Doanh nghiệp bảo hiểm tích cực hỗ trợ, bồi thường cho khách hàng bị thiệt hại do bão

Hồng Chi
(TBTCO) - Bão số 3 gây tổn thất nặng nề về người, tài sản và dự báo còn tiếp tục gia tăng. Đại diện các doanh nghiệp bảo hiểm cho biết, đã và đang tích cực phối hợp với các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan để tiến hành xác định thiệt hại và tạm ứng, chi trả bồi thường cho khách hàng nhanh nhất.
aa
Doanh nghiệp bảo hiểm tích cực hỗ trợ, bồi thường cho khách hàng bị thiệt hại do bão
Bảo hiểm PVI ghi nhận hơn 500 vụ tổn thất về bảo hiểm tài sản. Ảnh tư liệu

Dự tính bồi thường hàng nghìn tỷ đồng

Đại diện Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam cho biết, thực hiện Công văn số 1202/QLBH-PNT ngày 09/9/2024 của Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm về việc báo cáo tình hình thiệt hại và bồi thường bảo hiểm do cơn bão số 3 gây ra, Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam đã có công văn đôn đốc các hội viên của Hiệp hội nhanh chóng, chủ động giải quyết quyền lợi bảo hiểm cho các khách hàng bị thiệt hại do theo hợp đồng bảo hiểm và kịp thời báo cáo thông tin theo chỉ đạo.

Các doanh nghiệp bảo hiểm đã khẩn trương, tích cực thực hiện giải quyết quyền lợi bảo hiểm, đồng thời cử đại diện xuống tận hiện trường để nắm bắt thông tin thiệt hại, thăm hỏi khách hàng. Cho đến thời điểm hiện nay, thiệt hại sơ bộ là khá lớn, một số địa bàn đang ngập sâu trong lũ như Thái Nguyên, Yên Bái, Lào Cai, Tuyên Quang… số liệu về thiệt hại vẫn chưa thể thống kê đầy đủ, chính xác.

Theo đại diện Bảo hiểm Bảo Việt, tính đến sáng ngày 10/9/2024, Bảo hiểm Bảo Việt đã ghi nhận tổng cộng 437 vụ yêu cầu bồi thường liên quan đến bão số 3. Để khắc phục hậu quả cơn bão số 3, với cam kết đảm bảo quyền lợi bảo hiểm và hỗ trợ khách hàng vượt qua khó khăn, Bảo hiểm Bảo Việt đã ứng xử linh hoạt và nhanh chóng quy trình bồi thường để kịp thời đáp ứng nhu cầu cấp bách của khách hàng.

Đại diện Bảo hiểm PVI cho biết, tính đến chiều ngày 11/9/2024, Bảo hiểm PVI đã ghi nhận hơn 500 vụ tổn thất về bảo hiểm tài sản, ước tổng mức khiếu nại tổn thất hơn 2.000 tỷ đồng (không bao gồm tổn thất về bảo hiểm xe cơ giới và con người).

Theo đại diện Bảo hiểm PJICO cho biết, ngay sau cơn bão, Bảo hiểm PJICO đã khẩn trương tiến hành công tác giám định tổn thất để kịp thời hỗ trợ khách hàng khắc phục thiệt hại. Tuy nhiên, do sức tàn phá của cơn bão quá lớn, tính đến ngày 10/9/2024, theo thống kê chưa đầy đủ, Bảo hiểm PJICO đã tiếp nhận trên 500 vụ tổn thất liên quan tới các nghiệp vụ xe cơ giới, tài sản, hàng hải…, ước tính thiệt hại hàng trăm tỷ đồng.

Đại diện Bảo hiểm BIC cho biết, thông qua các đơn vị thành viên trên toàn quốc và Hotline 1900 9456, BIC đã ghi nhận gần 500 vụ tổn thất, trong đó có 16 vụ tổn thất về bảo hiểm hàng hải, hơn 250 vụ tổn thất về bảo hiểm tài sản kỹ thuật, hơn 180 vụ tổn thất bảo hiểm xe cơ giới. Tổng số tiền bồi thường ước tính gần 200 tỷ đồng. Số liệu thiệt hại vẫn đang được Bảo hiểm BIC tiếp tục cập nhật.

Còn theo đại diện AIA Việt Nam, thông qua các văn phòng và đội ngũ kinh doanh tại các địa bàn, AIA Việt Nam ghi nhận có 5 khách hàng không may tử vong, trong đó có 4 khách hàng tại Hải Dương và 1 khách hàng tại Quảng Ninh. Tổng quyền lợi bảo hiểm của 5 khách hàng tại AIA Việt Nam là khoảng 6,5 tỷ đồng. Hiện AIA Việt Nam đã hoàn tất thủ tục và đã chi trả quyền lợi bảo hiểm cho thân nhân của 5 khách hàng.

Một số doanh nghiệp khác như Bảo hiểm VNI ghi nhận hơn 200 vụ tổn thất; Bảo hiểm BSH ghi nhận 100 vụ tổn thất về tài sản, 250 vụ tổn thất về xe cơ giới; Bảo hiểm Fubon ghi nhận 102 vụ tổn thất về bảo hiểm tài sản, thiệt hại ước tính 69,7 tỷ đồng, số tiền bảo hiểm ước 31,9 tỷ đồng; Bảo hiểm Sun Life có 1 khách hàng tử vong, ước chi trả 260 triệu đồng…

Hỗ trợ khách hàng giải quyết quyền lợi bảo hiểm nhanh nhất

Đại diện Bảo hiểm PVI cho biết, đây có thể là tổn thất lịch sử không mong muốn của ngành bảo hiểm Việt Nam nói chung và Bảo hiểm PVI nói riêng, tuy nhiên, đại diện Bảo hiểm PVI cho biết, với tiềm lực tài chính vững vàng, dự phòng bồi thường đầy đủ và kinh nghiệm xử lý tổn thất chuyên nghiệp, Bảo hiểm PVI sẽ đảm bảo quyền lợi tối đa cho khách hàng với thời gian nhanh nhất.

Bảo hiểm PVI cũng lưu ý với khách hàng thông báo cho công ty bảo hiểm qua điện thoại, email, hoặc các kênh liên lạc chính thức phù hợp các thông tin ban đầu như: Địa điểm xảy ra sự cố, mô tả ngắn gọn về thiệt hại; ảnh chụp hiện trường thiệt hại ban đầu (nếu có). Giám định viên của Bảo hiểm PVI hoặc đơn vị giám định được chỉ định sẽ tiếp cận hiện trường để trao đổi chia sẻ thông tin, kiểm tra hiện trường đánh giá tổn thất, đồng thời kết hợp hướng dẫn khách hàng cung cấp hồ sơ chi tiết.

Đại diện Bảo hiểm PJICO cho biết, ngay trước và trong cơn bão, công ty đã kịp thời chỉ đạo các đơn vị tại địa phương hướng dẫn khách hàng có phương án bảo vệ tài sản, con người, đồng thời cử cán bộ túc trực thường xuyên hỗ trợ kịp thời khách hàng bị thiệt hại do bão lụt. Trước những tổn thất lớn từ bão lũ, đại diện Bảo hiểm PJICO cam kết dành mọi nguồn lực ưu tiên để xử lý các tổn thất cho khách hàng một cách nhanh nhất.

Đối với bảo hiểm sức khỏe, Bảo hiểm PJICO đã kịp thời tới thăm, chia sẻ mất mát với gia đình khách hàng và tiến hành bồi thường ngay.

Đại diện Bảo hiểm BIC cho biết, công ty chia sẻ sâu sắc với khách hàng và người dân trước những thiệt hại nặng nề do bão gây ra, đồng thời cam kết tập trung mọi nguồn lực để hỗ trợ, đồng hành cùng khách hàng nhanh chóng khắc phục những hậu quả sau bão, sẵn sàng chi trả bồi thường nhanh chóng.

Đại diện các doanh nghiệp bảo hiểm cho biết, với mục tiêu đặt khách hàng là trung tâm, các doanh nghiệp bảo hiểm đã và đang tích cực tăng cường công tác thẩm định và giải quyết quyền lợi một cách nhanh chóng, giúp khách hàng sớm vượt qua khó khăn, ổn định cuộc sống.

Doanh nghiệp bảo hiểm ủng hộ 500 triệu đồng đến các địa phương bị thiệt hại do bão số 3

Thông qua Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam đã đại diện các doanh nghiệp bảo hiểm ủng hộ số tiền 500 triệu đồng đến các tỉnh, thành phố bị thiệt hại do cơn bão số 3 gây ra, chung tay cùng cả nước hỗ trợ người dân sớm ổn định cuộc sống.

Hồng Chi

Đọc thêm

Bùng nổ ưu đãi lớn dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa tại VietinBank

Bùng nổ ưu đãi lớn dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa tại VietinBank

(TBTCO) - Chào đón các khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME) mới trong năm 2026, VietinBank triển khai loạt ưu đãi “kép” cho cả dịch vụ mở tài khoản eKYC, tiền gửi và tài trợ thương mại.
Ngân hàng có thể “né” áp lực vượt trần tỷ lệ CDR 85%, khi tuân thủ sớm 100% nhiều chuẩn Basel III

Ngân hàng có thể “né” áp lực vượt trần tỷ lệ CDR 85%, khi tuân thủ sớm 100% nhiều chuẩn Basel III

Theo đánh giá của nhóm phân tích ACBS, việc chuyển từ tỷ lệ LDR sang CDR có thể khiến nhiều ngân hàng vượt ngưỡng 85%, song tác động tới thanh khoản và tăng trưởng tín dụng được cho là không quá lớn. Bởi ngân hàng có thể lựa chọn áp dụng tỷ lệ CDR hoặc tuân thủ sớm các chuẩn Basel III như LCR và NSFR ở mức 100%, qua đó không cần tuân thủ tỷ lệ CDR.
Tỷ giá USD hôm nay (11/5): Tỷ giá trung tâm tăng, USD tự do tiếp đà giảm

Tỷ giá USD hôm nay (11/5): Tỷ giá trung tâm tăng, USD tự do tiếp đà giảm

(TBTCO) - Trong phiên đầu tuần sáng ngày 11/5, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 25.118 đồng, tăng 6 đồng, trong khi USD tự do giảm 30 đồng, xuống 26.420 - 26.470 VND/USD. Chỉ số DXY ở mức 97,9 điểm, khi căng thẳng Trung Đông có dấu hiệu hạ nhiệt, song thị trường vẫn thận trọng trước những bất định về khả năng đạt được thỏa thuận ngừng bắn lâu dài giữa Mỹ và Iran.
Tỷ giá USD hôm nay (9/5): USD tự do lao dốc gần 300 đồng tuần qua, DXY suy yếu lùi về dưới 98 điểm

Tỷ giá USD hôm nay (9/5): USD tự do lao dốc gần 300 đồng tuần qua, DXY suy yếu lùi về dưới 98 điểm

(TBTCO) - Sáng ngày 9/5, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 25.112 đồng trong phiên cuối tuần, trong khi USD tự do giảm sâu gần 300 đồng sau một tuần. Chỉ số DXY chốt tuần tại 97,86 điểm, giảm 0,19%, khi căng thẳng Trung Đông có tín hiệu hạ nhiệt, dù vẫn nhiều bất định để đạt thỏa thuận ngừng bắn lâu dài giữa Mỹ và Iran.
Chứng khoán MBS dự báo áp lực lên tỷ giá quý II/2026, mức biến động quanh 26.350 - 26.700 đồng

Chứng khoán MBS dự báo áp lực lên tỷ giá quý II/2026, mức biến động quanh 26.350 - 26.700 đồng

(TBTCO) - Theo đánh giá của Chứng khoán MBS, tỷ giá USD/VND tháng 4/2026 tương đối ổn định, tuy nhiên, áp lực vẫn hiện hữu khi giá dầu neo cao do căng thẳng Trung Đông tiếp tục thúc đẩy đà tăng đồng USD, Fed dự báo trì hoãn giảm lãi suất hết năm 2027 và thặng dư thương mại trong nước thu hẹp. Tỷ giá USD quý II/2026 dự báo dao động quanh 26.350 - 26.700 VND/USD.
Giá vàng hôm nay ngày 9/5: Giá vàng trong nước neo quanh ngưỡng 164,5 - 167,5 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 9/5: Giá vàng trong nước neo quanh ngưỡng 164,5 - 167,5 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng ngày 9/5 đi ngang quanh ngưỡng 164,5 - 167,5 triệu đồng/lượng. Trong khi đó, giá vàng thế giới tiếp tục dao động ở vùng cao trước các yếu tố địa chính trị và kỳ vọng lãi suất của Fed.
Thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch MBV

Thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch MBV

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch (PGD) trực thuộc.
Thị trường tiền tệ tuần 4 - 8/5: Tỷ giá USD tự do mất mốc 26.500 đồng, bơm tiền mạnh khi lãi suất qua đêm vượt 7%

Thị trường tiền tệ tuần 4 - 8/5: Tỷ giá USD tự do mất mốc 26.500 đồng, bơm tiền mạnh khi lãi suất qua đêm vượt 7%

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 4 - 8/5 cho thấy, tỷ giá trung tâm chỉ giảm nhẹ 1 đồng, trong khi USD tự do lao dốc tới 290 đồng, mất mốc 26.500 VND/USD. Trong bối cảnh áp lực tỷ giá hạ nhiệt nhờ DXY suy yếu, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng 5.831 tỷ đồng qua kênh OMO, sau khi lãi suất liên ngân hàng qua đêm có thời điểm vọt lên 7% đầu tuần.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,220 16,520
Kim TT/AVPL 16,220 16,520
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,220 16,520
Nguyên Liệu 99.99 15,240 15,440
Nguyên Liệu 99.9 15,190 15,390
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,020 16,420
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,970 16,370
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,900 16,350
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 162,200 165,200
Hà Nội - PNJ 162,200 165,200
Đà Nẵng - PNJ 162,200 165,200
Miền Tây - PNJ 162,200 165,200
Tây Nguyên - PNJ 162,200 165,200
Đông Nam Bộ - PNJ 162,200 165,200
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,220 16,520
Miếng SJC Nghệ An 16,220 16,520
Miếng SJC Thái Bình 16,220 16,520
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,220 16,520
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,220 16,520
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,220 16,520
NL 99.90 15,070
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,120
Trang sức 99.9 15,710 16,410
Trang sức 99.99 15,720 16,420
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 1,652
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,622 16,522
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,622 16,523
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,617 1,647
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,617 1,648
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,598 1,633
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 155,183 161,683
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 113,737 122,637
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 102,305 111,205
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 90,873 99,773
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 86,463 95,363
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 59,353 68,253
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 1,652
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 1,652
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 1,652
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 1,652
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 1,652
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 1,652
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 1,652
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 1,652
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 1,652
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 1,652
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 1,652
Cập nhật: 12/05/2026 02:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18508 18785 19360
CAD 18720 18998 19613
CHF 33135 33521 34161
CNY 0 3832 3924
EUR 30334 30608 31632
GBP 34984 35378 36308
HKD 0 3231 3433
JPY 160 164 171
KRW 0 16 18
NZD 0 15332 15919
SGD 20183 20467 20990
THB 727 790 843
USD (1,2) 26057 0 0
USD (5,10,20) 26098 0 0
USD (50,100) 26127 26146 26373
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,123 26,123 26,373
USD(1-2-5) 25,079 - -
USD(10-20) 25,079 - -
EUR 30,507 30,531 31,827
JPY 163.47 163.76 172.76
GBP 35,220 35,315 36,352
AUD 18,751 18,819 19,433
CAD 18,933 18,994 19,595
CHF 33,489 33,593 34,402
SGD 20,354 20,417 21,118
CNY - 3,809 3,934
HKD 3,303 3,313 3,434
KRW 16.52 17.23 18.65
THB 775.61 785.19 835.94
NZD 15,351 15,494 15,880
SEK - 2,806 2,891
DKK - 4,082 4,205
NOK - 2,822 2,907
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,278.17 - 7,052.17
TWD 758.72 - 914.54
SAR - 6,914.01 7,245.8
KWD - 83,853 88,772
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,113 26,133 26,373
EUR 30,412 30,534 31,718
GBP 35,165 35,306 36,318
HKD 3,294 3,307 3,422
CHF 33,244 33,378 34,322
JPY 163.72 164.38 171.86
AUD 18,691 18,766 19,358
SGD 20,403 20,485 21,073
THB 794 797 832
CAD 18,884 18,960 19,535
NZD 15,424 15,960
KRW 17.16 18.86
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26209 26209 26373
AUD 18703 18803 19726
CAD 18907 19007 20021
CHF 33405 33435 35014
CNY 3813.5 3838.5 3973.6
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30531 30561 32283
GBP 35303 35353 37114
HKD 0 3355 0
JPY 164.06 164.56 175.07
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.6 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2772 0
NZD 0 15452 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20351 20481 21214
THB 0 756.7 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16220000 16220000 16520000
SBJ 14000000 14000000 16520000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,130 26,180 26,373
USD20 26,130 26,180 26,373
USD1 26,130 26,180 26,373
AUD 18,723 18,823 19,950
EUR 30,647 30,647 32,090
CAD 18,815 18,915 20,243
SGD 20,428 20,578 21,490
JPY 164.57 166.07 170.77
GBP 35,157 35,507 36,656
XAU 16,448,000 0 16,752,000
CNY 0 3,718 0
THB 0 795 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 12/05/2026 02:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80