Đằng sau hiện tượng ngân hàng nhiệt tình “chơi” trái phiếu

Chí Tín
(TBTCVN) - Số liệu thị trường trái phiếu cho thấy, các ngân hàng là những chủ thể “nhiệt tình” nhất với trái phiếu doanh nghiệp cả với vai trò tổ chức phát hành lẫn nhà đầu tư. Trong khi, vấn đề đặt ra là việc mua bán chéo trái phiếu giữa các ngân hàng với nhau nên được nhìn nhận với góc độ ra sao?
aa

nh

Trái phiếu doanh nghiệp vẫn là lĩnh vực đầu tư mạnh của các ngân hàng.

Áp lực về nguồn vốn

Theo số liệu của Hiệp hội Thị trường trái phiếu, tính riêng trong tháng 6/2021, toàn thị trường có 91 đợt phát hành trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ trong nước (52.274 tỷ đồng) và 1 đợt phát hành trái phiếu doanh nghiệp ra công chúng (1.500 tỷ đồng). Trong đó, tỷ lệ phát hành của nhóm các ngân hàng thương mại lên tới 59,5% tổng khối lượng phát hành trong tháng.

Một số đợt phát hành có quy mô lớn của các ngân hàng trong tháng 6 có thể kể đến những đợt phát hành của Ngân hàng Phương Đông (phát hành 1.500 tỷ đồng), Ngân hàng Á Châu (phát hành 2.500 tỷ đồng), Ngân hàng Phát triển TP.Hồ Chí Minh (phát hành 2.000 tỷ đồng). Các Ngân hàng SHB, Bưu điện Liên Việt, Phương Đông, Tiên Phong… cũng đều có các đợt phát hành quy mô lên tới 1.000 tỷ đồng trong tháng này.

Sang quý III/2021, các đợt phát hành trái phiếu của các ngân hàng cũng vẫn tiếp tục diễn ra. Trong đó, một số đợt phát hành đáng chú ý sắp diễn ra là đợt phát hành 1.200 tỷ đồng của BIDV và đợt phát hành 1.000 tỷ đồng của VietinBank.

Đợt phát hành của BIDV là đợt phát hành ra công chúng, dự kiến được BIDV sử dụng để tăng quy mô vốn hoạt động cho tổ chức phát hành và cho vay nền kinh tế (bao gồm cả các khoản cho vay được giải ngân trước và sau thời điểm phát hành trái phiếu). Trong khi đó, đợt phát hành sắp tới của VietinBank là đợt phát hành riêng lẻ với kỳ hạn lên tới 10 năm, mệnh giá 1 tỷ đồng/trái phiếu, khối lượng phát hành là 1.000 trái phiếu.

Việc xuất hiện liên tục các đợt phát hành trái phiếu với quy mô lớn của nhiều ngân hàng khác nhau cũng không có gì khó hiểu bởi nhu cầu huy động vốn của các ngân hàng thương mại là rất lớn để phục vụ nhu cầu cho vay khách hàng. Ngoài ra, các ngân hàng còn chịu áp lực về việc tăng vốn dài hạn để giữ được hệ số an toàn vốn tối thiểu theo quy định. Ông Cấn Văn Lực - chuyên gia tài chính ngân hàng cho biết, bên cạnh giải pháp giữ lại lợi nhuận để tăng vốn chủ sở hữu thì các ngân hàng cũng có thể tăng vốn dài hạn bằng phát hành trái phiếu để tăng vốn cấp 2. Vốn cấp 2 tuy là một công cụ nợ nên không có độ an toàn cao như vốn chủ sở hữu, nhưng nguồn vốn này có kỳ hạn dài nên vẫn được coi là có tính ổn định cao hơn các khoản vay ngắn hạn hoặc vốn huy động tiền gửi tiết kiệm.

Câu chuyện mua bán chéo

Bên cạnh việc là chủ thể nhiệt tình nhất trong việc phát hành trái phiếu thì ở một góc độ khác, các ngân hàng cũng rất năng nổ với vai trò là nhà đầu tư mua trái phiếu. Trong nửa đầu năm 2021, các ngân hàng cũng là một trong các nhóm các nhà đầu tư mua nhiều trái phiếu doanh nghiệp nhất (chỉ sau các công ty chứng khoán), trong đó có cả việc mua chéo trái phiếu do ngân hàng khác phát hành.

Câu hỏi đặt ra là liệu có gì mâu thuẫn khi ngân hàng đang rất cần vốn dài hạn và phải liên tục huy động vốn bằng trái phiếu, vậy tại sao họ lại cũng dư giả nhiều tiền để mua trái phiếu như vậy? Thực tế, các ngân hàng sau khi huy động vốn từ các kênh (trái phiếu, tiền gửi…) thì họ cũng không thể đem cho vay ngay lập tức được vì còn có quá trình tìm kiếm khách hàng, thẩm định hồ sơ… Ngoài ra, các ngân hàng cũng thường xuyên phải giữ lại một tỷ lệ vốn nhất định để duy trì thanh khoản. Trong thời gian đó, các ngân hàng đương nhiên không muốn tiền “nằm chết” một chỗ mà sẽ phải để tiền ở một kênh nào đó có thể sinh lợi, trong đó có trái phiếu.

Ông Nguyễn Trí Hiếu - chuyên gia tài chính, ngân hàng cho rằng, thực chất việc các ngân hàng mua bán chéo trái phiếu lẫn nhau là nghiệp vụ bình thường của thị trường này. Điều này cho thấy các ngân hàng nhìn nhận đây là khoản đầu tư có tính thanh khoản tốt. Nhưng ở một mặt nào đó, dòng tín dụng sẽ lòng vòng trong hệ thống mà không chảy vào sản xuất, kinh doanh.

Một trong những câu hỏi đặt ra khi ngân hàng mua trái phiếu có phải họ đang mắc vào một cái vòng luẩn quẩn là họ lại đang dùng vốn ngân hàng để “bơm” vào kênh đầu tư dài hạn hay không? Về vấn đề này, một số chuyên gia cho rằng, quan điểm này sẽ phải dựa trên nhiều yếu tố, chủ yếu liên quan đến tính thanh khoản của trái phiếu. Theo đó, ngân hàng khi mua trái phiếu thì vốn của họ không bị “đóng cứng” vào đó như một khoản cho vay mà khi có nhu cầu vốn, họ vẫn có thể giao dịch chuyển nhượng, chiết khấu, cầm cố… để rút vốn về. Theo đó, các ngân hàng đầu tư trái phiếu sẽ cần phải phân loại trái phiếu tùy theo tính thanh khoản của nó để xác định độ “lỏng” (khả năng chuyển thành tiền) của tài sản. Chẳng hạn, trái phiếu chính phủ cho dù có thời hạn lên đến 15 - 20 năm chăng nữa vẫn có thể tính là tài sản ngắn hạn do tính chất dễ giao dịch chuyển nhượng của loại trái phiếu này. Đối với trái phiếu do ngân hàng phát hành, việc nhiều ngân hàng và các tổ chức tài chính cùng tham gia mua bán giao dịch loại tài sản này cũng có thể làm tính thanh khoản sẽ dần dần tăng lên. Về phía cơ quan quản lý, Ngân hàng Nhà nước gần đây cũng có văn bản hướng dẫn tại Thông tư số 12/2021/TT-NHNN để các ngân hàng có cơ sở pháp lý rõ ràng hơn trong việc mua bán trái phiếu của nhau.

Quy định về việc ngân hàng mua, bán kỳ phiếu, trái phiếu


Thông tư số 12 do Ngân hàng Nhà nước mới ban hành đã có quy định về việc ngân hàng mua, bán kỳ phiếu, tín phiếu, chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu do ngân hàng khác phát hành trong nước chưa đến hạn thanh toán.

Thông tư 12 quy định, các ngân hàng được mua, bán giấy tờ có giá phù hợp với nội dung ghi trong giấy phép do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cấp. Bên mua, bên bán chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc mua, bán giấy tờ có giá phù hợp với quy định tại thông tư này và quy định của pháp luật có liên quan.

Chí Tín

Chí Tín

Đọc thêm

Đề xuất nâng mức giảm trừ nhiều loại bảo hiểm lên 3 triệu đồng/tháng khi tính thuế thu nhập cá nhân

Đề xuất nâng mức giảm trừ nhiều loại bảo hiểm lên 3 triệu đồng/tháng khi tính thuế thu nhập cá nhân

(TBTCO) - Bộ Tài chính đề xuất nâng mức đóng góp bảo hiểm được trừ khi tính thuế thu nhập cá nhân từ 1 triệu đồng lên 3 triệu đồng/tháng, quy định áp dụng với các khoản đóng vào quỹ hưu trí bổ sung, bảo hiểm hưu trí tự nguyện và bảo hiểm nhân thọ cho người lao động.
VietinBank triển khai gói ưu đãi lớn cho doanh nghiệp xuất nhập khẩu vừa và nhỏ

VietinBank triển khai gói ưu đãi lớn cho doanh nghiệp xuất nhập khẩu vừa và nhỏ

(TBTCO) - Chương trình “SME Global Boost” của VietinBank mang đến loạt ưu đãi phí giao dịch ngoại tệ và tài trợ thương mại, hỗ trợ doanh nghiệp xuất nhập khẩu vừa và nhỏ tối ưu chi phí và nâng cao năng lực cạnh tranh trong bối cảnh thương mại quốc tế nhiều biến động.
Giá vàng hôm nay ngày 30/3: Giá vàng trong nước duy trì quanh ngưỡng 169,8 - 172,8 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 30/3: Giá vàng trong nước duy trì quanh ngưỡng 169,8 - 172,8 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng sáng ngày 30/3 ghi nhận trạng thái đi ngang khi các thương hiệu lớn đồng loạt giữ giá, với cả vàng miếng và vàng nhẫn duy trì mặt bằng giao dịch quanh 169,8 - 172,8 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 29/3: Giá vàng chạm ngưỡng 172,8 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 29/3: Giá vàng chạm ngưỡng 172,8 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng ngày 29/3 tiếp tục tăng tại nhiều doanh nghiệp lớn, đưa mặt bằng giao dịch phổ biến lên ngưỡng 172,8 triệu đồng/lượng.
Nhóm Ngân hàng Thế giới sẵn sàng triển khai hỗ trợ quy mô lớn ứng phó khủng hoảng Trung Đông

Nhóm Ngân hàng Thế giới sẵn sàng triển khai hỗ trợ quy mô lớn ứng phó khủng hoảng Trung Đông

(TBTCO) - Xung đột tại Trung Đông đang đẩy giá năng lượng, phân bón tăng mạnh, làm gián đoạn chuỗi cung ứng và gia tăng chi phí toàn cầu. Nhóm Ngân hàng Thế giới khẳng định sẽ triển khai hỗ trợ quy mô lớn, kết hợp tài chính, chính sách và khu vực tư nhân để giúp các nền kinh tế vượt qua cú sốc và phục hồi tăng trưởng.
"Big 4" dự kiến bơm thêm 1 triệu tỷ đồng, giữ ổn định lãi suất vẫn là thách thức

"Big 4" dự kiến bơm thêm 1 triệu tỷ đồng, giữ ổn định lãi suất vẫn là thách thức

Với tỷ trọng 42,3% tổng dư nợ, nhóm “big 4” dự kiến giải ngân thêm khoảng 1 triệu tỷ đồng năm 2026 nhằm hỗ trợ tăng trưởng. Tuy nhiên, áp lực giữ ổn định mặt bằng lãi suất cho vay vẫn hiện hữu, khi chi phí vốn gia tăng, lãi suất huy động tăng, đặc biệt chi phí dự phòng rủi ro nợ xấu chiếm tới 18 - 20% cơ cấu chi phí của ngành.
Sacombank có tân Phó Tổng giám đốc người Pháp

Sacombank có tân Phó Tổng giám đốc người Pháp

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank, mã Ck: STB) vừa công bố và trao quyết định bổ nhiệm ông Loic Faussier giữ chức Phó Tổng giám đốc, phụ trách mảng Quản trị rủi ro, pháp chế và tuân thủ.
PJICO đặt mục tiêu đạt gần 5.000 tỷ đồng phí bảo hiểm gốc, chia cổ tức 12%

PJICO đặt mục tiêu đạt gần 5.000 tỷ đồng phí bảo hiểm gốc, chia cổ tức 12%

Dù chịu tác động từ thiên tai, cạnh tranh từ thị trường bảo hiểm phi nhân thọ và biến động nội bộ, PJICO vẫn hoàn thành vượt nhiều chỉ tiêu năm 2025. Bước sang 2026, PJICO đặt mục tiêu doanh thu phí bảo hiểm gốc đạt 4.989 tỷ đồng, tăng 8%; lợi nhuận 324,5 tỷ đồng và cổ tức dự kiến 12%, đồng thời kiện toàn Hội đồng quản trị.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,080 17,380
Kim TT/AVPL 17,090 17,390
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,080 17,380
Nguyên Liệu 99.99 15,950 16,150
Nguyên Liệu 99.9 15,900 16,100
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,940 17,340
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,890 17,290
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,820 17,270
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 170,800 173,800
Hà Nội - PNJ 170,800 173,800
Đà Nẵng - PNJ 170,800 173,800
Miền Tây - PNJ 170,800 173,800
Tây Nguyên - PNJ 170,800 173,800
Đông Nam Bộ - PNJ 170,800 173,800
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,080 17,380
Miếng SJC Nghệ An 17,080 17,380
Miếng SJC Thái Bình 17,080 17,380
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,080 17,380
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,080 17,380
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,080 17,380
NL 99.90 15,770
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,800
Trang sức 99.9 16,570 17,270
Trang sức 99.99 16,580 17,280
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,708 1,738
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,708 17,382
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,708 17,383
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,706 1,736
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,706 1,737
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,686 1,721
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 163,896 170,396
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 120,338 129,238
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 10,829 11,719
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 96,241 105,141
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 91,594 100,494
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 63,023 71,923
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,708 1,738
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,708 1,738
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,708 1,738
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,708 1,738
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,708 1,738
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,708 1,738
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,708 1,738
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,708 1,738
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,708 1,738
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,708 1,738
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,708 1,738
Cập nhật: 31/03/2026 05:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17524 17797 18373
CAD 18395 18672 19291
CHF 32283 32666 33306
CNY 0 3470 3830
EUR 29639 29910 30937
GBP 34056 34446 35373
HKD 0 3231 3433
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14752 15340
SGD 19874 20156 20686
THB 717 780 833
USD (1,2) 26075 0 0
USD (5,10,20) 26116 0 0
USD (50,100) 26144 26164 26355
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,135 26,135 26,355
USD(1-2-5) 25,090 - -
USD(10-20) 25,090 - -
EUR 29,851 29,875 31,107
JPY 161 161.29 169.96
GBP 34,348 34,441 35,413
AUD 17,776 17,840 18,399
CAD 18,635 18,695 19,266
CHF 32,619 32,720 33,478
SGD 20,057 20,119 20,788
CNY - 3,789 3,907
HKD 3,305 3,315 3,432
KRW 16.06 16.75 18.11
THB 766.55 776.02 825.47
NZD 14,782 14,919 15,263
SEK - 2,732 2,812
DKK - 3,995 4,110
NOK - 2,650 2,727
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,124.95 - 6,873.65
TWD 744.81 - 896.72
SAR - 6,921.38 7,245.6
KWD - 83,780 88,593
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,105 26,135 26,355
EUR 29,739 29,858 31,031
GBP 34,274 34,412 35,411
HKD 3,293 3,306 3,421
CHF 32,398 32,528 33,434
JPY 160.83 161.48 168.70
AUD 17,701 17,772 18,354
SGD 20,085 20,166 20,740
THB 779 782 816
CAD 18,612 18,687 19,249
NZD 14,847 15,374
KRW 16.71 18.32
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26225 26225 26355
AUD 17709 17809 18735
CAD 18583 18683 19694
CHF 32534 32564 34139
CNY 3751.5 3776.5 3911.9
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29821 29851 31574
GBP 34360 34410 36168
HKD 0 3355 0
JPY 161.53 162.03 172.59
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 14862 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2790 0
SGD 20038 20168 20900
THB 0 746.6 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17080000 17080000 17380000
SBJ 15000000 15000000 17380000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,156 26,206 26,355
USD20 26,156 26,206 26,355
USD1 23,845 26,206 26,355
AUD 17,786 17,886 19,022
EUR 29,996 29,996 31,440
CAD 18,542 18,642 19,971
SGD 20,116 20,266 21,500
JPY 161.19 162.69 167.4
GBP 34,298 34,648 35,555
XAU 16,858,000 0 17,162,000
CNY 0 3,659 0
THB 0 776 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 31/03/2026 05:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80