Dòng tiền dồi dào, nhưng khó “tràn sang" các kênh đầu cơ

Chí Tín
(TBTCO) - Tăng trưởng tín dụng phục hồi nhanh và các động thái về chính sách tiền tệ tiếp tục nới lỏng cho thấy dòng tiền trong nền kinh tế đang ở trạng thái khá dồi dào. Tuy nhiên, khả năng dòng tiền "rò rỉ" sang các kênh đầu cơ tài sản cũng khó xảy ra.
aa
Dòng tiền dồi dào, nhưng khó “tràn sang

Dù dồi dào nhưng dòng tiền vẫn chưa có tín hiệu “bùng nổ” ở các kênh đầu cơ tài sản. Ảnh: TL

Giao chỉ tiêu sớm

Một trong những điểm đáng chú ý trong năm 2024 là động thái giao chỉ tiêu tín dụng khá sớm của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cho các ngân hàng thương mại và theo đó đây cũng là yếu tố thuận lợi cho các ngân hàng vào cuộc sớm trong việc triển khai các hoạt động cho vay.

Theo Chỉ thị số 01/CT-NHNN về tổ chức thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm của ngành Ngân hàng trong năm 2024, NHNN xác định mục tiêu và nhiệm vụ tổng quát của ngành Ngân hàng trong năm 2024, cụ thể điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, kịp thời, hiệu quả, phối hợp đồng bộ, hài hòa, chặt chẽ với chính sách tài khóa và các chính sách kinh tế vĩ mô khác góp phần hỗ trợ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Điều hành tăng trưởng tín dụng đồng thời đảm bảo mục tiêu kiểm soát lạm phát

Trong nội dung Chỉ thị số 01/CT-NHNN của NHNN, mục tiêu tăng trưởng tín dụng năm 2024 là 15% được đưa ra trên cơ sở có điều chỉnh phù hợp với diễn biến, tình hình thực tế; nghiên cứu đổi mới công tác điều hành tăng trưởng tín dụng.

Ngoài ra, mục tiêu tín dụng cũng được đặt trong mục tiêu chung về điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, hiệu quả; trong đó có mục tiêu kiểm soát lạm phát bình quân khoảng 4 - 4,5%.

Theo đó, mục tiêu điều hành tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống các tổ chức tín dung năm 2024 khoảng 15%, có điều chỉnh phù hợp với diễn biến, tình hình thực tế. Tại chỉ thị này, Thống đốc NHNN đã giao các đơn vị thuộc NHNN, các NHNN chi nhánh tỉnh, thành phố, các tổ chức tín dụng triển khai các nhiệm vụ cụ thể, quy định rõ sản phẩm dự kiến và thời hạn hoàn thành.

Thực chất trước khi ban hành Chỉ thị 01, chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng 15% đã được các ngân hàng thương mại nắm được từ rất sớm bởi ngay trong ngày cuối cùng của năm 2023, NHNN đã có văn bản số 10167/NHNN-CSTT gửi các tổ chức tín dụng về kế hoạch tăng trưởng tín dụng năm 2024.

Khó có “lỗ hổng” cho các kênh đầu cơ

Trước đó, tín dụng năm 2023 sau một giai đoạn tăng chậm đã tăng tốc khá nhanh vào cuối năm. Theo đó, tốc độ tăng trưởng tín dụng cả năm vẫn đạt tới 13,71%, chỉ thấp hơn chút ít so với mục tiêu tăng trưởng 14%. Diễn biến dòng vốn cuối năm 2023 cũng như những động thái điều hành chính sách tiền tệ của NHNN đầu năm 2024 cho thấy, dòng tiền đang tiếp tục được "mở van" đưa vào nền kinh tế.

Mặc dù dòng tiền trong trạng thái dồi dào, nhưng mục tiêu dòng tiền cũng được tập trung vào các kênh sản xuất kinh doanh, nhằm hỗ trợ phát triển kinh tế. Tại hội nghị ngành Ngân hàng đầu năm 2024, Thống đốc NHNN Nguyễn Thị Hồng cho biết, NHNN tiếp tục chỉ đạo các tổ chức tín dụng hướng tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên và các động lực tăng trưởng (đầu tư, tiêu dùng, xuất khẩu) theo chủ trương của Chính phủ; kiểm soát chặt chẽ tín dụng vào các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro.

Dòng tiền dồi dào, nhưng khó “tràn sang" các kênh đầu cơ
Ảnh minh họa

Thực tế diễn biến thị trường thời gian qua và giai đoạn hiện tại cho thấy, dòng tiền chưa có tín hiệu “bùng nổ” ở các kênh đầu cơ tài sản. Cuối năm 2023, thị trường vàng có một số thời điểm nổi sóng, nhưng sau đó đã lặng sóng nhanh chóng bởi cả yếu tố bên ngoài khi giá vàng thế giới cũng giảm nhiệt và cả yếu tố bên trong khi Chính phủ đã có những chỉ đạo kịp thời trong việc yêu cầu kiểm soát chặt chẽ thị trường vàng. Cụ thể, sau những biến động mạnh của giá vàng hồi cuối tháng 12/2023, Thủ tướng Chính phủ đã có Công điện số 1426/CĐ-TTg ngày 27/12/2023 gửi Thống đốc NHNN và một số bộ, ngành liên quan chỉ đạo về các giải pháp quản lý thị trường vàng. Sau đó từ đầu tháng 1/2024 đến nay, thị trường vàng đã đi vào ổn định và hiện cũng khó có cơ hội cho hoạt động đầu cơ đối với tài sản này.

Trong khi đó, diễn biến thị trường bất động sản cũng thấy nhu cầu thị trường đang hướng đến các phân khúc có giá trị thực, cơ hội cho dòng tiền đầu cơ cũng khó xuất hiện trong năm 2024. Báo cáo triển vọng thị trường bất động sản của CBRE cho biết, dự báo số căn mở bán mới, số căn bán được đối với sản phẩm nhà ở gắn liền với đất trong năm 2024 có thể cải thiện chút ít so với năm 2023, nhưng vẫn ở mức thấp hơn nhiều so với bình quân giai đoạn năm 2019 – 2022.

Với thị trường chứng khoán, chỉ số VN-Index thời gian qua diễn biến theo xu hướng tăng, nhưng mức tăng điểm vừa phải không có sự bùng nổ về dòng tiền. Trong đó, chỉ số chứng khoán tăng chủ yếu do ảnh hưởng của sự tăng giá một số cổ phiếu có vốn hóa lớn, được kỳ vọng về khả năng tăng trưởng lợi nhuận. Ông Đinh Quang Hinh - Trưởng Bộ phận vĩ mô và chiến lược thị trường, Khối Phân tích Công ty chứng khoán VNDirect, sau một giai đoạn tăng, xu hướng giằng co của thị trường chứng khoán có thể tiếp diễn khi dòng tiền chưa có sự đồng thuận và lan tỏa giữa các nhóm ngành. Đà tăng thời gian qua của các chỉ số chứng khoán chủ yếu được thúc đẩy bởi nhóm cổ phiếu ngân hàng, trong khi các ngành khác chưa có dấu hiệu hút được dòng tiền tham gia.

Dự báo của SSI về tín dụng và triển vọng ngành Ngân hàng năm 2024

Theo phân tích của Công ty chứng khoán SSI, năm 2024 vẫn tiếp tục là một năm đầy thách thức đối với ngành ngân hàng về chất lượng tài sản. Mặc dù vậy, tình hình chung sẽ có sự cải thiện so với năm 2023, phần lớn là nhờ vào chi phí vốn đã giảm về mức thấp hơn nhiều so với 2023 và lợi nhuận trước dự phòng có sự cải thiện giúp các ngân hàng có dư địa để tạo một bộ đệm dự phòng tốt hơn.

Trong kịch bản cơ sở, tăng trưởng GDP có thể phục hồi trong khoảng từ 6,0% - 6,5%, lãi suất trung bình cả năm duy trì quanh mức thấp nhất trong thập kỷ trở lại đây và NHNN sẽ có ứng phó linh hoạt trong cơ chế ghi nhận và trích lập dự phòng nợ xấu. Theo ước tính của SSI, tăng trưởng lợi nhuận trước thuế năm 2024 của các ngân hàng thuộc phạm vi nghiên cứu dự kiến đạt 15,4% so với cùng kỳ, đây là mức tăng trưởng tốt hơn so với mức 4,6% trong năm 2023.

Với kịch bản kinh tế vĩ mô dự kiến cải thiện hơn trong năm 2024, SSI kỳ vọng tăng trưởng tín dụng sẽ phục hồi lên mức 14%. Điều này được hỗ trợ một phần bởi lãi suất cho vay giảm. Dư địa tăng trưởng có thể sẽ đến từ khối doanh nghiệp như ngành xây dựng cơ sở hạ tầng; doanh nghiệp sản xuất và FDI; và các ngành nghề được ưu tiên (như nông nghiệp, xuất khẩu, công nghệ cao, SME, công nghiệp bổ trợ).

Ngoài ra, các chủ đầu tư bất động sản có nhu cầu vay tái cấp vốn cho các lô trái phiếu đến hạn năm 2024 với tổng giá trị khoảng 200 nghìn tỷ đồng (tương đương 20% dư nợ tín dung cho chủ đầu tư bất động sản trong năm 2023). Đây cũng có thể là một động lực quan trọng của tăng trưởng tín dụng năm 2024, trừ trường hợp cơ quan quản lý tiếp tục thanh tra và kiểm soát nghiêm ngặt các khoản cấp tín dụng chéo đối với các bên liên quan và các công ty vệ tinh.

Trong năm 2024, kỳ vọng lãi suất sẽ tiếp tục duy trì ở mức thấp để hỗ trợ nền kinh tế, nhưng có thể sẽ có thời điểm mà lãi suất tiền gửi nhích nhẹ khi tín dụng tăng tốc (có thể là vào nửa cuối năm 2024), hoặc áp lực giữ chân khách hàng của các tổ chức tín dụng nhỏ do các khoản tiền gửi lãi suất cao đáo hạn có thể chuyển sang các ngân hàng lớn hơn. Tuy nhiên, lãi suất huy động bình quân trong năm 2024 dự kiến sẽ không có chênh lệch quá lớn so với mức hiện tại.

Theo đó, chi phí vốn của các ngân hàng dự kiến thấp hơn, tỷ lệ tiền gửi không kỳ hạn cải thiện và các khoản vay mới có thời hạn dài hơn sẽ giúp giảm bớt áp lực về biên thu nhập lãi thuần cho các tổ chức tín dụng trong năm 2024.

Chí Tín

Đọc thêm

“Kho” đầu tư gần 370.000 tỷ đồng giúp doanh nghiệp bảo hiểm niêm yết sinh sôi lợi nhuận

“Kho” đầu tư gần 370.000 tỷ đồng giúp doanh nghiệp bảo hiểm niêm yết sinh sôi lợi nhuận

(TBTCO) - Nửa đầu năm 2026, “kho” đầu tư hơn 367.000 tỷ đồng của 13 doanh nghiệp bảo hiểm niêm yết mang về 7.930,4 tỷ đồng lợi nhuận tài chính, tăng 14,6%. "Ông lớn" Bảo Việt chiếm ưu thế áp đảo, trong khi hiệu quả sinh lời giữa các doanh nghiệp phân hóa rõ.
Bảo hiểm Bảo Việt đứng đầu 26 doanh nghiệp bảo hiểm uy tín trong lĩnh vực hàng hải

Bảo hiểm Bảo Việt đứng đầu 26 doanh nghiệp bảo hiểm uy tín trong lĩnh vực hàng hải

(TBTCO) - Đứng đầu danh sách 26 tổ chức bảo hiểm có uy tín trong lĩnh vực hàng hải do Bộ Tài chính công bố, Bảo hiểm Bảo Việt tiếp tục khẳng định nền tảng tài chính vững chắc, năng lực chuyên môn và kinh nghiệm quản trị những rủi ro có quy mô lớn, tính chất phức tạp.
Giá vàng hôm nay ngày 28/8: Giá vàng trong nước giảm trên diện rộng

Giá vàng hôm nay ngày 28/8: Giá vàng trong nước giảm trên diện rộng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước giảm trên diện rộng, với vàng nhẫn ghi nhận mức điều chỉnh mạnh nhất lên tới 1,8 triệu đồng/lượng.
Cổ phiếu SSB của SeABank vào rổ FTSE Global All Cap

Cổ phiếu SSB của SeABank vào rổ FTSE Global All Cap

(TBTCO) - FTSE Russell vừa công bố kết quả rà soát bán niên tháng 9/2026 đối với FTSE Global Equity Index Series (FTSE GEIS) khu vực châu Á – Thái Bình Dương (không bao gồm Nhật Bản và Trung Quốc). Theo đó, cổ phiếu SSB của Ngân hàng TMCP Đông Nam Á (SeABank, HOSE: SSB) là 1 trong 27 cổ phiếu Việt Nam mới được đưa vào FTSE Global All Cap Index. Thay đổi dự kiến có hiệu lực từ ngày 21/9/2026. Điều này có thể giúp SSB được nhiều quỹ và nhà đầu tư quốc tế theo dõi hơn, kéo theo cơ hội gia tăng thanh khoản, thu hút dòng tiền và hỗ trợ giá cổ phiếu.
Một kênh tài trợ thương mại ngoài “bộ lọc” room tín dụng tăng mạnh quy mô lên 158.000 tỷ đồng

Một kênh tài trợ thương mại ngoài “bộ lọc” room tín dụng tăng mạnh quy mô lên 158.000 tỷ đồng

Theo VDSC, số dư phải thu từ mua hẳn miễn truy đòi bộ chứng từ theo L/C do chính ngân hàng phát hành đã tăng hơn gấp đôi sau 6 quý, lên khoảng 158.000 tỷ đồng vào quý II/2026. Nghiệp vụ này không đi qua bộ lọc giám sát về room tín dụng, phân loại nhóm nợ, trích lập dự phòng, song quy mô tăng nhanh, đặt ra yêu cầu theo dõi rủi ro chất lượng tài sản tiềm ẩn.
Để “yên tâm” không chỉ là một lời hứa

Để “yên tâm” không chỉ là một lời hứa

(TBTCO) - Bảo hiểm nhân thọ không phải khoản tiết kiệm có lãi suất cố định, cũng không phải kênh đầu tư hứa hẹn sinh lời cao. Giá trị cốt lõi của sản phẩm là bảo vệ tài chính trước những rủi ro khó lường. Để khách hàng thực sự “hiểu đúng để yên tâm”, trách nhiệm không thể chỉ đặt lên vai khách hàng với yêu cầu đọc kỹ hợp đồng; doanh nghiệp và người tư vấn phải cung cấp thông tin chính xác, đầy đủ, minh bạch ngay từ thời điểm tham gia.
Giá vàng hôm nay ngày 27/8: Vàng thế giới và trong nước cùng quay đầu giảm

Giá vàng hôm nay ngày 27/8: Vàng thế giới và trong nước cùng quay đầu giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm hơn 30 USD/ounce, xuống mức 4.604 USD/ounce. Trong nước, vàng miếng và vàng nhẫn cùng đi xuống, có nơi giảm tới 1,3 triệu đồng/lượng.
Hai “ông lớn” ngân hàng ngoại muốn mua 15% vốn Techcombank, room ngoại chỉ còn 2%

Hai “ông lớn” ngân hàng ngoại muốn mua 15% vốn Techcombank, room ngoại chỉ còn 2%

(TBTCO) - Khối ngoại đang sở hữu 20,54% vốn Techcombank, trong khi giới hạn tối đa là 22,5386%, khiến room ngoại chỉ còn khoảng 2 điểm phần trăm. Trong bối cảnh hai “ông lớn” ngân hàng Pháp và Hàn Quốc được cho là đang đàm phán mua ít nhất 15% vốn Techcombank trị giá khoảng 2 tỷ USD, phương án nhận chuyển nhượng cổ phần từ nhà đầu tư nước ngoài hiện hữu được đặt ra.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 145,700 ▼1500K 148,700 ▼1500K
Hà Nội - PNJ 145,700 ▼1500K 148,700 ▼1500K
Đà Nẵng - PNJ 145,700 ▼1500K 148,700 ▼1500K
Miền Tây - PNJ 145,700 ▼1500K 148,700 ▼1500K
Tây Nguyên - PNJ 145,700 ▼1500K 148,700 ▼1500K
Đông Nam Bộ - PNJ 145,700 ▼1500K 148,700 ▼1500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,570 ▼150K 14,870 ▼150K
Miếng SJC Nghệ An 14,570 ▼150K 14,870 ▼150K
Miếng SJC Thái Bình 14,570 ▼150K 14,870 ▼150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,530 ▼190K 14,870 ▼150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,530 ▼190K 14,870 ▼150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,530 ▼190K 14,870 ▼150K
NL 99.99 13,800 ▼300K
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,700 ▼300K
Trang sức 99.9 14,180 ▼150K 14,780 ▼150K
Trang sức 99.99 14,190 ▼150K 14,790 ▼150K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 ▼15K 1,487 ▼15K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,457 ▼15K 14,872 ▼150K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,457 ▼15K 14,873 ▼150K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,452 ▼15K 1,482 ▼15K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,452 ▼15K 1,483 ▼15K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,427 ▼15K 1,472 ▼15K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 138,743 ▼1485K 145,743 ▼1485K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 100,761 ▼1125K 110,561 ▼1125K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 90,456 ▼1020K 100,256 ▼1020K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 80,151 ▼915K 89,951 ▼915K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 76,176 ▼875K 85,976 ▼875K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,739 ▼625K 61,539 ▼625K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 ▼15K 1,487 ▼15K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 ▼15K 1,487 ▼15K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 ▼15K 1,487 ▼15K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 ▼15K 1,487 ▼15K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 ▼15K 1,487 ▼15K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 ▼15K 1,487 ▼15K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 ▼15K 1,487 ▼15K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 ▼15K 1,487 ▼15K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 ▼15K 1,487 ▼15K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 ▼15K 1,487 ▼15K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 ▼15K 1,487 ▼15K
Cập nhật: 29/08/2026 22:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18131 18406 19000
CAD 18218 18494 19126
CHF 31569 31949 32610
CNY 0 3834 3932
EUR 29570 29792 30889
GBP 34482 34874 35831
HKD 0 3195 3399
JPY 156 159 167
KRW 0 17 19
NZD 0 15099 15701
SGD 19907 20189 20780
THB 702 765 819
USD (1,2) 25813 0 0
USD (5,10,20) 25853 0 0
USD (50,100) 25881 25895 26275
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,890 25,890 26,270
USD(1-2-5) 24,855 - -
USD(10-20) 24,855 - -
EUR 29,775 29,799 31,209
JPY 159.07 159.36 169
GBP 34,806 34,900 36,105
AUD 18,430 18,497 19,195
CAD 18,477 18,536 19,220
CHF 31,997 32,097 33,041
SGD 20,101 20,164 20,953
CNY - 3,805 3,951
HKD 3,259 3,269 3,406
KRW 17.5 18.25 19.86
THB 754.4 763.72 817.96
NZD 15,205 15,346 15,797
SEK - 2,695 2,790
DKK - 3,994 4,135
NOK - 2,749 2,850
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,047.4 - 6,827.28
TWD 744.85 - 902.38
SAR - 6,827.09 7,191.1
KWD - 82,706 88,002
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,860 25,890 26,270
EUR 29,827 29,947 31,143
GBP 34,830 34,970 36,005
HKD 3,258 3,271 3,388
CHF 31,884 32,012 32,947
JPY 159.62 160.26 168.24
AUD 18,424 18,498 19,096
SGD 20,166 20,247 20,845
THB 772 775 812
CAD 18,490 18,564 19,158
NZD 15,283 15,831
KRW 18.09 20.07
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25896 25896 26250
AUD 18401 18501 19423
CAD 18453 18553 19567
CHF 32005 32035 33625
CNY 3816.1 3841.1 3976.1
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 29872 29902 31627
GBP 34879 34929 36692
HKD 0 3330 0
JPY 159.62 160.12 170.66
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.3 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6660 0
NOK 0 2760 0
NZD 0 15297 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2725 0
SGD 20117 20247 20971
THB 0 735.6 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14720000 14720000 15020000
SBJ 13000000 13000000 15020000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,861 25,891 26,290
USD20 25,841 25,891 26,840
USD1 24,330 25,891 26,890
AUD 18,443 18,543 19,656
EUR 29,690 29,790 31,447
CAD 18,407 18,507 19,811
SGD 20,211 20,361 21,617
JPY 160.31 161.81 167.36
GBP 34,791 34,941 36,315
XAU 14,668,000 0 14,972,000
CNY 0 3,728 0
THB 0 771 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 29/08/2026 22:00
Ngân hàng