VietABank đặt mục tiêu lãi gần 2.000 tỷ đồng, tiếp nối kế hoạch tăng vốn 55% còn dang dở

Ánh Tuyết
(TBTCO) - VietABank đặt mục tiêu lãi trước thuế năm 2026 đạt 1.945 tỷ đồng, tăng 18%; dự kiến tăng vốn điều lệ thêm 55% lên 12.688 tỷ đồng thông qua ba phương án phát hành cổ phiếu, tiếp nối tiến độ tăng vốn năm 2025. Ngân hàng cũng chủ động mở rộng sang các lĩnh vực như: chứng khoán, bảo hiểm..., hướng tới đa dạng hóa hoạt động.
aa
VietABank dự kiến tăng vốn gấp đôi, tăng tốc hoàn thành mục tiêu dang dở khi tái cơ cấu VietABank sắp chào bán cổ phiếu giá 10.000 đồng, nâng vốn điều lệ gần 11.500 tỷ đồng VietABank lập đỉnh lợi nhuận trên 1.600 tỷ đồng, song hành tăng vốn và siết chặt dự phòng

Ngân hàng TMCP Việt Á (VietABank - mã Ck: VAB) dự kiến tổ chức Đại hội đồng cổ đông thường niên ngày 25/4 tại Hà Nội, với nhiều nội dung cần chú ý.

Tại báo cáo của Hội đồng quản trị về kết quả hoạt động năm 2025 và định hưởng năm 2026, VietABank đặt mục tiêu lợi nhuận trước thuế năm 2026 đạt 1.945 tỷ đồng, tăng 18% so với năm 2025.

VietABank đặt mục tiêu dư nợ tín dụng năm 2026 đạt 101.633 tỷ đồng, tăng 14,5%, đồng thời điều hành tăng trưởng tín dụng linh hoạt theo hạn mức được Ngân hàng Nhà nước giao. Tỷ lệ nợ xấu dự kiến kiểm soát dưới 2%. Trước đó, cuối năm 2025, tổng nợ xấu của ngân hàng ở mức 1.164 tỷ đồng, tăng 6,6% so với đầu năm, song tỷ lệ nợ xấu đã giảm tý xuống còn 1,31%.

Tổng tài sản năm 2026 phấn đấu đạt 150.500 tỷ đồng, tăng 7,1%. Tiền gửi khách hàng và phát hành giấy tờ có giá dự kiến đạt 115.441 tỷ đồng, tăng 11%.

VietABank đặt mục tiêu lãi gần 2.000 tỷ đồng, tiếp nối kế hoạch tăng vốn 55% còn dang dở
Nguồn: VietABank.

Về kế hoạch tăng vốn, ngân hàng dự kiến triển khai ba phương án phát hành cổ phiếu, tăng vốn điều lệ thêm 55%, từ 8.164 tỷ đồng lên 12.688 tỷ đồng thông qua ba phương thức.

Năm vừa qua, VietABank đã chính thức niêm yết cổ phiếu tại HOSE. Trong năm 2025, VietABank đã được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận tăng vốn điều lệ lên mức 11.495 tỷ đồng thông qua triển khai 03 phương án tăng vốn điều lệ. Tuy nhiên, đến hết ngày 31/12/2025, VietABank mới hoàn thành việc tăng vốn điều lệ lên 8.164 tỷ đồng thông qua phát hành cổ phiếu từ nguồn vốn chủ sở hữu (tỷ lệ 51,2%), hai phương án còn lại chưa triển khai năm 2025, do thị trường chứng khoán cuối năm diễn biến chưa thuận lợi, thanh khoản thị trường và giá trị giao dịch bình quân cổ phiếu chưa cao.

Thứ nhất, phát hành gần 122,5 triệu cổ phiếu để trả cổ tức cho cổ đông hiện hữu với tỷ lệ 15%, tương ứng giá trị phát hành khoảng 1.225 tỷ đồng từ nguồn vốn chủ sở hữu.

Thứ hai, phát hành 20 triệu cổ phiếu ESOP bán cho người lao động, tương đương 2,45% lượng cổ phiếu lưu hành, với giá 10.000 đồng/cổ phiếu, tổng giá trị 200 tỷ đồng. Số cổ phiếu này bị hạn chế chuyển nhượng trong 01 năm.

Thứ ba, chào bán thêm 310 triệu cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu với giá 10.000 đồng/cổ phiếu, tổng giá trị dự kiến 3.100 tỷ đồng, tỷ lệ thực hiện quyền gần 38%.

"Toàn bố số tiền thu dự kiến được từ việc tăng vốn là 3.300 tỷ đồng, sẽ được sử dụng để bổ sung nguồn vốn cho hoạt động kinh doanh của VAB" - Chủ tịch VietABank nêu rõ.

Theo đó, số tiền được sử dụng để bổ sung nguồn vốn cho hoạt động kinh doanh, bao gồm cho vay, đầu tư giấy tờ có giá, đầu tư tài sản cố định và các hoạt động khác trong giai đoạn 2026 - 2027. Thời gian thực hiện các phương án tăng vốn sẽ do Hội đồng quản trị quyết định sau khi được cơ quan quản lý chấp thuận.

VietABank đặt mục tiêu lãi gần 2.000 tỷ đồng, tiếp nối kế hoạch tăng vốn 55% còn dang dở
Đồ họa: Ánh Tuyết.

Theo phương án tăng vốn, Công ty cổ phần Tập đoàn đầu tư Việt Phương (Việt Phương Group) hiện là cổ đông lớn tại VietABank với tỷ lệ sở hữu 9,06% vốn điều lệ, dự kiến giảm nhẹ xuống 8,92% sau khi hoàn tất tăng vốn. Nhóm người có liên quan gồm: Phương Hữu Việt, Lương Thị Linh cũng ghi nhận tỷ lệ sở hữu giảm nhẹ. Trong đó, Phương Hữu Việt giảm từ 4,55% xuống 4,48%; Nguyễn Thị Lan và Nguyễn Bá Phong giữ mức sở hữu dưới 0,3% và không biến động.

Trong năm 2025, nhằm tăng cường nguồn vốn cấp 2, nâng cao năng lực tài chính và đáp ứng các chỉ tiêu an toàn theo quy định, VietABank đã triển khai phát hành 04 đợt trái phiếu theo cả hình thức phát hành ra công chúng và phát hành riêng lẻ, với tổng giá trị chào bán 1.300 tỷ đồng với tổng giá trị phát hành thành công đạt 991,63 tỷ đồng, đạt 76% kế hoạch.

Bên cạnh đó, tại đại hội sắp tới, VietABank cũng trình cổ đông chủ trương góp vốn, mua cổ phần hoặc thành lập, mua lại công ty con, công ty liên kết, liên danh, hợp tác..., nhằm mở rộng hoạt động sang các lĩnh vực như: chứng khoán; cho thuê tài chính, bao thanh toán, phát hành thẻ tín dụng, tín dụng tiêu dùng; bảo hiểm; quản lý tài sản, kiều hối, vàng, dịch vụ trung gian thanh toán...

Ngân hàng có thể tham gia góp vốn toàn bộ hoặc một phần vốn điều lệ doanh nghiệp, với tổng mức đầu tư không vượt quá 40% vốn điều lệ và các quỹ dự trữ theo quy định.

Giá trị góp vốn, mua cổ phần từ 20% trở lên so với vốn điều lệ của VietABank ghi trong báo cáo tài chính đã được kiểm toán gần nhất nhưng tổng mức góp vốn, mua cổ phần của VietABank vào các doanh nghiệp, kể cả các công ty con, công ty liên kết không được vượt quá 40% vốn điều lệ và các quỹ dự trữ của VietABank./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

VBI nỗ lực kiến tạo giá trị mới từ vai trò đối tác quản trị rủi ro

VBI nỗ lực kiến tạo giá trị mới từ vai trò đối tác quản trị rủi ro

(TBTCO) - Thị trường nhiều biến động cùng sự xuất hiện của các loại hình rủi ro mới đang dần tái định hình vai trò của ngành bảo hiểm: từ đơn vị cung cấp sản phẩm trở thành đối tác đồng hành quản trị rủi ro. Với định hướng đó, Bảo hiểm VietinBank – VBI đang từng bước kiến tạo những giá trị mới cho khách hàng, được bảo chứng bằng những nỗ lực tăng trưởng tích cực, đổi mới sản phẩm và nâng cao chất lượng dịch vụ trong 6 tháng đầu năm 2026.
Nới room tín dụng đúng địa chỉ, không đánh đổi chất lượng cho vay

Nới room tín dụng đúng địa chỉ, không đánh đổi chất lượng cho vay

(TBTCO) - Hơn 1,4 triệu tỷ đồng được "bơm" vào nền kinh tế trong nửa đầu năm 2026, đưa dư nợ tín dụng toàn hệ thống vượt 20 triệu tỷ đồng, tăng 7,73%. Trước nhu cầu vốn lớn, Ngân hàng Nhà nước phát đi tín hiệu nới cơ chế quản lý room tín dụng, nhưng khẳng định không hạ chuẩn cho vay và các tổ chức tín dụng vẫn phải chịu trách nhiệm về chất lượng tín dụng.
Giá vàng hôm nay ngày 21/7: Vàng thế giới lấy lại mốc 4.000 USD/ounce, vàng trong nước đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 21/7: Vàng thế giới lấy lại mốc 4.000 USD/ounce, vàng trong nước đồng loạt giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng gần 20 USD/ounce, lấy lại mốc 4.000 USD/ounce. Trong khi đó, giá vàng trong nước đồng loạt giảm tới 1,5 triệu đồng/lượng tại nhiều doanh nghiệp.
Ngân hàng MBV thông báo thay đổi địa điểm Chi nhánh Sài Gòn và Phòng giao dịch Thanh Hà

Ngân hàng MBV thông báo thay đổi địa điểm Chi nhánh Sài Gòn và Phòng giao dịch Thanh Hà

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc thay đổi địa điểm Chi nhánh Sài Gòn và Phòng giao dịch Thanh Hà.
MBS dự báo tỷ giá USD/VND có thể hướng mốc 27.000 đồng cuối năm 2026

MBS dự báo tỷ giá USD/VND có thể hướng mốc 27.000 đồng cuối năm 2026

(TBTCO) - Tỷ giá USD/VND cũng bắt đầu rục rịch tăng trở lại sau 2 tháng ổn định, tỷ giá trung tâm tăng 0,3% so với cuối tháng trước và đầu năm. MBS dự báo tỷ giá sẽ dao động trong khoảng 26.800 - 27.000 VND/USD cuối năm 2026, tương ứng tăng 2 - 2,8% so với đầu năm, do đồng USD mạnh lên và thặng dư thương mại thu hẹp.
Giá vàng hôm nay ngày 20/7: Vàng thế giới thủng mốc 4.000 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 20/7: Vàng thế giới thủng mốc 4.000 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm gần 30 USD/ounce, lùi xuống dưới mốc 4.000 USD/ounce. Trong khi đó, giá vàng trong nước đi ngang tại nhiều doanh nghiệp kinh doanh vàng ở ngưỡng 142,5 - 147,5 triệu đồng/lượng.
Ngân hàng đồng hành doanh nghiệp trước "biến số" tỷ giá cuối năm

Ngân hàng đồng hành doanh nghiệp trước "biến số" tỷ giá cuối năm

(TBTCO) - Tỷ giá USD ổn định trong nửa đầu năm, nhưng biến động các ngoại tệ khác vẫn tác động trái chiều đến doanh nghiệp. Trước nhiều "biến số" ảnh hưởng tỷ giá cuối năm, các ngân hàng đồng hành cùng doanh nghiệp chủ động quản trị rủi ro tỷ giá, thay vì chỉ ứng phó biến động.
Giá vàng hôm nay ngày 19/7: Vàng thế giới giữ trên mốc 4.000 USD/ounce, vàng trong nước đảo chiều tăng

Giá vàng hôm nay ngày 19/7: Vàng thế giới giữ trên mốc 4.000 USD/ounce, vàng trong nước đảo chiều tăng

(TBTCO) - Khép tuần giao dịch, giá vàng thế giới giữ trên ngưỡng 4.000 USD/ounce. Trong khi đó, giá vàng trong nước đồng loạt đảo chiều tăng tại nhiều doanh nghiệp kinh doanh vàng.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 0 0
Kim TT/AVPL 0 0
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG - -
Nguyên Liệu 99.99 0 0
Nguyên Liệu 99.9 0 0
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ -137,000 ▼137000K -142,000 ▼142000K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,650 ▲13650K 14,150 ▲14150K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,580 ▲13580K 14,130 ▲14130K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 140,200 ▼800K 145,200 ▲200K
Hà Nội - PNJ 140,200 ▼800K 145,200 ▲200K
Đà Nẵng - PNJ 140,200 ▼800K 145,200 ▲200K
Miền Tây - PNJ 140,200 ▼800K 145,200 ▲200K
Tây Nguyên - PNJ 140,200 ▼800K 145,200 ▲200K
Đông Nam Bộ - PNJ 140,200 ▼800K 145,200 ▲200K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,340 ▲40K 14,640 ▲40K
Miếng SJC Nghệ An 14,340 ▲40K 14,640 ▲40K
Miếng SJC Thái Bình 14,340 ▲40K 14,640 ▲40K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,250 ▲50K 14,600 ▲50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,250 ▲50K 14,600 ▲50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,250 ▲50K 14,600 ▲50K
NL 99.99 13,000 ▲120K
Nhẫn Tròn Thái Bình 12,900 ▲70K
Trang sức 99.9 13,790 ▲50K 14,490 ▲50K
Trang sức 99.99 13,800 ▲50K 14,500 ▲50K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1291K 1,464 ▲1318K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,434 ▲1291K 14,642 ▲40K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,434 ▲1291K 14,643 ▲40K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,419 ▲4K 1,454 ▲1309K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,419 ▲4K 1,455 ▲4K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,389 ▲4K 1,434 ▲1291K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 13,498 ▼121086K 14,198 ▼127386K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,911 ▲300K 107,711 ▲300K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 87,872 ▲86996K 97,672 ▲96698K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,833 ▲244K 87,633 ▲244K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,961 ▲234K 83,761 ▲234K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,154 ▲167K 59,954 ▲167K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1291K 1,464 ▲1318K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1291K 1,464 ▲1318K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1291K 1,464 ▲1318K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1291K 1,464 ▲1318K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1291K 1,464 ▲1318K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1291K 1,464 ▲1318K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1291K 1,464 ▲1318K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1291K 1,464 ▲1318K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1291K 1,464 ▲1318K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1291K 1,464 ▲1318K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1291K 1,464 ▲1318K
Cập nhật: 21/07/2026 21:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17943 18217 18793
CAD 18189 18465 19084
CHF 31845 32226 32875
CNY 0 3850 3943
EUR 29431 29651 30735
GBP 34513 34905 35846
HKD 0 3226 3429
JPY 155 159 165
KRW 0 16 18
NZD 0 15101 15686
SGD 19866 20148 20718
THB 697 761 814
USD (1,2) 26058 0 0
USD (5,10,20) 26099 0 0
USD (50,100) 26128 26142 26507
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,130 26,130 26,510
USD(1-2-5) 25,085 - -
USD(10-20) 25,085 - -
EUR 29,558 29,582 30,990
JPY 157.49 157.77 167.27
GBP 34,753 34,847 36,049
AUD 18,133 18,199 18,884
CAD 18,367 18,426 19,105
CHF 32,119 32,219 33,166
SGD 19,983 20,045 20,836
CNY - 3,816 3,961
HKD 3,288 3,298 3,436
KRW 16.45 17.16 18.66
THB 746.45 755.67 808.97
NZD 15,085 15,225 15,677
SEK - 2,678 2,772
DKK - 3,954 4,093
NOK - 2,682 2,780
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,016.91 - 6,791.83
TWD 735.79 - 891.27
SAR - 6,890.37 7,257.18
KWD - 83,228 88,546
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,090 26,110 26,490
EUR 29,463 29,581 30,773
GBP 34,706 34,845 35,878
HKD 3,286 3,299 3,417
CHF 31,909 32,037 32,965
JPY 157.78 158.41 166.31
AUD 18,073 18,146 18,743
SGD 20,025 20,105 20,694
THB 762 765 800
CAD 18,352 18,426 19,004
NZD 15,173 15,719
KRW 17.01 18.85
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26145 26145 26505
AUD 18138 18238 19161
CAD 18377 18477 19489
CHF 32100 32130 33708
CNY 3830.8 3855.8 3991.1
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29621 29651 31374
GBP 34844 34894 36649
HKD 0 3355 0
JPY 158.31 158.81 169.33
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.2 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 15226 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 20025 20155 20883
THB 0 727.1 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14340000 14340000 14640000
SBJ 13000000 13000000 14640000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,146 26,196 26,510
USD20 26,146 26,196 26,510
USD1 26,146 26,196 26,510
AUD 18,171 18,271 19,384
EUR 29,406 29,506 31,164
CAD 18,308 18,408 19,714
SGD 20,095 20,245 20,810
JPY 158.75 160.25 165.78
GBP 34,745 34,895 35,957
XAU 14,338,000 0 14,642,000
CNY 0 3,739 0
THB 0 762 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 21/07/2026 21:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80