Năm 2026: Phép thử của năng lực cải cách thể chế
PV: Thưa ông, ông đánh giá thế nào về triển vọng kinh tế Việt Nam năm 2026?
![]() |
| GS.TS Tô Trung Thành |
GS.TS Tô Trung Thành: Điều đầu tiên phải nhấn mạnh là bối cảnh kinh tế thế giới năm 2026 dự báo kém thuận lợi hơn năm 2025. Tăng trưởng toàn cầu có xu hướng chững lại, với mức dự báo của các tổ chức quốc tế khá khác nhau, nhưng nhìn chung đều thấp hơn mức trung bình trước đại dịch.
Đối với Việt Nam, trong ấn phẩm “Đánh giá Kinh tế Việt Nam thường niên 2025” (công bố ngày 24/4), nhóm nghiên cứu chúng tôi đánh giá triển vọng vẫn theo hướng tích cực, nhưng là triển vọng tích cực có điều kiện. Năm 2026 được xác định là năm khởi đầu cho giai đoạn phát triển mới, với mục tiêu tăng trưởng GDP từ 10% trở lên. Đây là mục tiêu rất tham vọng, phản ánh quyết tâm chính trị rất lớn trong việc tạo đà tăng tốc ngay từ đầu chu kỳ phát triển 2026 - 2030.
Tuy nhiên, mục tiêu cao không tự động chuyển hóa thành kết quả cao. Để đạt mục tiêu ấy, Việt Nam không thể tiếp tục dựa chủ yếu vào mô hình tăng trưởng cũ, tức là dựa nhiều vào mở rộng vốn, vào gia công lắp ráp và FDI. Vì vậy, triển vọng tích cực của năm 2026 gắn chặt với yêu cầu phải chuyển dịch mô hình tăng trưởng theo chiều sâu hơn.
PV: Cải cách thể chế là vấn đề được nhấn mạnh nhiều lần trong ấn phẩm này. Vì sao yếu tố này lại được đặt ở vị trí trung tâm của triển vọng năm 2026?
GS.TS Tô Trung Thành: Trong ngắn hạn, chúng ta có thể sử dụng một số công cụ để hỗ trợ tăng trưởng, nhưng về trung và dài hạn, động lực căn bản nhất vẫn là thể chế. Hệ thống các nghị quyết chiến lược ban hành trong năm 2025 đã tạo nền tảng cho một chương trình cải cách toàn diện, hướng tới hoàn thiện thể chế kinh tế và định hình mô hình tăng trưởng mới cho Việt Nam. Nếu được triển khai đồng bộ, hiệu quả, đây sẽ là nền tảng để cải thiện năng suất, nâng chất lượng môi trường đầu tư kinh doanh và mở rộng dư địa tăng trưởng dài hạn.
Nói cách khác, năm 2026 không chỉ là câu chuyện điều hành kinh tế vĩ mô theo nghĩa hẹp, mà còn là năm kiểm nghiệm năng lực cải cách thể chế. Việt Nam có tranh thủ được cửa sổ cơ hội từ tái cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu hay không, có thu hút được làn sóng đầu tư công nghệ cao hay không, có thúc đẩy được kinh tế số và nâng sức cạnh tranh nội sinh hay không, điều đó phụ thuộc rất lớn vào khả năng triển khai hiệu quả các cải cách thể chế, nâng cao chất lượng chính sách.
![]() |
| Năm 2026 được xác định là năm khởi đầu cho giai đoạn phát triển mới, với mục tiêu tăng trưởng GDP từ 10% trở lên. Ảnh tư liệu |
PV: Trong phiên họp Quốc hội gần đây, nhiều ý kiến cảnh báo dư địa chính sách tiền tệ đã bị thu hẹp rất nhiều. Vậy bài toán phối hợp giữa chính sách tài khóa và tiền tệ trong năm 2026 nên được giải quyết ra sao để vừa thúc đẩy tăng trưởng, vừa kiểm soát lạm phát?
GS.TS Tô Trung Thành: Đúng vậy, chính sách tiền tệ của chúng ta đang trong trạng thái dư địa rất hẹp do áp lực lạm phát, biến động tỷ giá và những rủi ro nội tại của hệ thống khi tỷ lệ tín dụng/GDP đã quá cao.
Trong bối cảnh đó, chính sách tài khóa phải bước lên đóng vai trò chủ đạo trong thúc đẩy tăng trưởng. Nhưng đây cũng không phải là mở rộng theo kiểu dàn trải. Chúng ta cần chuyển tư duy sang “đầu tư công kiến tạo”, tức là từ bỏ việc phân bổ vốn dàn trải để tập trung vào hạ tầng xanh, công nghệ số và xây dựng “bệ phóng” cho các startup như khu công nghệ cao.
Việc mở rộng tài khóa là cần thiết, và chúng ta có thể chấp nhận mức thâm hụt ngân sách cao hơn một chút, kết hợp với tăng huy động trái phiếu Chính phủ để thúc đẩy tăng trưởng. Đồng thời, giải ngân đầu tư công phải dựa trên hệ thống tiêu chí định lượng khách quan, gắn với năng lực hấp thụ của từng địa phương. Đây chính là điều kiện để tài khóa thực sự phát huy vai trò dẫn dắt tăng trưởng trong giai đoạn tới.
PV: Kinh tế số đang được kỳ vọng là mũi nhọn với mục tiêu đóng góp 14,5% GDP vào 2026 và 30% GDP vào năm 2030. Tuy nhiên, nhóm nghiên cứu của Đại học Kinh tế quốc dân cho rằng, kinh tế số của Việt Nam là mô hình “gia công cao cấp”. Xin ông phân tích rõ hơn?
GS.TS Tô Trung Thành: Đây là một điểm nghẽn mang tính cốt lõi mà chúng tôi đã mổ xẻ rất kỹ. Quy mô kinh tế số của Việt Nam năm 2025 đạt hơn 70 tỷ USD, chiếm khoảng 14,02% GDP. Tuy nhiên, hơn 60% giá trị này đến từ kinh tế số lõi và mô hình hiện tại đang hoạt động theo dạng “gia công cao cấp”.
| Theo GS.TS Tô Trung Thành, trong năm 2026, hai động lực trực tiếp nhất cho tăng trưởng vẫn là khu vực công nghiệp - xây dựng và khu vực dịch vụ. Nông nghiệp tiếp tục là trụ đỡ, dù không là khu vực tạo bứt phá, nhưng có ý nghĩa lớn về an ninh kinh tế và xã hội. Tuy nhiên, không chỉ động lực theo ngành, điều quan trọng hơn là động lực về chất lượng. Cụ thể, các chỉ tiêu như kinh tế số đóng góp khoảng 14,5% GDP và năng suất lao động tăng khoảng 8,5% được xác định là những biến số then chốt để bảo đảm tính bền vững của tăng trưởng. Nói cách khác, mục tiêu năm 2026 không chỉ là tăng trưởng nhanh hơn, mà phải là tăng trưởng dựa nhiều hơn vào công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và cải thiện năng suất. |
Nghịch lý nằm ở chỗ, khi cầu đối với sản phẩm số gia tăng, nó lại kích thích nhu cầu nhập khẩu đầu vào thay vì sản xuất nội địa. Doanh nghiệp FDI nắm giữ khâu gia công lắp ráp, trong khi các khâu mang lại giá trị cao như R&D, thiết kế công nghệ lõi ở nước ngoài. Hậu quả là, dòng tiền lan tỏa thay vì chảy vào túi doanh nghiệp Việt Nam thì lại chảy ra cho các nhà cung cấp linh kiện nước ngoài. Giá trị sản xuất thì ghi nhận ở Việt Nam, nhưng thu nhập thực tế của người lao động nội địa và phần thặng dư giữ lại là rất thấp. Chính sự đứt gãy này khiến thu nhập từ kinh tế số không lan tỏa tương xứng để thúc đẩy tiêu dùng bền vững.
PV: Với thực trạng như vậy, những chính sách nào cần được thực thi ngay để kinh tế số thực sự trở thành động lực cấu trúc cho kinh tế đất nước trong giai đoạn 2026 - 2030, thưa ông?
GS.TS Tô Trung Thành: Để hướng tới mục tiêu kinh tế số chiếm 30% GDP vào năm 2030, chúng ta không thể chỉ dừng ở việc số hóa các hoạt động hiện hữu, mà phải coi công nghệ số là nhân tố sản xuất cốt lõi. Mô hình phát triển cần dựa trên ba trụ cột chính:
Thứ nhất, kinh tế số lõi phải chuyển dịch dứt khoát từ gia công sang làm chủ công nghệ thông qua chiến lược “Make in Vietnam”. Chúng ta cần tập trung phát triển công nghệ lõi như công nghiệp bán dẫn, thiết bị 5G/6G và xây dựng hạ tầng dùng chung như điện toán đám mây và AI. Thay vì chạy đua nghiên cứu cơ bản, Việt Nam nên tập trung ứng dụng AI vào các ngành có sẵn tri thức.
Thứ hai, thúc đẩy số hóa sâu vào chuỗi giá trị của các ngành kinh tế truyền thống. Các ngành như tài chính, logistics, bán lẻ hay nông nghiệp cần tái cấu trúc vận hành dựa trên dữ liệu thời gian thực và AI, chứ không chỉ ứng dụng công nghệ trên bề mặt. Việc triển khai tài chính mở (Open Banking) hay nông nghiệp chính xác là những ví dụ điển hình.
Thứ ba, quản trị số phải trở thành nền tảng thể chế. Chúng ta phải chuyển từ chính quyền điện tử sang chính quyền số dựa trên dữ liệu liên thông giữa các bộ, ngành và địa phương, coi dữ liệu là tài nguyên chiến lược.
Cuối cùng, bên cạnh công nghệ, yếu tố con người và an ninh là then chốt. Cần đưa kỹ năng số, AI và vật liệu mới vào giáo dục đại học từ sớm, đồng thời lồng ghép giải pháp an ninh mạng vào thể chế với chế tài nghiêm khắc để bảo vệ lợi ích quốc gia và quyền riêng tư.
PV: Xin cảm ơn ông
Dành cho bạn
Đọc thêm
Tăng mạnh chế tài xử phạt buôn lậu thuốc lá để chống thất thu ngân sách
Kéo giảm ICOR: Nâng chất tăng trưởng từ đầu tư công
Cải cách thể chế, nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA
Sớm thành lập sàn vàng quốc gia để minh bạch thị trường
Bài cuối: Khó đảo chiều xu hướng thanh toán không dùng tiền mặt
Doanh nghiệp Hàn Quốc kỳ vọng nâng tầm hợp tác đầu tư với Việt Nam



