Dòng tiền dồi dào, nhưng khó “tràn sang" các kênh đầu cơ

Chí Tín
(TBTCO) - Tăng trưởng tín dụng phục hồi nhanh và các động thái về chính sách tiền tệ tiếp tục nới lỏng cho thấy dòng tiền trong nền kinh tế đang ở trạng thái khá dồi dào. Tuy nhiên, khả năng dòng tiền "rò rỉ" sang các kênh đầu cơ tài sản cũng khó xảy ra.
aa
Dòng tiền dồi dào, nhưng khó “tràn sang

Dù dồi dào nhưng dòng tiền vẫn chưa có tín hiệu “bùng nổ” ở các kênh đầu cơ tài sản. Ảnh: TL

Giao chỉ tiêu sớm

Một trong những điểm đáng chú ý trong năm 2024 là động thái giao chỉ tiêu tín dụng khá sớm của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cho các ngân hàng thương mại và theo đó đây cũng là yếu tố thuận lợi cho các ngân hàng vào cuộc sớm trong việc triển khai các hoạt động cho vay.

Theo Chỉ thị số 01/CT-NHNN về tổ chức thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm của ngành Ngân hàng trong năm 2024, NHNN xác định mục tiêu và nhiệm vụ tổng quát của ngành Ngân hàng trong năm 2024, cụ thể điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, kịp thời, hiệu quả, phối hợp đồng bộ, hài hòa, chặt chẽ với chính sách tài khóa và các chính sách kinh tế vĩ mô khác góp phần hỗ trợ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Điều hành tăng trưởng tín dụng đồng thời đảm bảo mục tiêu kiểm soát lạm phát

Trong nội dung Chỉ thị số 01/CT-NHNN của NHNN, mục tiêu tăng trưởng tín dụng năm 2024 là 15% được đưa ra trên cơ sở có điều chỉnh phù hợp với diễn biến, tình hình thực tế; nghiên cứu đổi mới công tác điều hành tăng trưởng tín dụng.

Ngoài ra, mục tiêu tín dụng cũng được đặt trong mục tiêu chung về điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, hiệu quả; trong đó có mục tiêu kiểm soát lạm phát bình quân khoảng 4 - 4,5%.

Theo đó, mục tiêu điều hành tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống các tổ chức tín dung năm 2024 khoảng 15%, có điều chỉnh phù hợp với diễn biến, tình hình thực tế. Tại chỉ thị này, Thống đốc NHNN đã giao các đơn vị thuộc NHNN, các NHNN chi nhánh tỉnh, thành phố, các tổ chức tín dụng triển khai các nhiệm vụ cụ thể, quy định rõ sản phẩm dự kiến và thời hạn hoàn thành.

Thực chất trước khi ban hành Chỉ thị 01, chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng 15% đã được các ngân hàng thương mại nắm được từ rất sớm bởi ngay trong ngày cuối cùng của năm 2023, NHNN đã có văn bản số 10167/NHNN-CSTT gửi các tổ chức tín dụng về kế hoạch tăng trưởng tín dụng năm 2024.

Khó có “lỗ hổng” cho các kênh đầu cơ

Trước đó, tín dụng năm 2023 sau một giai đoạn tăng chậm đã tăng tốc khá nhanh vào cuối năm. Theo đó, tốc độ tăng trưởng tín dụng cả năm vẫn đạt tới 13,71%, chỉ thấp hơn chút ít so với mục tiêu tăng trưởng 14%. Diễn biến dòng vốn cuối năm 2023 cũng như những động thái điều hành chính sách tiền tệ của NHNN đầu năm 2024 cho thấy, dòng tiền đang tiếp tục được "mở van" đưa vào nền kinh tế.

Mặc dù dòng tiền trong trạng thái dồi dào, nhưng mục tiêu dòng tiền cũng được tập trung vào các kênh sản xuất kinh doanh, nhằm hỗ trợ phát triển kinh tế. Tại hội nghị ngành Ngân hàng đầu năm 2024, Thống đốc NHNN Nguyễn Thị Hồng cho biết, NHNN tiếp tục chỉ đạo các tổ chức tín dụng hướng tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên và các động lực tăng trưởng (đầu tư, tiêu dùng, xuất khẩu) theo chủ trương của Chính phủ; kiểm soát chặt chẽ tín dụng vào các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro.

Dòng tiền dồi dào, nhưng khó “tràn sang" các kênh đầu cơ
Ảnh minh họa

Thực tế diễn biến thị trường thời gian qua và giai đoạn hiện tại cho thấy, dòng tiền chưa có tín hiệu “bùng nổ” ở các kênh đầu cơ tài sản. Cuối năm 2023, thị trường vàng có một số thời điểm nổi sóng, nhưng sau đó đã lặng sóng nhanh chóng bởi cả yếu tố bên ngoài khi giá vàng thế giới cũng giảm nhiệt và cả yếu tố bên trong khi Chính phủ đã có những chỉ đạo kịp thời trong việc yêu cầu kiểm soát chặt chẽ thị trường vàng. Cụ thể, sau những biến động mạnh của giá vàng hồi cuối tháng 12/2023, Thủ tướng Chính phủ đã có Công điện số 1426/CĐ-TTg ngày 27/12/2023 gửi Thống đốc NHNN và một số bộ, ngành liên quan chỉ đạo về các giải pháp quản lý thị trường vàng. Sau đó từ đầu tháng 1/2024 đến nay, thị trường vàng đã đi vào ổn định và hiện cũng khó có cơ hội cho hoạt động đầu cơ đối với tài sản này.

Trong khi đó, diễn biến thị trường bất động sản cũng thấy nhu cầu thị trường đang hướng đến các phân khúc có giá trị thực, cơ hội cho dòng tiền đầu cơ cũng khó xuất hiện trong năm 2024. Báo cáo triển vọng thị trường bất động sản của CBRE cho biết, dự báo số căn mở bán mới, số căn bán được đối với sản phẩm nhà ở gắn liền với đất trong năm 2024 có thể cải thiện chút ít so với năm 2023, nhưng vẫn ở mức thấp hơn nhiều so với bình quân giai đoạn năm 2019 – 2022.

Với thị trường chứng khoán, chỉ số VN-Index thời gian qua diễn biến theo xu hướng tăng, nhưng mức tăng điểm vừa phải không có sự bùng nổ về dòng tiền. Trong đó, chỉ số chứng khoán tăng chủ yếu do ảnh hưởng của sự tăng giá một số cổ phiếu có vốn hóa lớn, được kỳ vọng về khả năng tăng trưởng lợi nhuận. Ông Đinh Quang Hinh - Trưởng Bộ phận vĩ mô và chiến lược thị trường, Khối Phân tích Công ty chứng khoán VNDirect, sau một giai đoạn tăng, xu hướng giằng co của thị trường chứng khoán có thể tiếp diễn khi dòng tiền chưa có sự đồng thuận và lan tỏa giữa các nhóm ngành. Đà tăng thời gian qua của các chỉ số chứng khoán chủ yếu được thúc đẩy bởi nhóm cổ phiếu ngân hàng, trong khi các ngành khác chưa có dấu hiệu hút được dòng tiền tham gia.

Dự báo của SSI về tín dụng và triển vọng ngành Ngân hàng năm 2024

Theo phân tích của Công ty chứng khoán SSI, năm 2024 vẫn tiếp tục là một năm đầy thách thức đối với ngành ngân hàng về chất lượng tài sản. Mặc dù vậy, tình hình chung sẽ có sự cải thiện so với năm 2023, phần lớn là nhờ vào chi phí vốn đã giảm về mức thấp hơn nhiều so với 2023 và lợi nhuận trước dự phòng có sự cải thiện giúp các ngân hàng có dư địa để tạo một bộ đệm dự phòng tốt hơn.

Trong kịch bản cơ sở, tăng trưởng GDP có thể phục hồi trong khoảng từ 6,0% - 6,5%, lãi suất trung bình cả năm duy trì quanh mức thấp nhất trong thập kỷ trở lại đây và NHNN sẽ có ứng phó linh hoạt trong cơ chế ghi nhận và trích lập dự phòng nợ xấu. Theo ước tính của SSI, tăng trưởng lợi nhuận trước thuế năm 2024 của các ngân hàng thuộc phạm vi nghiên cứu dự kiến đạt 15,4% so với cùng kỳ, đây là mức tăng trưởng tốt hơn so với mức 4,6% trong năm 2023.

Với kịch bản kinh tế vĩ mô dự kiến cải thiện hơn trong năm 2024, SSI kỳ vọng tăng trưởng tín dụng sẽ phục hồi lên mức 14%. Điều này được hỗ trợ một phần bởi lãi suất cho vay giảm. Dư địa tăng trưởng có thể sẽ đến từ khối doanh nghiệp như ngành xây dựng cơ sở hạ tầng; doanh nghiệp sản xuất và FDI; và các ngành nghề được ưu tiên (như nông nghiệp, xuất khẩu, công nghệ cao, SME, công nghiệp bổ trợ).

Ngoài ra, các chủ đầu tư bất động sản có nhu cầu vay tái cấp vốn cho các lô trái phiếu đến hạn năm 2024 với tổng giá trị khoảng 200 nghìn tỷ đồng (tương đương 20% dư nợ tín dung cho chủ đầu tư bất động sản trong năm 2023). Đây cũng có thể là một động lực quan trọng của tăng trưởng tín dụng năm 2024, trừ trường hợp cơ quan quản lý tiếp tục thanh tra và kiểm soát nghiêm ngặt các khoản cấp tín dụng chéo đối với các bên liên quan và các công ty vệ tinh.

Trong năm 2024, kỳ vọng lãi suất sẽ tiếp tục duy trì ở mức thấp để hỗ trợ nền kinh tế, nhưng có thể sẽ có thời điểm mà lãi suất tiền gửi nhích nhẹ khi tín dụng tăng tốc (có thể là vào nửa cuối năm 2024), hoặc áp lực giữ chân khách hàng của các tổ chức tín dụng nhỏ do các khoản tiền gửi lãi suất cao đáo hạn có thể chuyển sang các ngân hàng lớn hơn. Tuy nhiên, lãi suất huy động bình quân trong năm 2024 dự kiến sẽ không có chênh lệch quá lớn so với mức hiện tại.

Theo đó, chi phí vốn của các ngân hàng dự kiến thấp hơn, tỷ lệ tiền gửi không kỳ hạn cải thiện và các khoản vay mới có thời hạn dài hơn sẽ giúp giảm bớt áp lực về biên thu nhập lãi thuần cho các tổ chức tín dụng trong năm 2024.

Chí Tín

Đọc thêm

Mở thêm thẻ, thêm ưu đãi cho chủ thẻ tín dụng BAC A BANK Mastercard

Mở thêm thẻ, thêm ưu đãi cho chủ thẻ tín dụng BAC A BANK Mastercard

(TBTCO) - Nhằm khuyến khích chủ thẻ tín dụng quốc tế BAC A BANK gia tăng trải nghiệm, khai thác tối đa ưu đãi chi tiêu và lan tỏa lợi ích thiết thực khi thường xuyên sử dụng thẻ, BAC A BANK triển khai ưu đãi phí thường niên dành cho chủ thẻ tín dụng khi phát hành thẻ chính thứ hai và thẻ phụ.
Quỹ Bảo hiểm xe cơ giới hỗ trợ 45 triệu đồng cho gia đình nạn nhân tai nạn giao thông tại Thanh Hóa

Quỹ Bảo hiểm xe cơ giới hỗ trợ 45 triệu đồng cho gia đình nạn nhân tai nạn giao thông tại Thanh Hóa

(TBTCO) - Tại UBND phường Hải Lĩnh, tỉnh Thanh Hóa, Quỹ Bảo hiểm xe cơ giới - Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam vừa phối hợp với các đơn vị liên quan trao hỗ trợ nhân đạo số tiền 45 triệu đồng cho gia đình nạn nhân Cao Xuân Lực, trú tại TDP Sơn Hải, phường Hải Lĩnh, tỉnh Thanh Hóa.
Thông tư số 96/2026/TT-BTC sửa nhiều quy định về hoa hồng đại lý, cơ sở tính phí nhiều loại bảo hiểm

Thông tư số 96/2026/TT-BTC sửa nhiều quy định về hoa hồng đại lý, cơ sở tính phí nhiều loại bảo hiểm

Bộ Tài chính vừa ban hành Thông tư số 96/2026/TT-BTC, sửa đổi nhiều quy định về kinh doanh bảo hiểm. Điểm đáng chú ý là quy định mới về hoa hồng đại lý với bảo hiểm liên kết đầu tư và bảo hiểm hưu trí; cơ chế thưởng, hỗ trợ đại lý từ năm 2027; bổ sung nguyên tắc xác định phí bảo hiểm với xe điện, xe sử dụng năng lượng sạch...
Giá vàng hôm nay ngày 8/7: Vàng thế giới giảm còn 4.102 USD/ounce, vàng trong nước lùi về 150 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 8/7: Vàng thế giới giảm còn 4.102 USD/ounce, vàng trong nước lùi về 150 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm về 4.102 USD/ounce, mất gần 50 USD/ounce. Trong nước, nhiều doanh nghiệp tiếp tục điều chỉnh giảm giá vàng, đưa giá bán vàng miếng về 150 triệu đồng/lượng.
BIDV sắp chốt ngày trả cổ tức tiền mặt tỷ lệ 4,5%, còn hơn 51.000 tỷ đồng "của để dành"

BIDV sắp chốt ngày trả cổ tức tiền mặt tỷ lệ 4,5%, còn hơn 51.000 tỷ đồng "của để dành"

(TBTCO) - BIDV dự kiến chi hơn 3.276 tỷ đồng trả cổ tức tiền mặt năm 2025 với tỷ lệ 4,5%, tương ứng 450 đồng/cổ phiếu. Tính đến cuối quý I/2026, lợi nhuận sau thuế chưa phân phối lũy kế của ngân hàng đạt 51.588 tỷ đồng. Song song với đó, BIDV triển khai các kế hoạch tăng vốn, hướng tới quy mô vốn điều lệ vượt 100.000 tỷ đồng.
"Đại dương xanh" rộng lớn, Bảo hiểm NNX mở lối bằng bảo hiểm vi mô hướng tới 10 triệu khách hàng

"Đại dương xanh" rộng lớn, Bảo hiểm NNX mở lối bằng bảo hiểm vi mô hướng tới 10 triệu khách hàng

(TBTCO) - Trong bối cảnh tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm vẫn dưới 3%, tỷ lệ thâm nhập bảo hiểm/GDP thấp cho thấy "đại dương xanh" của thị trường bảo hiểm còn rất lớn. Chọn khai phá bằng bảo hiểm vi mô, Bảo hiểm Công nghệ Ngôi Nhà Xanh (NNX Insurance) đặt mục tiêu phục vụ 10 triệu khách hàng, đưa bảo hiểm đến gần hơn với người dân và hướng đến doanh thu phí lên tới 6.000 tỷ đồng vào năm 2030.
Tỷ giá USD hôm nay (7/7): Tỷ giá trung tâm đi ngang, USD vẫn được hỗ trợ bởi kỳ vọng Fed tăng lãi suất

Tỷ giá USD hôm nay (7/7): Tỷ giá trung tâm đi ngang, USD vẫn được hỗ trợ bởi kỳ vọng Fed tăng lãi suất

(TBTCO) - Sáng 7/7, Ngân hàng Nhà nước giữ nguyên tỷ giá trung tâm ở mức 25.202 đồng, nhiều ngân hàng thương mại vẫn niêm yết giá bán USD kịch trần 26.462 đồng. Chỉ số DXY giảm nhẹ 0,02% xuống 100,85 điểm. Dù điều chỉnh, đồng USD vẫn được hỗ trợ bởi kỳ vọng Fed có thể tiếp tục tăng lãi suất vào cuối năm.
Giá vàng hôm nay ngày 7/7: Vàng thế giới neo quanh 4.166 USD/ounce, vàng trong nước đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 7/7: Vàng thế giới neo quanh 4.166 USD/ounce, vàng trong nước đồng loạt giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giao dịch quanh ngưỡng 4.166 USD/ounce. Trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt giảm tại nhiều doanh nghiệp, với giá bán vàng miếng phổ biến ở mức 151 triệu đồng/lượng.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,550 14,850
Kim TT/AVPL 14,430 ▼120K 14,830 ▼20K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,430 ▼120K 14,830 ▼20K
Nguyên Liệu 99.99 13,300 13,500
Nguyên Liệu 99.9 13,250 13,450
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,800 ▲100K 14,300 ▲100K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,750 ▲100K 14,250 ▲100K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,680 ▲100K 14,230 ▲100K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 144,500 ▼700K 148,000 ▼200K
Hà Nội - PNJ 144,500 ▼700K 148,000 ▼200K
Đà Nẵng - PNJ 144,500 ▼700K 148,000 ▼200K
Miền Tây - PNJ 144,500 ▼700K 148,000 ▼200K
Tây Nguyên - PNJ 144,500 ▼700K 148,000 ▼200K
Đông Nam Bộ - PNJ 144,500 ▼700K 148,000 ▼200K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,500 ▼50K 14,850
Miếng SJC Nghệ An 14,500 ▼50K 14,850
Miếng SJC Thái Bình 14,500 ▼50K 14,850
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,450 ▼50K 14,800
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,450 ▼50K 14,800
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,450 ▼50K 14,800
NL 99.90 12,950 ▼100K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,000 ▼100K
Trang sức 99.9 13,990 14,690
Trang sức 99.99 14,000 14,700
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 1,485
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,455 14,852
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,455 14,853
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,452 1,482
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,452 1,483
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,427 1,462
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 137,752 144,752
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 100,011 109,811
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 89,776 99,576
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 79,541 89,341
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 75,593 85,393
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,321 61,121
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 1,485
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 1,485
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 1,485
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 1,485
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 1,485
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 1,485
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 1,485
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 1,485
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 1,485
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 1,485
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 1,485
Cập nhật: 09/07/2026 10:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17703 17976 18562
CAD 18036 18311 18926
CHF 31923 32304 32946
CNY 0 3828 3920
EUR 29418 29639 30716
GBP 34430 34822 35756
HKD 0 3224 3426
JPY 155 159 165
KRW 0 16 18
NZD 0 14736 15324
SGD 19799 20081 20652
THB 700 764 817
USD (1,2) 26033 0 0
USD (5,10,20) 26074 0 0
USD (50,100) 26103 26117 26471
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,111 26,111 26,471
USD(1-2-5) 25,067 - -
USD(10-20) 25,067 - -
EUR 29,535 29,559 30,943
JPY 157.46 157.74 167.15
GBP 34,600 34,694 35,856
AUD 17,895 17,960 18,622
CAD 18,223 18,281 18,940
CHF 32,167 32,267 33,191
SGD 19,913 19,975 20,745
CNY - 3,792 3,934
HKD 3,288 3,298 3,433
KRW 16.13 16.82 18.28
THB 749.56 758.82 811.25
NZD 14,726 14,863 15,290
SEK - 2,669 2,761
DKK - 3,951 4,087
NOK - 2,651 2,743
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,027.96 - 6,802.59
TWD 740.08 - 895.8
SAR - 6,883.77 7,249.26
KWD - 83,177 88,426
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,091 26,111 26,471
EUR 29,492 29,610 30,802
GBP 34,611 34,750 35,781
HKD 3,287 3,300 3,417
CHF 32,021 32,150 33,083
JPY 157.84 158.47 166.37
AUD 17,888 17,960 18,554
SGD 19,990 20,070 20,658
THB 766 769 805
CAD 18,238 18,311 18,884
NZD 14,814 15,355
KRW 16.76 18.54
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26100 26100 26471
AUD 17877 17977 18900
CAD 18211 18311 19327
CHF 32158 32188 33770
CNY 3804.5 3829.5 3965.3
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29588 29618 31344
GBP 34721 34771 36526
HKD 0 3355 0
JPY 158.34 158.84 169.35
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.167 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14851 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19949 20079 20806
THB 0 730.4 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14600000 14600000 15000000
SBJ 13000000 13000000 15000000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,115 26,165 26,471
USD20 26,115 26,165 26,471
USD1 23,951 26,165 26,471
AUD 17,916 18,016 19,135
EUR 29,373 29,473 31,157
CAD 18,155 18,255 19,574
SGD 20,024 20,174 20,745
JPY 158.71 160.21 165.9
GBP 34,598 34,748 35,840
XAU 14,548,000 0 14,852,000
CNY 0 3,713 0
THB 0 765 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 09/07/2026 10:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80