Dồn lực để đạt chỉ tiêu phát triển đối tượng bảo hiểm xã hội

Bách Lâm
(TBTCO) - Cận kề những ngày cuối năm, các đơn vị của ngành Bảo hiểm xã hội đã và đang dồn lực thực hiện nhiều giải pháp nhằm đạt các chỉ tiêu về phát triển đối tượng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế cũng như thu hồi các khoản nợ của bảo hiểm.
aa

Tạo mọi điều kiện để người dân tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế

Tại Hà Nội, gần đây nhất, ngày 26/11, Bảo hiểm Xã hội (BHXH) TP. Hà Nội đã phối hợp với Bưu điện TP. Hà Nội tổ chức Lễ ra quân tuyên truyền, vận động người dân tham gia BHXH tự nguyện, BHYT hộ gia đình. Hiện tại 30 quận, huyện của Thủ đô đã phủ khắp cán bộ thu với gần 1.000 điểm thu và 1.300 nhân viên tuyên truyền và phát triển bảo hiểm xã hội BHXH, bảo hiểm y tế (BHYT) hộ gia đình.

Ông Vũ Đức Thuật - Phó Giám đốc BHXH TP. Hà Nội cho biết, theo quy định tại Nghị quyết số 03 của HĐND TP. Hà Nội, từ ngày 1/8 - 31/12/2022 ngoài mức hỗ trợ của nhà nước, người tham gia BHXH tự nguyện còn được ngân sách thành phố hỗ trợ thêm % mức đóng theo mức chuẩn nghèo nông thôn.

Theo thống kê của BHXH TP. Hà Nội, tính đến ngày 31/10, số người tham gia BHXH tự nguyện là 68.350 người, tăng 13.779 người so với cùng kỳ năm 2021. Hiện trên địa bàn có 7.565.713 người đã tham gia BHYT, đạt tỷ lệ bao phủ 91,9%, tăng 249 nghìn người so với cùng kỳ năm 2021. Để đạt mục tiêu của năm 2022, BHXH TP. Hà Nội ngoài việc giao chỉ tiêu phát triển người tham gia BHXH tự nguyện, BHYT hộ gia đình cho các tổ chức dịch vụ thu BHXH, cũng đã chỉ đạo các đơn vị chủ động tham mưu quận, huyện ủy và chính quyền địa phương hỗ trợ thêm mức đóng BHXH cho người tham gia BHXH tự nguyện từ ngân sách huyện. Bên cạnh đó, kêu gọi các tổ chức, hội đoàn thể, doanh nghiệp, cá nhân, mạnh thường quân hỗ trợ kinh phí đóng BHXH tự nguyện cho người nghèo, cận nghèo, người có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn.

Cán bộ Bảo hiểm Xã hội Hà Nội và Bưu điện TP.Hà Nội ra quân tuyên truyền, vận động người dân tham gia BHXH tự nguyện. Ảnh: Hùng Hà
Cán bộ Bảo hiểm Xã hội Hà Nội và Bưu điện TP.Hà Nội ra quân tuyên truyền, vận động người dân tham gia BHXH tự nguyện. Ảnh: Hùng Hà

Tại tỉnh Hưng Yên, BHXH tỉnh thực hiện nhiều hình thức tuyên truyền linh hoạt và đa dạng đến với các tầng lớp nhân dân trên địa bàn, trong đó hình thức vận động trực tiếp theo mô hình nhóm nhỏ tại thôn, xóm được tập trung đẩy mạnh và phát huy hiệu quả. Tính đến hết tháng 10/2022, toàn tỉnh Hưng Yên có 13.177 người tham gia BHXH tự nguyện; 1.137.481 người tham gia BHYT; tăng 14.753 người (1,3%) so với tháng 12/2021; đạt 98,5% kế hoạch BHXH Việt Nam giao.

Về phía BHXH TP. Đà Nẵng cũng vừa phối hợp với Liên đoàn Lao động TP. Đà Nẵng tổ chức 3 hội nghị tuyên truyền, đối thoại chính sách pháp luật về BHXH, BHYT, BH thất nghiệp cho gần 600 lao động Công ty TNHH DaiWa Việt Nam. Thông qua hội nghị, nhiều thắc mắc của người lao động liên quan đến chính sách BHXH, BHYT, BH thất nghiệp đã được giải đáp kịp thời.

Ông Nguyễn Hùng Anh - Phó Giám đốc BHXH TP. Đà Nẵng cho biết, hội nghị đã góp phần nâng cao nhận thức, hiểu biết của người lao động (NLĐ) về chế độ, chính sách BHXH, BHYT, BH thất nghiệp và có thể tự bảo vệ lợi ích chính đáng của bản thân trong quá trình tham gia các quan hệ lao động.

Đối với tỉnh Trà Vinh, cơ quan BHXH tỉnh cũng vừa phối hợp với các đơn vị tổ chức hội nghị phát triển người tham gia BHXH tự nguyện, BHYT hộ gia đình. Tại hội nghị, đã thu hút nhiều người tham gia mới BHXH tự nguyện, BHYT hộ gia đình. Bà Nguyễn Thị Hiền - Phó Trưởng phòng Quản lý thu, BHXH tỉnh Trà Vinh cho biết, để phát triển đối tượng tham gia các loại hình bảo hiểm, cán bộ công chức BHXH tỉnh đã tư vấn cặn kẽ cho người dân lựa chọn mức đóng phù hợp với điều kiện kinh tế, thu nhập của từng gia đình, nhằm đảm bảo tính duy trì liên tục trong việc tham gia BHXH tự nguyện, BHYT hộ gia đình.

Đôn đốc, thu hồi nợ bảo hiểm xã hội

Bên cạnh việc phát triển đối tượng tham gia BHXH, BHYT, BH thất nghiệp, cơ quan BHXH địa phương cũng rốt ráo thu hồi nợ. Đơn cử, tại TP. Hồ Chí Minh, tình trạng nợ BHXH, BHYT hiện đang diễn ra khá nhiều. Số đơn vị, doanh nghiệp (DN) nợ từ 1 tháng trở lên đến gần 48.700 DN, chiếm 47,47%. Trước thực trạng trên, Liên đoàn Lao động thành phố Hồ Chí Minh cho biết sẽ tăng cường phối hợp với cơ quan BHXH để giám sát các DN nợ BHXH, có phương án giải quyết bảo đảm quyền lợi NLĐ…

Tại Thừa Thiên Huế, cơ quan BHXH tỉnh cho biết, đơn vị vừa ban hành văn bản gửi Cục Thuế tỉnh đề nghị quan tâm, phối hợp thực hiện đôn đốc, thu hồi nợ BHXH, BHYT, BH thất nghiệp trên địa bàn.

Cần tăng chế tài xử phạt doanh nghiệp trốn đóng bảo hiểm xã hội

Một trong những giải pháp nhằm hạn chế tình trạng chậm, nợ bảo hiểm xã hội mà Bảo hiểm Xã hội (BHXH) Việt Nam đề xuất đó là tăng chế tài xử phạt các doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp trốn đóng BHXH, lợi dụng các quy định của pháp luật để “lách” như giảm số lượng lao động so với số thực tế, giảm tiền lương ghi trong hợp đồng lao động so với lương thực nhận của người lao động…

Theo BHXH Thừa Thiên Huế, đến ngày 18/11/2022, trên địa bàn tỉnh có 412 doanh nghiệp chậm đóng tiền BHXH, BHYT, BH thất nghiệp với số tiền gần 74 tỷ đồng. Cơ quan BHXH đề nghị Cục Thuế tỉnh trong quá trình thực hiện công tác thanh kiểm tra về thuế yêu cầu đơn vị chuyển nộp kịp thời cho cơ quan BHXH số tiền còn nợ và đưa nội dung yêu cầu đơn vị thực hiện chuyển nộp đầy đủ số tiền phát sinh hàng tháng và số tiền còn nợ cho BHXH tỉnh vào kết luận thanh tra, kiểm tra của cơ quan thuế. Đồng thời, hàng tháng, Cục Thuế tỉnh thông báo cho BHXH tỉnh kết luận thanh tra, kiểm tra của cơ quan thuế đối với DN về lộ trình chuyển trả số tiền nợ BHXH, BHYT, BH thất nghiệp nói trên.

Theo Nghị định 12/2022/CP-NĐ ngày 17/1/2022 của Chính phủ, mức xử phạt đối với DN cho mỗi hành vi như trốn; chậm, nợ BHXH tối đa chỉ là 75 triệu đồng. Mức phạt này còn mang tính bình quân hóa, chưa đủ mức răn đe. Vì vậy, cần phải có chế tài cho việc chấp hành nộp phạt, bởi theo BHXH Việt Nam, từ năm 2019 đến nay, cơ quan BHXH mới chỉ thu được khoảng 38,6% tổng số tiền xử phạt hành chính.

Bách Lâm

Đọc thêm

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

(TBTCO) - Ngày 24/3/2026, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) chính thức khai trương trụ sở chính tại tòa nhà số 27 - 29 Lý Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội. Việc đặt trụ sở tại Thủ đô là bước triển khai quan trọng trong định hướng phát triển của ngân hàng đã được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông năm 2025.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngày 24/3, tại Hà Nội, Ngân hàng Đầu tư châu Âu (EIB) và Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã công bố thỏa thuận tài trợ trị giá 200 triệu EUR nhằm đẩy nhanh các dự án hành động vì khí hậu, môi trường và phát triển bền vững trên khắp Việt Nam.
PVI chi đậm cổ tức trên 770 tỷ đồng, kinh doanh vượt “bão” thiên tai

PVI chi đậm cổ tức trên 770 tỷ đồng, kinh doanh vượt “bão” thiên tai

PVI dự kiến tiếp tục chi đậm cổ tức gần 773 tỷ đồng, khi trình cổ đông phương án chia cổ tức năm 2025 ở mức 33%, gồm 23% bằng tiền mặt và 10% bằng cổ phiếu, sau khi ghi nhận kết quả kinh doanh tích cực. Năm 2025, công ty ghi dấu ấn với doanh thu hợp nhất lần đầu cán mốc 1 tỷ USD, nhiều chỉ tiêu vượt kế hoạch; đồng thời nâng tổng tài sản lên 44.512 tỷ đồng, tăng 41%.
Sửa quy định về xử phạt vi phạm hành chính lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm

Sửa quy định về xử phạt vi phạm hành chính lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm

(TBTCO) - Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 78/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 174/2024/NĐ-CP ngày 30/12/2024 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm, có hiệu lực thi hành từ 1/5/2025.
OCB đặt mục tiêu lãi kỷ lục gần 7.000 tỷ đồng, tín dụng tăng 15%

OCB đặt mục tiêu lãi kỷ lục gần 7.000 tỷ đồng, tín dụng tăng 15%

(TBTCO) - Ngân hàng OCB vừa thông qua kế hoạch kinh doanh năm 2026 với loạt chỉ tiêu tăng trưởng hai chữ số. Theo đó, ngân hàng đặt mục tiêu lợi nhuận trước thuế 6.960 tỷ đồng, tăng 39% và hướng tới mức cao nhất lịch sử. Dư nợ tín dụng thị trường 1 dự kiến đạt 235.875 tỷ đồng, tăng 15%; đồng thời kiểm soát tỷ lệ nợ xấu dưới 3%, đảm bảo tăng trưởng đi kèm an toàn.
ACB muốn lập công ty bảo hiểm vốn điều lệ 500 tỷ đồng

ACB muốn lập công ty bảo hiểm vốn điều lệ 500 tỷ đồng

(TBTCO) - Ngân hàng ACB vừa bổ sung tờ trình sửa đổi đề án thành lập công ty bảo hiểm phi nhân thọ tại Đại hội đồng cổ đông tới đây. Theo đó, ACB Insurance có vốn điều lệ dự kiến 500 tỷ đồng. Doanh nghiệp đặt mục tiêu sau 5 năm sẽ chiếm trên 1,5% thị phần nhờ tăng trưởng phí trên 50%/năm.
Bài toán điều hành chính sách tiền tệ trước "ẩn số kép"

Bài toán điều hành chính sách tiền tệ trước "ẩn số kép"

(TBTCO) - Theo TS. Nguyễn Trí Hiếu - Viện trưởng Viện Nghiên cứu và Phát triển Thị trường Tài chính và Bất động sản Toàn Cầu, căng thẳng tại Trung Đông khiến giá năng lượng tăng và tỷ giá chịu áp lực, kéo theo tác động tới mặt bằng giá trong nước. Nguy cơ "nhập khẩu lạm phát" gia tăng, đặt ra thách thức lớn cho điều hành chính sách tiền tệ.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,720 17,020
Kim TT/AVPL 16,730 17,030
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,720 17,020
Nguyên Liệu 99.99 15,800 16,000
Nguyên Liệu 99.9 15,750 15,950
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,400 16,800
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,350 16,750
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,280 16,730
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 167,000 170,000
Hà Nội - PNJ 167,000 170,000
Đà Nẵng - PNJ 167,000 170,000
Miền Tây - PNJ 167,000 170,000
Tây Nguyên - PNJ 167,000 170,000
Đông Nam Bộ - PNJ 167,000 170,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,720 17,020
Miếng SJC Nghệ An 16,720 17,020
Miếng SJC Thái Bình 16,720 17,020
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,720 17,020
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,720 17,020
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,720 17,020
NL 99.90 15,470
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,500
Trang sức 99.9 16,210 16,910
Trang sức 99.99 16,220 16,920
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 1,702
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,672 17,022
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,672 17,023
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 167 170
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 167 1,701
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 165 1,685
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 160,332 166,832
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 117,638 126,538
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 105,841 114,741
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 94,045 102,945
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 89,495 98,395
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 61,522 70,422
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 1,702
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 1,702
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 1,702
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 1,702
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 1,702
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 1,702
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 1,702
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 1,702
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 1,702
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 1,702
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 1,702
Cập nhật: 25/03/2026 01:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17826 18100 18676
CAD 18644 18922 19541
CHF 32844 33229 33866
CNY 0 3470 3830
EUR 29918 30191 31217
GBP 34509 34901 35831
HKD 0 3236 3438
JPY 159 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 15045 15631
SGD 20061 20343 20873
THB 724 788 841
USD (1,2) 26093 0 0
USD (5,10,20) 26135 0 0
USD (50,100) 26163 26183 26364
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,144 26,144 26,364
USD(1-2-5) 25,099 - -
USD(10-20) 25,099 - -
EUR 29,980 30,004 31,243
JPY 161.42 161.71 170.41
GBP 34,658 34,752 35,736
AUD 18,030 18,095 18,667
CAD 18,779 18,839 19,416
CHF 32,966 33,069 33,841
SGD 20,160 20,223 20,896
CNY - 3,762 3,862
HKD 3,292 3,302 3,420
KRW 16.23 16.93 18.31
THB 769.98 779.49 829.45
NZD 15,022 15,161 15,519
SEK - 2,762 2,842
DKK - 4,013 4,129
NOK - 2,643 2,720
LAK - 0.93 1.29
MYR 6,233.5 - 6,992.36
TWD 743.04 - 894.62
SAR - 6,894.8 7,218.37
KWD - 83,571 88,374
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,094 26,124 26,364
EUR 29,938 30,058 31,235
GBP 34,635 34,774 35,778
HKD 3,291 3,304 3,419
CHF 32,809 32,941 33,864
JPY 162.10 162.75 170.07
AUD 18,038 18,110 18,698
SGD 20,243 20,324 20,906
THB 787 790 825
CAD 18,800 18,876 19,448
NZD 15,131 15,662
KRW 16.84 18.48
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26216 26216 26364
AUD 18023 18123 19048
CAD 18834 18934 19949
CHF 33108 33138 34721
CNY 3766.3 3791.3 3926.5
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 30116 30146 31872
GBP 34833 34883 36636
HKD 0 3355 0
JPY 162.66 163.16 173.71
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15162 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20228 20358 21091
THB 0 754.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 16720000 16720000 17020000
SBJ 14000000 14000000 17020000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,184 26,234 26,364
USD20 26,184 26,234 26,364
USD1 26,184 26,234 26,364
AUD 18,061 18,161 19,270
EUR 30,221 30,221 31,640
CAD 18,757 18,857 20,170
SGD 20,297 20,447 21,350
JPY 162.99 164.49 169.1
GBP 34,704 35,054 35,928
XAU 16,488,000 0 16,792,000
CNY 0 3,673 0
THB 0 787 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 25/03/2026 01:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80