ đồng, lợi thế thuộc về ngân hàng nào?

Cho vay trung, dài hạn mở thêm dư địa 1 triệu tỷ đồng, lợi thế thuộc về ngân hàng nào?

Việc nâng tỷ lệ tối đa sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn từ 30% lên 40% được kỳ vọng mở thêm khoảng 1 triệu tỷ đồng dư địa tín dụng cho nền kinh tế. VCBS dự báo dư nợ cho vay trung và dài hạn có thể tăng khoảng 23% kể từ đầu năm, nâng tỷ trọng lên 48 - 49%. Tuy nhiên, mức độ hưởng lợi sẽ phân hóa giữa các nhóm ngân hàng.
Nới trần vốn ngắn hạn, mở rộng dư địa cho vay trung và dài hạn

Nới trần vốn ngắn hạn, mở rộng dư địa cho vay trung và dài hạn

(TBTCO) - Thông tư 25/2026/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước được kỳ vọng giúp giảm áp lực huy động vốn, mở rộng dư địa cho vay trung và dài hạn, qua đó tăng khả năng cung ứng tín dụng cho các dự án hạ tầng, đầu tư quy mô lớn và hỗ trợ thanh khoản hệ thống.
Giá vàng hôm nay ngày 24/6: Vàng thế giới mất hơn 73 USD/ounce, vàng trong nước đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 24/6: Vàng thế giới mất hơn 73 USD/ounce, vàng trong nước đồng loạt giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm 73,41 USD/ounce xuống còn khoảng 4.110 USD/ounce. Bên cạnh đó, vàng miếng và vàng nhẫn trong nước đồng loạt đi xuống tại nhiều doanh nghiệp kinh doanh vàng lớn.
Prudential Việt Nam tiên phong nâng chuẩn đội ngũ tư vấn viên, góp phần xây dựng niềm tin bền vững ngành bảo hiểm

Prudential Việt Nam tiên phong nâng chuẩn đội ngũ tư vấn viên, góp phần xây dựng niềm tin bền vững ngành bảo hiểm

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Prudential Việt Nam (Prudential) chính thức triển khai chiến dịch Be The One - Start As One | Khởi đầu từ vị thế Tiên phong, chương trình tuyển dụng và phát triển thế hệ tư vấn viên mới, nhằm góp phần nâng cao chuẩn mực nghề tư vấn viên tài chính và hướng đến trải nghiệm khách hàng toàn diện hơn.
BVBank trước thềm niêm yết HOSE: Lợi nhuận bứt phá, nợ xấu còn "nặng gánh"

BVBank trước thềm niêm yết HOSE: Lợi nhuận bứt phá, nợ xấu còn "nặng gánh"

(TBTCO) - HOSE vừa chấp thuận niêm yết hơn 640,8 triệu cổ phiếu BVB của ngân hàng BVBank, mở đường cho kế hoạch chuyển sàn từ UPCoM sang HOSE sau nhiều năm chuẩn bị. Trong bối cảnh đó, BVBank ghi nhận lợi nhuận quý I/2026 tăng 168,8%, nhưng áp lực chất lượng tài sản vẫn hiện hữu khi quy mô nợ xấu gia tăng và nợ có khả năng mất vốn chiếm tỷ trọng cao.
Thông báo về việc khai trương hoạt động Chi nhánh Sở giao dịch 2 trực thuộc Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại

Thông báo về việc khai trương hoạt động Chi nhánh Sở giao dịch 2 trực thuộc Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc đặt trụ sở và chính thức khai trương hoạt động Chi nhánh Sở giao dịch 2.
Nới trần vốn ngắn hạn mở thêm dư địa tái định giá cổ phiếu ngân hàng

Nới trần vốn ngắn hạn mở thêm dư địa tái định giá cổ phiếu ngân hàng

(TBTCO) - Theo ông Lương Duy Phước - Giám đốc Phân tích, Công ty Chứng khoán Kafi, việc nâng tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung và dài hạn từ 30% lên 40% sẽ tạo thêm dư địa tăng trưởng tín dụng, hỗ trợ cải thiện kết quả kinh doanh và mở ra cơ hội tái định giá đối với nhóm cổ phiếu ngân hàng trong giai đoạn tới.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,400 14,700
Kim TT/AVPL 14,400 14,700
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,400 14,700
Nguyên Liệu 99.99 13,300 ▼100K 13,500 ▼100K
Nguyên Liệu 99.9 13,250 ▼100K 13,450 ▼50K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,900 14,400
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,850 14,350
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,780 14,330
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 144,000 147,000
Hà Nội - PNJ 144,000 147,000
Đà Nẵng - PNJ 144,000 147,000
Miền Tây - PNJ 144,000 147,000
Tây Nguyên - PNJ 144,000 147,000
Đông Nam Bộ - PNJ 144,000 147,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,400 14,700
Miếng SJC Nghệ An 14,400 14,700
Miếng SJC Thái Bình 14,400 14,700
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,250 ▼150K 14,600 ▼100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,250 ▼150K 14,600 ▼100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,250 ▼150K 14,600 ▼100K
NL 99.90 12,950
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,000
Trang sức 99.9 13,790 ▼100K 14,490 ▼100K
Trang sức 99.99 13,800 ▼100K 14,500 ▼100K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 144 14,702
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 144 14,703
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,439 1,469
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,439 147
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,419 1,454
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 13,696 14,396
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,711 109,211
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 89,532 99,032
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 79,353 88,853
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 75,427 84,927
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,288 60,788
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Cập nhật: 24/06/2026 19:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17607 17880 18459
CAD 17978 18253 18872
CHF 31759 32140 32780
CNY 0 3825 3918
EUR 29232 29452 30533
GBP 33837 34226 35174
HKD 0 3227 3430
JPY 156 160 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14526 15114
SGD 19731 20013 20589
THB 703 766 820
USD (1,2) 26066 0 0
USD (5,10,20) 26107 0 0
USD (50,100) 26136 26150 26451
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,131 26,131 26,451
USD(1-2-5) 25,086 - -
USD(10-20) 25,086 - -
EUR 29,452 29,476 30,808
JPY 158.58 158.87 168.06
GBP 34,153 34,245 35,343
AUD 17,873 17,938 18,573
CAD 18,188 18,246 18,871
CHF 32,095 32,195 33,058
SGD 19,898 19,960 20,698
CNY - 3,800 3,936
HKD 3,293 3,303 3,434
KRW 15.73 16.4 17.8
THB 752.94 762.24 813.9
NZD 14,582 14,717 15,114
SEK - 2,658 2,745
DKK - 3,940 4,069
NOK - 2,639 2,726
LAK - 0.91 1.27
MYR 5,948.8 - 6,699.53
TWD 749.79 - 906.17
SAR - 6,902.31 7,252.78
KWD - 83,298 88,418
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,111 26,131 26,451
EUR 29,387 29,505 30,684
GBP 34,121 34,258 35,268
HKD 3,289 3,302 3,418
CHF 31,944 32,072 32,985
JPY 158.76 159.40 167.20
AUD 17,866 17,938 18,524
SGD 19,946 20,026 20,602
THB 771 774 809
CAD 18,191 18,264 18,824
NZD 14,667 15,197
KRW 16.42 18.05
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26135 26135 26451
AUD 17793 17893 18815
CAD 18151 18251 19262
CHF 32025 32055 33633
CNY 3806.4 3831.4 3966.6
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29432 29462 31184
GBP 34198 34248 36016
HKD 0 3355 0
JPY 159.28 159.78 170.32
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14649 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19897 20027 20755
THB 0 732.4 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14400000 14400000 14700000
SBJ 13000000 13000000 14700000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,161 26,101 26,451
USD20 26,161 26,101 26,451
USD1 26,161 26,101 26,451
AUD 17,855 17,955 19,068
EUR 29,588 29,588 30,997
CAD 18,103 18,203 19,509
SGD 19,986 20,136 20,699
JPY 159.78 161.28 165.85
GBP 34,123 34,473 35,345
XAU 14,398,000 0 14,702,000
CNY 0 3,719 0
THB 0 768 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 24/06/2026 19:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80