Gia tăng khả năng giảm tiếp mặt bằng lãi suất cho vay

Hải Băng
(TBTCVN) - Cùng với việc giảm lãi suất huy động, từ sau tết, nhiều ngân hàng đã bắt đầu công bố các chương trình giảm lãi suất cho vay. Theo các chuyên gia, đây là thông tin tích cực cho nền kinh tế khi động thái này đang làm tăng kỳ vọng mặt bằng lãi suất cho vay sẽ giảm thêm trong thời gian tới.
aa

nh

Lãi suất cho vay sẽ tiếp tục giảm để hỗ trợ doanh nghiệp và người dân vượt khó khăn.

Theo các chuyên gia, đây là thông tin tích cực cho nền kinh tế khi động thái này đang làm gia tăng kỳ vọng mặt bằng lãi suất cho vay sẽ giảm thêm trong thời gian tới.

Một số ngân hàng đã tiên phong giảm tiếp lãi suất cho vay

Tính từ sau Tết Nguyên đán Tân Sửu, Ngân hàng Phát triển TP. Hồ Chí Minh (HDBank) đã tiên phong trong việc giảm lãi suất cho vay để hỗ trợ khách hàng vượt qua khó khăn vì Covid-19. Theo đó, ngày 26/2/2021, tiếp tục chương trình “Chung tay chia sẻ - Vững bền vượt qua”, HDBank ban hành chính sách tự động giảm lãi suất cho vay đến 4,5% cho khách hàng cá nhân và doanh nghiệp siêu nhỏ mà không cần khách hàng phải đề nghị hỗ trợ hay chứng minh bất kỳ khó khăn nào gặp phải. Hỗ trợ này lập tức có hiệu lực từ nay đến 31/12/2021.

lai

Song song đó, tiên phong trong việc chia sẻ gánh nặng chi phí thuê mặt bằng đang gây khó khăn cho các hộ kinh doanh, doanh nghiệp siêu nhỏ, đồng thời giảm áp lực trả nợ trong thời gian đầu, giúp khách hàng vững tâm kinh doanh cũng như giúp bên cho thuê nhà duy trì ổn định nguồn thu nhập, HDBank dành cho khách hàng là được vay ưu đãi để sản xuất kinh doanh và tiêu dùng lên đến 3 tỷ đồng, lãi suất ưu đãi chỉ từ 3%/năm, ân hạn vốn gốc 6 tháng.

Tiếp đó, trong tuần trước, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) cũng quyết định giảm đồng loạt lãi suất tiền vay cho toàn bộ dư nợ vay hiện hữu và cho vay mới của khách hàng trong thời gian 3 tháng từ ngày 22/2 - 22/5/2021. Theo đó, đối với khách hàng doanh nghiệp, Vietcombank giảm tới 10% số tiền lãi phải trả ngân hàng cho các khách hàng bị ảnh hưởng tiêu cực mức độ mạnh bởi dịch Covid-19; giảm tới 5% số tiền lãi phải trả ngân hàng cho các khách hàng còn lại bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19. Với khách hàng cá nhân, Vietcombank giảm lãi suất 0,2%/năm cho các khách hàng cá nhân vay vốn sản xuất kinh doanh trước ảnh hưởng của Covid-19.

Hay gần đây hơn, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) cũng vừa triển khai gói tín dụng ngắn hạn lãi suất ưu đãi với quy mô lên đến 10.000 tỷ đồng để hỗ trợ nhóm doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME) kinh doanh xuất nhập khẩu vượt qua khó khăn do Covid-19. Đối với khách hàng cá nhân có nhu cầu mua nhà, xe, tiêu dùng cá nhân, ngân hàng này cũng triển khai gói vay vốn trung dài hạn với quy mô lên tới 50.000 tỷ đồng, lãi suất ưu đãi từ 7%/năm.

Cơ hội cho lãi suất cho vay giảm thêm?

Sau biến động tăng do yếu tố mùa vụ, dòng tiền đã trở lại hệ thống ngân hàng khiến thanh khoản dồi dào, từ đó giúp lãi suất trên liên ngân hàng tiếp tục giảm về mặt bằng trước đợt sóng trước Tết Nguyên đán.

Theo Báo cáo thị trường tiền tệ tuần của Trung tâm Phân tích và Tư vấn đầu tư, Công ty Chứng khoán SSI (SSI Research), trên thị trường, một số ngân hàng thương mại đã giảm lãi suất từ 10 - 40 điểm cơ bản đối với tiền gửi khách hàng cá nhân, nhưng giữ nguyên với lãi suất tiền gửi tổ chức kinh tế, từ đó thu hẹp chênh lệch lãi suất huy động giữa 2 nhóm khách hàng này. Hiện lãi suất tiền gửi từ tổ chức kinh tế vẫn ở mức 2 - 4%/năm với kỳ hạn dưới 6 tháng; 3 – 4,9%/năm với kỳ hạn 6 đến dưới 12 tháng; và 4,2 – 5,8%/năm với kỳ hạn 12 đến 13 tháng.

Đánh giá về việc một số ngân hàng lớn đã tiên phong giảm suất cho vay, các chuyên gia của SSI Research cho rằng, những động thái trên của các ngân hàng đã gia tăng kỳ vọng mặt bằng lãi suất cho vay sẽ giảm thêm trong thời gian tới.

Trong Báo cáo triển vọng ngành Ngân hàng năm 2021 vừa phát hành, Công ty Chứng khoán Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BSC) cho biết thêm, nền kinh tế được kỳ vọng phục hồi là điểm giúp nợ xấu của toàn ngành được cải thiện và được kiểm soát dưới mức 2%. Nhiều ngân hàng đã nâng cấp tiêu chuẩn cho vay và quy trình xét duyệt tín dụng, từ đó giúp việc kiểm soát nợ xấu chặt chẽ hơn. Đồng thời, sau khi áp dụng Thông tư 41/2016/TT-NHNH, nhiều ngân hàng chuyển sang hướng kiểm soát cho vay thông qua tài sản có rủi ro (RWA) của các khoản vay, thay vì hạn mức tín dụng từ xưa, từ đó siết chặt tiêu chuẩn cho vay. Do đó, “chúng tôi cho rằng ngành ngân hàng hoàn toàn có thể kiểm soát tốt được chất lượng tài sản như hiện tại trong năm 2021” – chuyên gia của BSC cho hay.

Hải Băng

Hải Băng

Đọc thêm

Techcombank vạch hai kịch bản kinh doanh, dự kiến tăng trưởng tín dụng 12%

Techcombank vạch hai kịch bản kinh doanh, dự kiến tăng trưởng tín dụng 12%

(TBTCO) - Techcombank xây dựng kế hoạch kinh doanh năm 2026 theo hai kịch bản nhằm chủ động ứng phó với bối cảnh nhiều biến động, với mục tiêu lợi nhuận trước thuế đạt 35.000 tỷ đồng hoặc 37.500 tỷ đồng, tương ứng tăng 7,6 - 15%. Ngân hàng dự kiến dư nợ tín dụng đạt 849.000 tỷ đồng, tăng 12% và kiểm soát tỷ lệ nợ xấu 1,5 - 2% theo hai kịch bản.
SJC tạm dừng đăng ký mua vàng trực tuyến từ 6/4/2026

SJC tạm dừng đăng ký mua vàng trực tuyến từ 6/4/2026

(TBTCO) - Từ ngày 6/4, SJC tạm dừng kênh đăng ký mua vàng trực tuyến, áp dụng bán trực tiếp theo lượng thực tế và giới hạn mỗi khách tối đa 1 lượng vàng miếng.
Tái bảo hiểm Hanoi Re lên kế hoạch lãi đi lùi, hoạt động tài chính “gánh” phần lớn lợi nhuận

Tái bảo hiểm Hanoi Re lên kế hoạch lãi đi lùi, hoạt động tài chính “gánh” phần lớn lợi nhuận

Tổng Công ty cổ phần Tái bảo hiểm Hà Nội (Hanoi Re) đặt kế hoạch doanh thu năm 2026 đạt 3.968 tỷ đồng, tăng 7,5%; lợi nhuận trước thuế đi lùi 1,8%, còn 296 tỷ đồng, trong bối cảnh thị trường cạnh tranh mạnh, dư cung khiến giá tái bảo hiểm đi xuống. Thực tế, lợi nhuận gộp bảo hiểm Hanoi Re “trồi sụt” qua các năm, trong khi hoạt động tài chính chiếm tới 74% lãi trước thuế năm 2025.
Bảo Minh (BMI) thông tin vụ việc tài sản thiếu chờ xử lý hơn 155 tỷ đồng và ý kiến Kiểm toán ngoại trừ

Bảo Minh (BMI) thông tin vụ việc tài sản thiếu chờ xử lý hơn 155 tỷ đồng và ý kiến Kiểm toán ngoại trừ

(TBTCO) - Báo cáo tài chính năm 2025 của Tổng công ty cổ phần Bảo Minh (Bảo Minh; mã Ck: BMI) ghi nhận ý kiến kiểm toán ngoại trừ, trong đó đáng chú ý khoản “tài sản thiếu chờ xử lý” có giá trị hơn 155,9 tỷ đồng.
Thủ tục hành chính mới trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm

Thủ tục hành chính mới trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm

(TBTCO) - Bộ Tài chính vừa ban hành Quyết định số 795/QĐ-BTC về việc công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tài chính. Qua đó, chuẩn hóa quy trình, tăng tính minh bạch và tạo thuận lợi cho doanh nghiệp tham gia, hoạt động trên thị trường bảo hiểm.
Giá vàng hôm nay ngày 5/4: Giá vàng trong nước đi ngang quanh vùng 171 -174,5 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 5/4: Giá vàng trong nước đi ngang quanh vùng 171 -174,5 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng sáng ngày 5/4 không thay đổi so với phiên trước đó, với mức giá phổ biến quanh vùng 171 - 174,5 triệu đồng/lượng.
Ngân hàng đồng hành thúc đẩy kinh tế địa phương, ưu tiên phát triển bền vững

Ngân hàng đồng hành thúc đẩy kinh tế địa phương, ưu tiên phát triển bền vững

(TBTCO) - Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh tăng trưởng xanh, hệ thống ngân hàng đang ngày càng thể hiện rõ vai trò “dẫn dắt dòng vốn” trong việc đồng hành cùng các dự án trọng điểm tại địa phương, góp phần tạo nên các động lực tăng trưởng mới theo hướng phát triển bền vững.
Giá vàng hôm nay ngày 4/4: Giá vàng tăng cả ở phân khúc vàng miếng và vàng nhẫn

Giá vàng hôm nay ngày 4/4: Giá vàng tăng cả ở phân khúc vàng miếng và vàng nhẫn

(TBTCO) - Ngày 4/4, giá vàng trong nước hiện đang ghi nhận tăng tại nhiều doanh nghiệp, với cả vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt điều chỉnh tăng, phổ biến quanh 171 - 174,5 triệu đồng/lượng.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,950 ▼60K 17,250 ▼60K
Kim TT/AVPL 16,940 ▼80K 17,250 ▼70K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,930 ▼70K 17,240 ▼60K
Nguyên Liệu 99.99 15,500 ▼400K 15,700 ▼400K
Nguyên Liệu 99.9 15,450 ▼400K 15,650 ▼400K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,440 ▼310K 16,840 ▼310K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,390 ▼310K 16,790 ▼310K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,320 ▼310K 16,770 ▼310K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 169,000 172,000
Hà Nội - PNJ 169,000 172,000
Đà Nẵng - PNJ 169,000 172,000
Miền Tây - PNJ 169,000 172,000
Tây Nguyên - PNJ 169,000 172,000
Đông Nam Bộ - PNJ 169,000 172,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,950 ▼60K 17,250 ▼60K
Miếng SJC Nghệ An 16,950 ▼60K 17,250 ▼60K
Miếng SJC Thái Bình 16,950 ▼60K 17,250 ▼60K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,950 ▼40K 17,250 ▼40K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,950 ▼40K 17,250 ▼40K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,950 ▼40K 17,250 ▼40K
NL 99.90 15,500 ▼70K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,530 ▼70K
Trang sức 99.9 16,440 ▼40K 17,140 ▼40K
Trang sức 99.99 16,450 ▼40K 17,150 ▼40K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,695 ▼6K 1,725 ▼6K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,695 ▼6K 17,252 ▼60K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,695 ▼6K 17,253 ▼60K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 169 ▼1527K 172 ▼1554K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 169 ▼1527K 1,721 ▼6K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 167 ▼1509K 1,705 ▼6K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 162,312 ▼594K 168,812 ▼594K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 119,138 ▼450K 128,038 ▼450K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 107,202 ▲96441K 116,102 ▲104451K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 95,265 ▼366K 104,165 ▼366K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 90,661 ▼350K 99,561 ▼350K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,356 ▼250K 71,256 ▼250K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,695 ▼6K 1,725 ▼6K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,695 ▼6K 1,725 ▼6K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,695 ▼6K 1,725 ▼6K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,695 ▼6K 1,725 ▼6K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,695 ▼6K 1,725 ▼6K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,695 ▼6K 1,725 ▼6K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,695 ▼6K 1,725 ▼6K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,695 ▼6K 1,725 ▼6K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,695 ▼6K 1,725 ▼6K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,695 ▼6K 1,725 ▼6K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,695 ▼6K 1,725 ▼6K
Cập nhật: 07/04/2026 12:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17668 17941 18522
CAD 18386 18663 19281
CHF 32298 32681 33328
CNY 0 3470 3830
EUR 29748 30020 31048
GBP 34031 34421 35358
HKD 0 3230 3432
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14696 15284
SGD 19941 20224 20751
THB 722 785 838
USD (1,2) 26074 0 0
USD (5,10,20) 26115 0 0
USD (50,100) 26143 26163 26363
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,143 26,143 26,363
USD(1-2-5) 25,098 - -
USD(10-20) 25,098 - -
EUR 29,971 29,995 31,235
JPY 160.85 161.14 169.84
GBP 34,336 34,429 35,401
AUD 17,930 17,995 18,558
CAD 18,634 18,694 19,260
CHF 32,669 32,771 33,539
SGD 20,124 20,187 20,858
CNY - 3,766 3,886
HKD 3,304 3,314 3,432
KRW 16.16 16.85 18.21
THB 772.57 782.11 832.21
NZD 14,740 14,877 15,226
SEK - 2,746 2,826
DKK - 4,011 4,127
NOK - 2,675 2,752
LAK - 0.91 1.26
MYR 6,121.56 - 6,869.84
TWD 746.93 - 899.28
SAR - 6,918.83 7,242.91
KWD - 83,796 88,609
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,113 26,143 26,363
EUR 29,818 29,938 31,112
GBP 34,220 34,357 35,355
HKD 3,292 3,305 3,420
CHF 32,390 32,520 33,434
JPY 160.93 161.58 168.82
AUD 17,849 17,921 18,506
SGD 20,128 20,209 20,785
THB 787 790 825
CAD 18,577 18,652 19,212
NZD 14,773 15,299
KRW 16.75 18.37
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26140 26140 26363
AUD 17845 17945 18870
CAD 18564 18664 19680
CHF 32532 32562 34153
CNY 3768.2 3793.2 3928.5
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29922 29952 31677
GBP 34312 34362 36125
HKD 0 3355 0
JPY 161.24 161.74 172.28
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 14803 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2790 0
SGD 20092 20222 20955
THB 0 751.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 16950000 16950000 17250000
SBJ 16000000 16000000 17250000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,165 26,215 26,363
USD20 26,165 26,215 26,363
USD1 23,853 26,215 26,363
AUD 17,900 18,000 19,112
EUR 30,075 30,075 31,494
CAD 18,516 18,616 19,929
SGD 20,173 20,323 21,350
JPY 161.78 163.28 168.85
GBP 34,233 34,583 35,710
XAU 17,008,000 0 17,312,000
CNY 0 3,676 0
THB 0 787 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 07/04/2026 12:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80