| Tận dụng ưu đãi từ các hiệp định thương mại để khai mở thị trường xuất khẩu gạo Tăng cường giải pháp thúc đẩy sản xuất, xuất khẩu gạo trong tình hình mới |
Thị trường mở rộng, chất lượng gạo nâng lên
Thông tin tại Hội nghị thúc đẩy xuất khẩu gạo năm 2026 do Bộ Công thương phối hợp với UBND TP. Cần Thơ tổ chức chiều 24/3, ông Nguyễn Anh Sơn - Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công thương) cho biết, tính đến hết ngày 15/3/2026, Việt Nam xuất khẩu khoảng 1,74 triệu tấn gạo, đạt giá trị 826,2 triệu USD.
So với cùng kỳ năm trước, lượng xuất khẩu tăng 2,3% nhưng giá trị giảm 8,7%, chủ yếu do giá xuất khẩu bình quân giảm 10,7%, còn khoảng 477,6 USD/tấn.
| Để giúp thương nhân giảm thiểu chi phí tuân thủ và tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động kinh doanh, Bộ Công thương đã xây dựng phần mềm hệ thống báo cáo của thương nhân. Tại hội nghị, đại diện Cục thương mại điện tử và Kinh tế số, Bộ Công thương đã giới thiệu phần mềm và hướng dẫn thương nhân thực hiện báo cáo trên môi trường điện tử. |
Trong cơ cấu thị trường, Philippines tiếp tục là đối tác lớn nhất khi nhập khẩu hơn 711.000 tấn, chiếm gần 56% tổng lượng xuất khẩu, tăng mạnh 30% so với cùng kỳ. Trung Quốc đứng thứ hai với mức tăng trưởng đột biến 143,7%, đạt hơn 178.000 tấn. Một số thị trường khác như Malaysia và Australia cũng ghi nhận mức tăng trưởng tích cực.
Ngược lại, khu vực châu Phi có dấu hiệu suy giảm rõ rệt khi nhiều thị trường truyền thống như Ghana, Bờ Biển Ngà hay Senegal đều giảm mạnh nhập khẩu. Điều này cho thấy sự dịch chuyển nhất định trong cơ cấu thị trường, đồng thời phản ánh những biến động về nhu cầu và cạnh tranh toàn cầu.
![]() |
| Các đại biểu tham dự hội nghị. Ảnh: Thảo Ly |
Đáng chú ý, gạo Việt Nam tiếp tục thâm nhập các thị trường “khó tính” như Nhật Bản, châu Âu. Dù sản lượng chưa lớn, nhưng đây là tín hiệu tích cực cho thấy chất lượng gạo ngày càng được nâng cao, đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe và tận dụng tốt các hiệp định thương mại tự do (FTA).
Về chủng loại, gạo trắng vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất với hơn 60%, tiếp đến là gạo thơm (khoảng 26%) và gạo nếp. Xu hướng chuyển dịch sang các dòng gạo chất lượng cao, gạo thơm, gạo đặc sản đang ngày càng rõ nét, phù hợp với chiến lược nâng cao giá trị gia tăng của ngành.
Ở góc độ sản xuất, nguồn cung năm 2026 được đánh giá khá dồi dào. Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, diện tích gieo trồng năm 2026 đạt hơn 7 triệu hecta, giảm 36.000ha, sản lượng ước đạt hơn 43 triệu tấn, tăng 12.000 tấn so với năm 2025. Lượng lúa hàng hóa phục vụ xuất khẩu đạt khoảng 15,5 triệu tấn, tương đương 7,7 triệu tấn gạo hàng hóa.
Chi phí logistics tăng vọt, doanh nghiệp đối mặt rủi ro
Dù nguồn cung và nhu cầu thị trường vẫn tích cực nhưng theo ông Nguyễn Anh Sơn, xung đột ở Trung Đông đã ảnh hưởng tới vận chuyển hàng hóa, trong đó có lúa gạo. Cụ thể, chi phí vận chuyển trong nước tăng cao (từ 20.000 lên 30.000 đồng trên 1 tấn lúa gạo) do giá dầu tăng.
Tình trạng thiếu hụt container rỗng phục vụ đóng hàng số lượng lớn gây khó khăn trong hoạt động xuất khẩu; các hãng tàu thường xuyên điều chỉnh giá cước, thay đổi lịch trình hoặc cắt giảm một số tuyến vận chuyển đến các khu vực Trung Đông, ảnh hưởng đến việc đặt chỗ tàu và container, đến tiến độ thực hiện hợp đồng xuất khẩu gạo.
Giá một số nguyên liệu đầu vào cũng tăng theo, điển hình như giá hạt nhựa sản xuất bao bì tăng khiến chi phí bao bì tăng 1.000 đồng/bao loại 50kg. Một số thương nhân gặp khó khăn trong hợp đồng do phải điều chỉnh tiến độ giao hàng, kéo dài thời gian thanh toán, làm phát sinh chi phí bảo quản hàng hóa.
Ngoài ra, xuất khẩu gạo Việt Nam còn đối diện một số thách thức khác, trong đó có áp lực cạnh tranh từ các quốc gia xuất khẩu gạo lớn như Thái Lan, Ấn Độ, Pakistan...
![]() |
| Tính đến hết ngày 15/3/2026, Việt Nam xuất khẩu khoảng 1,74 triệu tấn gạo. Ảnh minh họa |
Chính sách vào cuộc, tháo gỡ điểm nghẽn
Trước những thách thức nêu trên, Bộ Công thương đã ban hành Chỉ thị số 08 nhằm thúc đẩy sản xuất và xuất khẩu gạo trong tình hình mới. Chỉ thị yêu cầu các đơn vị, địa phương và doanh nghiệp triển khai đồng bộ các giải pháp, từ bảo đảm nguồn cung, nâng cao chất lượng đến mở rộng thị trường và kiểm soát rủi ro.
Đồng thời, Bộ cũng đang rà soát, hoàn thiện dự thảo nghị định thay thế Nghị định 107/2018/NĐ-CP, nhằm tạo hành lang pháp lý phù hợp hơn với thực tiễn, tháo gỡ các vướng mắc trong hoạt động kinh doanh xuất khẩu gạo.
Ông Sơn cũng đề nghị các doanh nghiệp khi ký kết hợp đồng lưu ý điều khoản hợp đồng liên quan đến logistics, chi phí bảo hiểm; đề nghị các địa phương vận động, khuyến khích bà con chuyển đổi mô hình trồng lúa gạo năng suất có thể thấp hơn nhưng chất lượng cao hơn phù hợp với các thị trường đòi hỏi cao.
Các doanh nghiệp xuất khẩu gạo trong nước đàm phán với doanh nghiệp nhập khẩu gạo để cùng chia sẻ rủi ro liên quan đến các chi phí và điều kiện bất khả kháng có thể phát sinh trong thời gian tới do tình hình thế giới hết sức phức tạp...
Ở góc độ địa phương, ông Vương Quốc Nam - Phó Chủ tịch UBND TP. Cần Thơ nhấn mạnh cần sớm tháo gỡ các rào cản về thủ tục hành chính, thuế và cơ chế thanh toán để bảo đảm dòng chảy hàng hóa không bị gián đoạn.
Địa phương cũng kiến nghị xem xét điều chỉnh một số quy định về thanh toán trong thu mua lúa gạo, đồng thời đề xuất xây dựng cơ chế dự trữ quốc gia linh hoạt hơn, như: Nhà nước có thể tham gia mua tạm trữ khi giá thấp và bán lại khi thị trường thuận lợi, vừa bảo đảm an ninh lương thực, vừa hỗ trợ nông dân và doanh nghiệp; tăng cường tín dụng ưu đãi theo thời vụ, hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận vốn thu mua tạm trữ cũng được xem là giải pháp quan trọng để giảm áp lực tài chính trong bối cảnh chi phí tăng cao...
Phát biểu kết luận hội nghị, Thứ trưởng Bộ Công thương Phan Thị Thắng nhấn mạnh thời cần tiếp tục bám sát diễn biến thị trường, điều hành linh hoạt hoạt động xuất khẩu gạo.
Thứ trưởng đề nghị rà soát việc thực hiện Chiến lược xuất khẩu gạo đến năm 2030, tăng cường phối hợp với địa phương trong tổ chức triển khai; đồng thời các doanh nghiệp cần chủ động kế hoạch, nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh.
Bên cạnh đó, cần đánh giá đầy đủ khả năng tận dụng các FTA, tăng cường phổ biến quy định và ưu đãi để địa phương, doanh nghiệp khai thác hiệu quả các thị trường tiềm năng. Đồng thời, yêu cầu các Thương vụ Việt Nam tại nước ngoài tiếp tục chủ động cung cấp thông tin thị trường, chính sách nhập khẩu, cảnh báo rủi ro và hỗ trợ kết nối giao thương cho doanh nghiệp.




