Giá gạo xuất khẩu tăng trước áp lực cung và thời tiết
Nhiều nước tăng nhập gạo trước El Nino
Cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang cho thấy, ngày 20/8, giá gạo nguyên liệu xuất khẩu IR 504 dao động ở mức 9.700 - 9800 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu CL 555 dao động ở mức 9.800 - 9.900 đồng/kg. So với cuối tháng 6/2026, giá gạo nguyên liệu xuất khẩu IR 504 tăng 1.000 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu CL 555 tăng 600 đồng/kg.
Các loại gạo nguyên liệu OM 5451 dao động ở mức 9.300 - 9.400 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 18 dao động ở mức 8.700 - 8.850 đồng/kg; gạo nguyên liệu Đài Thơm 8 dao động 9.200 - 9.400 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 380 dao động ở mức 7.500 - 7.600 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu Sóc thơm dao động ở mức 7.500 - 7.600 đồng/kg. Hiện giá những mặt hàng gạo này đang đi ngang so với cuối tháng 6.
![]() |
| Đây là giai đoạn thuận lợi đối với xuất khẩu gạo Việt Nam khi nhu cầu từ Philippines, Trung Quốc duy trì ổn định. Ảnh: Đức Thanh |
Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), giá gạo xuất khẩu của Việt Nam hiện đang tăng nhẹ. Gạo thơm 5% tấm dao động trong khoảng 500 - 505 USD/tấn, tăng 5 USD/tấn so với đầu tháng 8; gạo thơm 100% tấm dao động từ 370 - 374 USD/tấn, tăng 10 USD/tấn.
Nhìn chung, thị trường lúa gạo trong nước tiếp tục ổn định, với điểm đáng chú ý là giá một số loại gạo nguyên liệu xuất khẩu tăng nhẹ. Trong thời gian tới, diễn biến nhu cầu nhập khẩu của các thị trường lớn, nguồn cung từ các nước xuất khẩu chủ lực và tình hình thời tiết tại khu vực châu Á sẽ tiếp tục là những yếu tố tác động đáng kể đến giá gạo Việt Nam.
Trước dự báo El Nino có thể quay trở lại và mạnh nhất trong hơn 70 năm qua, nhiều quốc gia đang chủ động tăng dự trữ lương thực, trong đó có gạo. Động thái này được kỳ vọng sẽ tạo thêm dư địa cho các nước xuất khẩu gạo lớn như Việt Nam. Philippines tiếp tục là thị trường nhập gạo của Việt Nam nhiều nhất, chiếm gần 45% sản lượng xuất khẩu 7 tháng qua, tiếp đến là Trung Quốc 19%.
Đầu tháng 8, Bộ Nông nghiệp Philippines thông tin sẽ không áp lệnh cấm nhập khẩu đến cuối năm để chuẩn bị nguồn gạo ứng phó với El Nino. Đây cũng là cơ hội cho các doanh nghiệp trong việc xuất khẩu sang thị trường này với giá tốt. Cùng với đó, các thị trường châu Á khác cũng được dự báo tiếp tục quan tâm đến gạo chất lượng cao, an toàn và có nguồn cung ổn định.
Thị trường gạo thế giới những tháng cuối năm có thể tiếp tục biến động do thời tiết và bất ổn địa chính trị. Trong bối cảnh nhiều nước tăng dự trữ để bảo đảm an ninh lương thực, theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Việt Nam được đánh giá có thể xuất khẩu thêm khoảng 2 - 2,5 triệu tấn gạo từ nay đến cuối năm.
Chuyển từ mục tiêu tăng sản lượng sang tăng giá trị
Các chuyên gia cho rằng, đây là giai đoạn thuận lợi đối với xuất khẩu gạo Việt Nam khi nhu cầu từ Philippines, Trung Quốc và nhiều thị trường châu Á duy trì ổn định. Tuy nhiên, để biến cơ hội thành giá trị thực, ngành lúa gạo cần đẩy nhanh xây dựng vùng nguyên liệu đạt chuẩn, phát triển các dòng gạo chất lượng cao và tăng cường liên kết giữa nông dân, hợp tác xã với doanh nghiệp xuất khẩu. Đây được xem là nền tảng quan trọng để ngành lúa gạo không chỉ giữ vững vị thế trên thị trường quốc tế mà còn chuyển từ mục tiêu tăng sản lượng sang tăng giá trị trong giai đoạn phát triển mới.
Nâng cao năng lực dự trữ, điều tiết thị trườngTheo ông Đỗ Hà Nam - Chủ tịch Hiệp hội Lương thực Việt Nam, trong bối cảnh giá gạo thế giới được dự báo tiếp tục tăng, cơ hội đối với ngành lúa gạo Việt Nam là rất lớn. Tuy nhiên, lợi thế này chỉ có thể chuyển hóa thành giá trị thực nếu Việt Nam vừa bảo đảm được sản xuất trước nguy cơ El Nino, vừa nâng cao năng lực dự trữ, điều tiết thị trường và tăng vai trò chủ động của người nông dân trong toàn bộ chuỗi giá trị lúa gạo. |
Còn theo ông Đỗ Hà Nam - Chủ tịch VFA, nhu cầu nhập khẩu từ nhiều nước đang có xu hướng tăng trong khi nguồn cung thế giới có nguy cơ giảm do El Nino. Tuy nhiên, ngành lúa gạo Việt Nam vẫn chưa tận dụng được lợi thế này vì thường bán hàng ở thời điểm giá thấp. Hai thị trường lớn nhất là Trung Quốc và Philippines hiện chiếm khoảng 70% lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam, các nước này có hệ thống dự trữ rất lớn và chính sách nhập khẩu linh hoạt.
“Khi giá thấp, họ mua vào với khối lượng rất lớn để dự trữ. Nhưng khi giá tăng cao, họ lập tức hạn chế mua vì lượng dự trữ đã đủ. Chỉ cần một sự điều chỉnh nhỏ từ phía họ là lập tức ảnh hưởng đến giá lúa trong nước” - ông Nam phân tích.
Thực tế cho thấy, khi giá gạo xuống dưới 500 USD/tấn, nhiều nhà nhập khẩu tăng mạnh mua vào. Trong khi đó, nông dân và doanh nghiệp Việt Nam thường bán ra ngay từ đầu vụ do áp lực tài chính, đến khi giá tăng mạnh vào cuối vụ thì lượng hàng còn lại không nhiều.
Để khắc phục tình trạng này, ông Nam cho rằng, cần xây dựng hệ thống tạm trữ đủ mạnh để người dân có thể chủ động lựa chọn thời điểm bán hàng. Thị trường vận hành theo quy luật cung - cầu, muốn giá cao thì cung phải nhỏ hơn cầu. Muốn điều tiết được cung - cầu, thì hàng hóa buộc phải nằm trong kho dự trữ, khi đó, chính hệ thống kho tạm trữ sẽ trở thành van điều tiết của thị trường.

