Dấu hiệu phục hồi kinh tế qua tăng trưởng tín dụng quý I

Chí Tín
(TBTCO) - Tăng trưởng tín dụng trong quý I/2022 đã đạt tốc độ khá cao, gấp nhiều lần cùng kỳ năm trước. Đây có thể coi là tín hiệu tích cực không chỉ của hoạt động ngân hàng mà còn là tín hiệu lạc quan chung của nền kinh tế. Tuy vậy, một số chuyên gia vẫn cảnh báo không thể vì thế mà chủ quan, bởi một số yếu tố rủi ro vẫn hiện hữu.
aa

Tín hiệu lạc quan từ tín dụng

Theo Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, riêng quý I/2022, tín dụng cũng đã tăng 5,04%, mức tăng trưởng cao vượt trội so với tốc độ tăng trưởng cùng kỳ năm ngoái, cụ thể tốc độ tăng trưởng tín dụng chỉ đạt khoảng 1,26%. Với tốc độ tăng trưởng như trên, giới ngân hàng đang hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng 14% mà ngành ngân hàng đặt ra cho năm 2022.

Dấu hiệu phục hồi kinh tế  qua tăng trưởng tín dụng quý I

Về một số diễn biến khác trên thị trường tiền tệ, số liệu từ Tổng cục Thống kê cho thấy, tính đến cuối tháng 3/2021, tổng phương tiện thanh toán tăng 2,49% so với cuối năm 2021 (cùng thời điểm năm 2021 tăng 1,49%); huy động vốn của các tổ chức tín dụng tăng 2,15% (tăng 0,54%); tăng trưởng tín dụng của nền kinh tế đạt 4,03% (tăng 1,47%).

Theo kế hoạch của Ngân hàng Nhà nước đưa ra tại Chỉ thị số 01/CT-NHNN về tổ chức thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm của ngành Ngân hàng trong năm 2022, định hướng tín dụng năm 2022 tăng khoảng 14%, có điều chỉnh phù hợp với diễn biến, tình hình thực tế. Trên cơ sở đó, Ngân hàng Nhà nước cho biết cũng đặt ra mục tiêu điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa và các chính sách kinh tế vĩ mô khác nhằm kiểm soát lạm phát. Cụ thể, chỉ tiêu lạm phát năm 2022 bình quân khoảng 4%, từ đó góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ phục hồi tăng trưởng kinh tế, thích ứng kịp thời với diễn biến thị trường trong và ngoài nước.

Để đạt được mục tiêu này, Ngân hàng Nhà nước cho biết sẽ điều hành lãi suất theo diễn biến thị trường, tiếp tục khuyến khích các tổ chức tín dụng tiết giảm chi phí để phấn đấu giảm lãi suất cho vay, gia tăng các gói vay ưu đãi hỗ trợ các nhóm khách hàng bị ảnh hưởng nặng từ dịch bệnh.

Cần giữ quan điểm thận trọng, không chủ quan

Trong quý I/2022, lãi suất được điều hành phù hợp với cân đối vĩ mô, lạm phát và mục tiêu của chính sách tiền tệ. Động thái của Ngân hàng Nhà nước cho thấy cơ quan này vẫn tiếp tục giữ nguyên mức lãi suất điều hành. Theo đó, các tổ chức tín dụng vẫn đang duy trì nguồn vốn chi phí thấp để có điều kiện giảm lãi suất cho vay; giảm chi phí hoạt động, tập trung mọi nguồn lực để hỗ trợ và đồng hành cùng doanh nghiệp, người dân vượt qua khó khăn do ảnh hưởng của dịch bệnh.

Diễn biến mặt bằng lãi suất thời gian qua cho thấy, lãi suất tiền gửi bình quân bằng đồng Việt Nam của ngân hàng thương mại trong nước ở mức 0,1 đến 0,2%/năm đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 1 tháng; 3,3 đến

3,5%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng. Với các kỳ hạn khác, lãi suất đang ở mức khoảng 4,2 đến 5,7%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 6 tháng đến 12 tháng; 5,3 đến 6,5%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ trên 12 tháng đến 24 tháng và 6,1 đến 6,9% đối với kỳ hạn trên 24 tháng.

Lãi suất cho vay ngắn hạn bình quân bằng đồng Việt Nam đối với lĩnh vực ưu tiên khoảng 4,3%/năm, thấp hơn mức lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa theo quy định (4,5%/năm).

Ông Đào Minh Tú - Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước cho biết, tình hình dịch đến nay cũng đã giảm bớt rất nhiều và các doanh nghiệp cũng đang khôi phục tích cực, người dân cũng đang trở lại cuộc sống bình thường và có những hoạt động sản xuất kinh doanh, chính vì thế nhu cầu vốn lúc này tăng khá cao. Trong bối cảnh năm 2022 nền kinh tế đang dần phục hồi tích cực, Ngân hàng Nhà nước đã và sẽ tổ chức các hội nghị kết nối ngân hàng - doanh nghiệp tại các địa phương. Gần đây nhất là hội nghị tại Thanh Hóa, đây là chương trình đầu tiên trong năm nay và năm tới. Theo ông Tú, mục đích các hội nghị này trước hết là nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho phục hồi nền kinh tế, nhu cầu vốn của doanh nghiệp sau khó khăn bởi dịch.

Diễn biến chung là khá tích cực như phân tích ở trên. Tuy nhiên, cũng có một số chuyên gia đánh giá vẫn cần có quan điểm thận trọng để tránh những “hiệu ứng phụ” nếu tốc độ tăng trưởng tín dụng đi vào xu hướng nóng.

Ông Nguyễn Duy Thành - Trưởng phòng phân tích thuộc Công ty cổ phần Chứng khoán Pinetree cho biết, việc kiểm soát tránh tín dụng tăng trưởng quá nóng là cần thiết, bởi nếu tín dụng tăng quá cao có thể dẫn tới nhiều hệ lụy dài hạn. Bởi lẽ, nguy cơ lạm phát cao vẫn hiển hiện, kết hợp với việc kiểm soát dòng tiền nóng chảy vào thị trường đầu cơ như bất động sản, một số nhóm cổ phiếu... Nguy cơ nợ xấu gia tăng cũng vẫn còn, nên nếu dòng vốn từ tín dụng không được kiểm soát tốt đều có thể làm gia tăng rủi ro.

Chịu sức ép giá xăng dầu, nhưng CPI vẫn trong tầm kiểm soát trong quý I

Quý I/2022, giá xăng dầu được điều chỉnh 7 đợt, làm cho giá xăng A95 tăng 5.900 đồng/lít; giá xăng E5 tăng 5.780 đồng/lít và giá dầu diezen tăng 6.060 đồng/lít. Bình quân quý I/2022, giá xăng dầu trong nước tăng 48,81% so với cùng kỳ năm trước.

Tuy vậy tính chung quý I/2022, CPI vẫn chỉ tăng 1,92% so với cùng kỳ năm trước, thấp hơn mức tăng của quý I các năm 2017-2020.

Chí Tín

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay 3/11: USD hạ nhiệt, hai ngân hàng trung ương lớn dự kiến tăng lãi suất thêm 0,25 điểm phần trăm

Tỷ giá USD hôm nay 3/11: USD hạ nhiệt, hai ngân hàng trung ương lớn dự kiến tăng lãi suất thêm 0,25 điểm phần trăm

(TBTCO) - Sáng 3/11, tỷ giá trung tâm giảm 1 đồng, xuống 25.630 đồng; USD ngân hàng đồng loạt giảm, trong khi DXY nhích 0,02%, lên 101,8 điểm. Thị trường hướng sự chú ý tới cuộc bầu cử giữa kỳ tại Mỹ cùng quyết định lãi suất của các ngân hàng trung ương, với dự báo Ngân hàng Dự trữ Australia (RBA) và Ngân hàng Trung ương Anh (BoE) sẽ cùng tăng lãi suất thêm 25 điểm cơ bản.
Các ngân hàng niêm yết lãi hơn 310.000 tỷ đồng sau 9 tháng, kịch tính những màn bứt tốc và đổi ngôi

Các ngân hàng niêm yết lãi hơn 310.000 tỷ đồng sau 9 tháng, kịch tính những màn bứt tốc và đổi ngôi

(TBTCO) - Lợi nhuận trước thuế của 28 ngân hàng niêm yết đạt gần 312.000 tỷ đồng sau 9 tháng năm 2026, tăng 19,8% cùng kỳ. Đằng sau đà tăng trưởng là cuộc đua thứ hạng sôi động, với những màn bứt tốc, đổi ngôi ngay trong nhóm dẫn đầu. Tuy nhiên, bức tranh lợi nhuận vẫn phân hóa rõ nét khi 24 ngân hàng tăng lãi, 4 nhà băng đi lùi.
Mức hưởng bảo hiểm y tế 100% vẫn có thể phát sinh khoản tự chi trả

Mức hưởng bảo hiểm y tế 100% vẫn có thể phát sinh khoản tự chi trả

Mức hưởng bảo hiểm y tế (BHYT) 80%, 95% hoặc 100% được áp dụng đối với chi phí trong phạm vi được hưởng và theo điều kiện thanh toán của pháp luật BHYT, không mặc nhiên tính trên toàn bộ hóa đơn viện phí. Quyền lợi thực tế phụ thuộc vào phạm vi chi trả, danh mục thuốc, vật tư y tế, điều kiện thanh toán và hình thức khám, chữa bệnh.
SACOMBANK bổ nhiệm Quyền Tổng Giám đốc mới, đẩy nhanh tiến độ hoàn thành Đề án tái cơ cấu

SACOMBANK bổ nhiệm Quyền Tổng Giám đốc mới, đẩy nhanh tiến độ hoàn thành Đề án tái cơ cấu

(TBTCO) - SACOMBANK vừa bổ nhiệm bà Nguyễn Thị Kiều Anh giữ chức Quyền Tổng Giám đốc từ ngày 2/11/2026, thay ông Loic Faussier. Việc kiện toàn nhân sự cấp cao đặt trong bối cảnh ngân hàng đang đẩy nhanh tiến độ, sớm hoàn tất Đề án tái cơ cấu, nâng cao hiệu quả hoạt động.
Daiichi Life Việt Nam khai trương văn phòng và ra mắt nhận diện thương hiệu mới

Daiichi Life Việt Nam khai trương văn phòng và ra mắt nhận diện thương hiệu mới

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Daiichi Việt Nam (Daiichi Life Việt Nam) vừa chính thức ra mắt nhận diện thương hiệu mới tại Trụ sở chính TP. Hồ Chí Minh và khai trương Văn phòng Chi nhánh Hà Nội mới tại tòa nhà BRG Diamond Park Plaza.
Vạn dặm gắn kết: Khi yêu thương được gửi trao bằng hành động thiết thực

Vạn dặm gắn kết: Khi yêu thương được gửi trao bằng hành động thiết thực

(TBTCO) - Trên hành trình đồng hành cùng cộng đồng, những giá trị bền vững thường được tạo nên từ sự thấu hiểu nhu cầu địa phương và những hành động thiết thực.
Giá vàng hôm nay ngày 2/11: Giá vàng trong nước bật tăng 1 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 2/11: Giá vàng trong nước bật tăng 1 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Sáng ngày 2/11, giá vàng trong nước tăng ở cả phân khúc vàng miếng và vàng nhẫn. Cụ thể, đối với phân khúc vàng miếng, giá vàng miếng tại DOJI, SJC và PNJ tăng 1 triệu đồng/lượng, giao dịch ở mức 137 - 140 triệu đồng/lượng.
Đầu tư tài chính giữ nhịp lợi nhuận MVI Life trước khi đổi chủ, “khoác áo” Asahi Life

Đầu tư tài chính giữ nhịp lợi nhuận MVI Life trước khi đổi chủ, “khoác áo” Asahi Life

Asahi Mutual Life (Nhật Bản) vừa hoàn tất mua lại 100% vốn MVI Life, đồng thời đổi tên doanh nghiệp thành Asahi Life. Thương vụ đánh dấu bước ngoặt mới trong hành trình nhiều lần thay đổi chủ sở hữu và thương hiệu của doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ này. Nửa đầu năm 2026, doanh nghiệp lãi trước thuế 191,2 tỷ đồng, với danh mục đầu tư hơn 16.300 tỷ đồng.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 134,900 ▲900K 138,900 ▲900K
Hà Nội - PNJ 134,900 ▲900K 138,900 ▲900K
Đà Nẵng - PNJ 134,900 ▲900K 138,900 ▲900K
Miền Tây - PNJ 134,900 ▲900K 138,900 ▲900K
Tây Nguyên - PNJ 134,900 ▲900K 138,900 ▲900K
Đông Nam Bộ - PNJ 134,900 ▲900K 138,900 ▲900K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,760 ▲60K 14,060 ▲60K
Miếng SJC Nghệ An 13,760 ▲60K 14,060 ▲60K
Miếng SJC Thái Bình 13,760 ▲60K 14,060 ▲60K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,530 ▲30K 13,930 ▲30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,530 ▲30K 13,930 ▲30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,530 ▲30K 13,930 ▲30K
Trang sức 99.9 13,210 ▲30K 13,810 ▲30K
Trang sức 99.99 13,220 ▲30K 13,820 ▲30K
Vàng 99.9 12,650
Vàng 99.99 12,800
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,376 ▲1239K 1,406 ▲1266K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,376 ▲1239K 14,062 ▲60K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,376 ▲1239K 14,063 ▲60K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,337 ▲9K 1,377 ▲9K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,337 ▲9K 1,378 ▲9K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,317 ▲9K 1,367 ▲9K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 128,347 ▲892K 135,347 ▲892K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 92,885 ▲83664K 102,685 ▲92484K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 83,315 ▲612K 93,115 ▲612K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 73,745 ▲549K 83,545 ▲549K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 70,054 ▲525K 79,854 ▲525K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 4,736 ▼42248K 5,716 ▼51068K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,376 ▲1239K 1,406 ▲1266K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,376 ▲1239K 1,406 ▲1266K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,376 ▲1239K 1,406 ▲1266K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,376 ▲1239K 1,406 ▲1266K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,376 ▲1239K 1,406 ▲1266K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,376 ▲1239K 1,406 ▲1266K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,376 ▲1239K 1,406 ▲1266K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,376 ▲1239K 1,406 ▲1266K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,376 ▲1239K 1,406 ▲1266K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,376 ▲1239K 1,406 ▲1266K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,376 ▲1239K 1,406 ▲1266K
Cập nhật: 03/11/2026 21:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17442 17715 18291
CAD 17922 18197 18816
CHF 30830 31207 31850
CNY 0 3818 3915
EUR 28183 28399 29479
GBP 33742 34131 35081
HKD 0 3153 3355
JPY 156 159 166
KRW 0 18 20
NZD 0 14177 14766
SGD 19575 19856 20425
THB 678 741 795
USD (1,2) 25501 0 0
USD (5,10,20) 25539 0 0
USD (50,100) 25566 25580 25950
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,570 25,570 25,950
USD(1-2-5) 24,548 - -
USD(10-20) 24,548 - -
EUR 28,258 28,281 29,627
JPY 158.56 158.85 168.49
GBP 33,935 34,027 35,209
AUD 17,608 17,672 18,350
CAD 18,096 18,154 18,827
CHF 31,146 31,243 32,167
SGD 19,692 19,753 20,531
CNY - 3,786 3,932
HKD 3,216 3,226 3,362
KRW 17.66 18.42 20.04
THB 727.64 736.63 788.6
NZD 14,150 14,281 14,707
SEK - 2,584 2,677
DKK - 3,791 3,926
NOK - 2,738 2,835
LAK - 0.87 1.21
MYR 5,905.28 - 6,666.31
TWD 708.96 - 859.03
SAR - 6,744.86 7,105.77
KWD - 81,365 86,591
AED - 6,759 7,285
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,560 25,590 25,970
EUR 28,249 28,391 29,619
GBP 33,915 34,085 35,120
HKD 3,212 3,231 3,349
CHF 30,918 31,073 32,022
JPY 158.43 160.03 168.01
AUD 17,663 17,788 18,384
SGD 19,698 19,877 20,473
THB 733 748 785
CAD 18,042 18,169 18,766
NZD 14,220 14,774
KRW 18.53 20.50
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25575 25575 25955
AUD 17613 17713 18644
CAD 18098 18198 19211
CHF 31098 31128 32701
CNY 3802 3827 3962.1
CZK 0 1130 0
DKK 0 3845 0
EUR 28376 28406 30131
GBP 34071 34121 35879
HKD 0 3300 0
JPY 159.39 159.89 170.44
KHR 0 6.097 0
KRW 0 19 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6450 0
NOK 0 2778 0
NZD 0 14277 0
PHP 0 373 0
SEK 0 2605 0
SGD 19735 19865 20586
THB 0 708.2 0
TWD 0 785 0
SJC 9999 13760000 13760000 14060000
SBJ 12000000 12000000 14060000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,451 25,571 25,870
USD20 25,421 25,571 25,870
USD1 25,401 25,571 25,870
AUD 17,560 17,710 18,878
EUR 28,159 28,259 29,920
CAD 18,031 18,131 19,439
SGD 19,805 19,955 20,801
JPY 160.07 161.57 167.15
GBP 33,919 34,069 35,466
XAU 13,818,000 0 14,122,000
CNY 0 3,777 0
THB 0 737 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 03/11/2026 21:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30