Doanh nghiệp cần lên kế hoạch ứng phó sớm với thuế carbon

(TBTCO) - Trao đổi với phóng viên TBTCVN, Ths. Phan Minh Hòa - giảng viên kinh tế Đại học RMIT, cho rằng trong xu hướng ngày càng nhiều quốc gia đánh thuế carbon với các mặt hàng xuất khẩu; nếu chậm chân, các sản phẩm của Việt Nam sẽ khó cạnh tranh. Doanh nghiệp cần lên kế hoạch ứng phó sớm. Với Việt Nam, tác động trước mắt sẽ là đối với những mặt hàng xuất khẩu sang EU.
aa
Doanh nghiệp cần lên kế hoạch ứng phó sớm với thuế carbon
Nguồn: Báo cáo đánh giá tác động của cơ chế điều chỉnh biên giới carbon của EU và khuyến nghị đối với Việt Nam. Nguồn: Đồ họa: Phương Anh

PV: Hiện nay, xu hướng đánh thuế carbon với các hàng hóa nhập khẩu ngày càng phổ biến, trong đó có các thị trường xuất khẩu chủ lực của Việt Nam như EU, Hoa Kỳ… Theo bà, điều này tác động thế nào tới hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam?

Ths. Phan Minh Hòa: Thuế carbon với hàng nhập khẩu là một công cụ chính sách mới mà Liên minh châu Âu (EU) là nơi đầu tiên thực hiện. Theo Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM), EU sẽ đánh thuế carbon đối với tất cả hàng hóa xuất khẩu sang thị trường này, dựa trên cường độ phát thải khí nhà kính, trong quy trình sản xuất tại nước xuất khẩu. CBAM đã bắt đầu từ ngày 1/10/2023 với giai đoạn chuyển tiếp và đến 2034 sẽ chính thức vận hành toàn bộ.

Bên cạnh EU, Chính phủ Anh cũng đã tham vấn về CBAM cuối tháng 3/2023 và dự kiến chính thức áp dụng đánh thuế này từ 2026, trùng với mốc của EU, nhằm tránh viễn cảnh các sản phẩm nhiều hàm lượng carbon sẽ chuyển hướng xuất khẩu từ EU vào Anh.

Hoa Kỳ cũng đã và đang cân nhắc việc đánh thuế carbon hàng nhập khẩu trong suốt một thập kỷ qua và các thảo luận gần đây trước những diễn biến từ EU lại nóng lại. Nhật Bản cũng có kế hoạch áp dụng thuế các bon với các nhà nhập khẩu nhiên liệu hóa thạch như các công ty năng lượng, lọc dầu, sản xuất thép, bắt đầu từ năm tài khóa 2028 - 2029.

Doanh nghiệp cần lên kế hoạch ứng phó sớm với thuế carbon
Ths. Phan Minh Hòa

Với Việt Nam, tác động trước mắt sẽ là đối với những mặt hàng xuất khẩu sang EU. Hiện tại, đối tượng điều chỉnh ban đầu của CBAM là 6 mặt hàng: sắt thép, xi măng, phân bón, nhôm, điện và hydro, trong đó 4 mặt hàng Việt Nam có khả năng xuất khẩu.

Cụ thể, ngành thép và nhôm, nơi EU chiếm tỷ trọng trong xuất khẩu lần lượt khoảng 18% và 7% tổng xuất khẩu sẽ bị ảnh hưởng nhiều hơn. Với xi măng, tỷ trọng này chỉ là 1% và với phân bón, kim ngạch xuất khẩu chỉ khoảng 1 triệu USD nên ảnh hưởng sẽ không đáng kể.

Trong “Báo cáo đánh giá tác động của cơ chế điều chỉnh biên giới carbon của EU và khuyến nghị đối với Việt Nam”, các tác giả đánh giá tác động của CBAM hiện tại chưa lớn, kết quả mô hình cho thấy sản lượng thép giảm khoảng 0,8% vào năm 2030, xuất khẩu giảm 3,7% (khi xuất khẩu thép sang EU giảm thì xuất khẩu sang các thị trường khác tăng bù lại). Tương tự, với ngành nhôm, sản lượng sẽ giảm 0,5% và xuất khẩu giảm 4,3% cùng kỳ.

Tuy nhiên nhìn rộng ra, trong tương lai các mặt hàng mà CBAM của EU điều chỉnh có thể sẽ được mở rộng hơn (như sứ, bột giấy, giấy, nhựa…) và các thị trường khác như Hoa Kỳ, Nhật Bản… cũng có thể sẽ tiếp bước EU áp dụng thuế carbon với hàng nhập khẩu, khi đó tác động sẽ lớn hơn.

PV: Có thể thấy trong xu hướng ngày càng nhiều quốc gia đánh thuế carbon với các mặt hàng xuất khẩu. Nếu chậm chân, các sản phẩm của Việt Nam sẽ khó cạnh tranh, thậm chí vấp phải các rào cản tại những thị trường xuất khẩu. Vậy theo bà, các doanh nghiệp (DN) cần phải làm gì để ứng phó với thuế carbon?

Tạo cơ hội, động lực cải cách cho các doanh nghiệp Việt

Bên cạnh những thách thức trong ngắn hạn, theo Ths. Phan Minh Hòa, về dài hạn, thuế carbon với hàng nhập khẩu sẽ tạo cơ hội, động lực cải cách cho các doanh nghiệp Việt Nam cũng như các nhà hoạch định chính sách, hướng đến mục tiêu trung hòa carbon (phát thải ròng bằng 0) vào năm 2050 mà Việt Nam đã cam kết.

Ths. Phan Minh Hòa: Trước mắt, các DN trong 4 nhóm ngành sắt thép, nhôm, xi măng và phân bón xuất khẩu sang EU cần nâng cao nhận thức về các yêu cầu của CBAM và tác động có thể xảy ra, đồng thời cân nhắc những chi phí để tuân thủ CBAM. Những DN chưa thuộc diện điều chỉnh của CBAM nhưng có nguy cơ cao vẫn cần theo dõi cập nhật chính sách này của EU cũng như của các quốc gia khác.

Tiếp theo, DN cần lên kế hoạch ứng phó sớm, rà soát chuỗi cung ứng sản phẩm, chuyển đổi sản xuất xanh (như sử dụng năng lượng mặt trời, năng lượng gió mà Việt Nam còn rất nhiều tiềm năng); kiểm soát chặt chẽ và xây dựng báo cáo phát thải; chuẩn bị đầy đủ dữ liệu, chia sẻ thông tin với chính phủ để phát triển hệ thống dữ liệu phát thải quốc gia của Việt Nam; sẵn sàng cho các yêu cầu về báo cáo kiểm kê khí nhà kính.

Ngoài ra, DN cần hợp tác với nhà nhập khẩu, với các nhà cung ứng và chính phủ. Việc chuyển đổi sản xuất không phải là câu chuyện của từng DN riêng lẻ, khi một đơn vị cung ứng giảm phát thải, các DN trong chuỗi hoạt động cũng sẽ đến gần hơn với mục tiêu phát thải ròng bằng 0. Khi có mạng lưới DN cùng nỗ lực giảm phát thải, trung hòa carbon gắn kết với nhau, các DN sẽ có thêm lợi thế cạnh tranh và cơ hội mới.

DN cũng nên tích cực tham vấn với Chính phủ trong việc xây dựng các chính sách như định giá carbon và thúc đẩy sử dụng năng lượng tái tạo và tham gia vào các chương trình đào tạo nâng cao năng lực.

 03 nhiệm vụ trọng tâm của tăng trưởng xanh tại Việt Nam  gồm: Giảm phát thải khí nhà kính, xanh hóa sản xuất, xanh hóa lối sống và tiêu dùng bền vững.

PV: Chuyển đổi sản xuất, giảm phát thải carbon hoặc trao đổi tín chỉ carbon đối với các DN lớn có tiềm lực tài chính đã là một thách thức, nhưng điều này càng khó khăn hơn với các DN nhỏ và vừa. Vậy theo bà, cần có những hỗ trợ như thế nào cho các DN trong câu chuyện này?

Ths. Phan Minh Hòa: Việt Nam nên tích cực tham gia đối thoại với các đối tác như EU để đàm phán, tìm kiếm những miễn trừ, ưu đãi có thể với các nước đang phát triển, tranh thủ sự hỗ trợ kỹ thuật từ các nước phát triển để thích ứng với những luật lệ mới. Việt Nam cũng cần thúc đẩy hợp tác với các nước xuất khẩu khác để tăng cường vị thế trong đàm phán.

Về mặt khung chính sách trong nước, Việt Nam đã có thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế bảo vệ môi trường và các loại phí môi trường đối với khai thác khoáng sản từ năm 2011. Chúng ta cần cập nhật những chính sách này, xây dựng và ban hành thuế carbon và phát triển thị trường tín chỉ carbon trong nước để DN có thể mua bán, từ đó tạo nguồn thu khuyến khích DN sản xuất xanh.

Đồng thời, Nhà nước cần có ưu đãi cho đầu tư mới của DN vào nghiên cứu và phát triển các công nghệ mới thân thiện với môi trường, khuyến khích đầu tư vào năng lượng tái tạo và tiết kiệm nhiên liệu. Nguồn thu từ thuế carbon cần được phân bổ đúng vào mục tiêu tài trợ DN và xã hội bảo vệ môi trường.

Ngoài ra, để hỗ trợ DN nâng cao nhận thức, Nhà nước có thể xây dựng một đầu mối phối hợp giữa các bộ ngành, cung cấp thông tin cụ thể hướng dẫn DN tuân thủ những quy định mới, đào tạo nâng cao năng lực của DN và nhận thức của xã hội về vấn đề này.

PV: Xin cảm ơn bà!

Tiêu chuẩn và trách nhiệm tài chính xanh với doanh nghiệp Việt ngày càng gia tăng

Ngày 15/1/2020, EU đã thông qua Thỏa thuận Xanh nhằm ứng phó với các vấn đề khẩn cấp về khí hậu toàn cầu đến năm 2050. Mặc dù Thỏa thuận Xanh EU là chính sách áp dụng trong nội bộ EU nhưng lại có tác động tới các nước xuất khẩu vào EU, trong đó có Việt Nam.

Theo rà soát của Trung tâm WTO và hội nhập (VCCI), đến hiện tại với khoảng gần 60 hành động thực thi thì thỏa thuận này tác động đến các DN xuất khẩu của Việt Nam ở 3 góc độ chính.

Thứ nhất, thỏa thuận làm gia tăng các tiêu chuẩn xanh, bền vững đối với hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam sang EU (các tiêu chuẩn kỹ thuật xanh mới, hoặc sửa đổi, nâng cấp yêu cầu hoặc mở rộng diện áp dụng của các tiêu chuẩn hiện có).

Hai là, làm gia tăng trách nhiệm tài chính xanh (dưới dạng các khoản phí bổ sung phải nộp, các loại chứng chỉ trung hòa carbon phải mua…) của một số nhà sản xuất liên quan đến sản phẩm có khả năng gây ra ô nhiễm môi trường trong quá trình sản xuất khi nhập khẩu vào EU.

Cuối cùng là làm gia tăng trách nhiệm giải trình về nguồn gốc sản phẩm cũng như về các yêu cầu liên quan đến tác động của quá trình sản xuất, sử dụng, thải bỏ sản phẩm đối với môi trường.

Thảo Miên

Đọc thêm

Cơ hội cho Việt Nam hút dòng vốn quốc tế dài hạn

Cơ hội cho Việt Nam hút dòng vốn quốc tế dài hạn

(TBTCO) - "Việc chính thức gia nhập bộ chỉ số thị trường mới nổi của FTSE Russell từ ngày 21/9 mở ra cơ hội để thị trường chứng khoán Việt Nam tiếp cận sâu rộng hơn với các nhà đầu tư toàn cầu, thu hút dòng vốn quốc tế dài hạn và nâng cao vị thế trên thị trường vốn quốc tế” - Đây là khẳng định của ông Kojima Kazunobu- Tư vấn của Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA) tại Việt Nam, chuyên gia từ Viện nghiên cứu của Tập đoàn Daiwa khi trả lời phỏng vấn của báo Tài chính - Đầu tư xung quanh sự kiện này.
Chất lượng tài sản trở thành “chìa khóa” hút vốn bất động sản

Chất lượng tài sản trở thành “chìa khóa” hút vốn bất động sản

(TBTCO) - Thị trường bất động sản đang bước vào giai đoạn phục hồi theo hướng chọn lọc, khi dòng vốn ngày càng ưu tiên những tài sản có pháp lý hoàn chỉnh, khả năng tạo dòng tiền và chất lượng vận hành tốt. Trao đổi với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư, bà Nguyễn Lê Dung - Trưởng Bộ phận Tư vấn Đầu tư, Savills Hà Nội cho rằng, để nâng cao khả năng tiếp cận vốn, doanh nghiệp cần chú trọng cấu trúc vốn, minh bạch quản trị và tích hợp ESG ngay từ quá trình phát triển tài sản.
Quản trị công ty phải trở thành năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

Quản trị công ty phải trở thành năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

(TBTCO) - Khi thị trường chứng khoán Việt Nam bước vào giai đoạn mới sau nâng hạng, chất lượng quản trị công ty ngày càng được các nhà đầu tư, đặc biệt là các quỹ đầu tư quốc tế quan tâm. Trao đổi với phóng viên, bà Hà Thu Thanh - Chủ tịch Viện Thành viên Hội đồng quản trị Việt Nam (VIOD) cho rằng, doanh nghiệp cần thay đổi nhận thức, coi quản trị công ty là một năng lực cạnh tranh thay vì chỉ là hệ thống để đáp ứng yêu cầu tuân thủ.
Giám sát hiệu quả là nền tảng củng cố niềm tin sau nâng hạng

Giám sát hiệu quả là nền tảng củng cố niềm tin sau nâng hạng

(TBTCO) - Theo ông Vũ Duy Khánh - Giám đốc Trung tâm Phân tích, Công ty Chứng khoán Smart Invest (AAS), thị trường sau nâng hạng đòi hỏi năng lực giám sát tương xứng với quy mô và mức độ phức tạp của giao dịch. Minh bạch thông tin và chất lượng vận hành cũng cần tiếp tục được nâng cao.
Nguyên nhân nào dẫn đến số lượng lớn người nộp thuế ở trạng thái 03, 06?

Nguyên nhân nào dẫn đến số lượng lớn người nộp thuế ở trạng thái 03, 06?

(TBTCO) - Nguyên nhân nào dẫn đến tình trạng người nộp thuế ngừng hoạt động nhưng chưa hoàn thành thủ tục chấm dứt hiệu lực mã số thuế (trạng thái 03) và không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký kinh doanh (trạng thái 06)? Phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư đã có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Đức Huy - Phó ban Nghiệp vụ (Cục Thuế) để làm rõ vấn đề này.
Mở dư địa thu hút dòng vốn chất lượng cao từ Pháp

Mở dư địa thu hút dòng vốn chất lượng cao từ Pháp

(TBTCO) - Với thế mạnh về hạ tầng, năng lượng và dịch vụ kỹ thuật cao, doanh nghiệp Pháp có nhiều dư địa mở rộng đầu tư tại Việt Nam. Theo TS. Bùi Duy Tùng - Giảng viên cấp cao ngành Kinh tế, Đại học RMIT, hoàn thiện thể chế, phát triển nhân lực và tiến trình phê chuẩn EVIPA sẽ là những yếu tố quan trọng củng cố niềm tin của nhà đầu tư.
Doanh nghiệp muốn khỏe thì phải nâng cao năng lực nội sinh

Doanh nghiệp muốn khỏe thì phải nâng cao năng lực nội sinh

(TBTCO) - TS. Mạc Quốc Anh - Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Hà Nội (HANOISME) nhấn mạnh, chính sách giảm thuế, phí thời gian qua đã giúp doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ tăng cơ hội phục hồi và phát triển.
Chiến dịch làm sạch mã số thuế: Giúp hơn 3.000 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động

Chiến dịch làm sạch mã số thuế: Giúp hơn 3.000 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động

(TBTCO) - Từ tháng 7/2026, ngành Thuế triển khai chiến dịch cao điểm làm sạch mã số thuế doanh nghiệp nhằm rà soát, chuẩn hóa dữ liệu quản lý thuế. Thông qua chiến dịch, đã có hơn 3.000 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động. Phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư vừa có cuộc trao đổi với bà Nguyễn Thị Thu - Trưởng ban Nghiệp vụ thuế (Cục Thuế) để giúp cộng đồng doanh nghiệp và bạn đọc hiểu rõ hơn về mục đích, ý nghĩa cũng như các giải pháp hỗ trợ của cơ quan thuế trong chiến dịch này.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều