VietABank lập đỉnh lợi nhuận trên 1.600 tỷ đồng, song hành tăng vốn và siết chặt dự phòng

(TBTCO) - Năm 2025, VietABank bứt phá rõ nét về hiệu quả kinh doanh, với lợi nhuận trước thuế đạt 1.623 tỷ đồng, tăng 49,5% và cao nhất trong lịch sử hoạt động, dù ngân hàng chủ động tăng mạnh trích lập dự phòng rủi ro. Đồng thời, VietABank cũng nâng vốn điều lệ lên 8.163,7 tỷ đồng, củng cố nền tảng tài chính cho giai đoạn tăng trưởng tiếp theo.
aa
VietABank dự kiến tăng vốn gấp đôi, tăng tốc hoàn thành mục tiêu dang dở khi tái cơ cấu VietABank chốt quyền phát hành cổ phiếu thưởng, tăng vốn hơn 51% VietABank ra mắt nền tảng ngân hàng số, bước tiến chiến lược trong hành trình chuyển đổi số

VietABank Ngân hàng TMCP Việt Á (VietABank - mã Ck: VAB) vừa công bố báo cáo tài chính quý IV/2025 và cả năm 2025.

Báo cáo tài chính do VietABank mới công bố cho thấy, lợi nhuận trước thuế cả năm 2025 đạt 1.623 tỷ đồng, tăng 49,5%. Trong đó động lực chính đến từ sự cải thiện mạnh mẽ của thu nhập hoạt động cốt lõi, đặc biệt là thu nhập lãi thuần; thu ngoài lãi cũng củng cố giúp VietABank ghi nhận lãi kỷ lục trong lịch sử hoạt động.

VietABank lập đỉnh lợi nhuận trên 1.600 tỷ đồng, song hành tăng vốn và siết chặt dự phòng
VietABank lập đỉnh lợi nhuận trên 1.600 tỷ đồng, song hành tăng vốn và siết chặt dự phòng. Ảnh tư liệu.

Xét riêng quý IV/2025, lợi nhuận trước thuế đạt 573 tỷ đồng, lần đầu tiên vượt mốc 500 tỷ đồng nhờ tốc độ tăng trưởng gần gấp đôi cùng kỳ. Đóng góp lớn nhất đến từ thu nhập lãi thuần, tăng thêm 794,7 tỷ đồng so với quý IV/2024, tương đương mức tăng 97,7%.

Bên cạnh đó, lãi thuần từ hoạt động dịch vụ tăng thêm 33,6 tỷ đồng, trong khi hoạt động kinh doanh ngoại hối chuyển từ lỗ 13,1 tỷ đồng sang lãi 12,8 tỷ đồng. Thu nhập từ hoạt động khác và góp vốn mua cổ phần cũng đóng góp thêm gần 43 tỷ đồng so với cùng kỳ. Tổng hợp các yếu tố này giúp tổng thu nhập hoạt động quý IV/2025 của VietABank tăng thêm 875,9 tỷ đồng, gần gấp đôi cùng kỳ.

Cũng trong quý IV/2025, Ngân hàng tăng mạnh chi phí dự phòng rủi ro tín dụng lên cao chưa từng có 914 tỷ đồng, phản ánh chính sách trích lập thận trọng hơn. Dù vậy, lợi nhuận trước thuế VietABank vẫn ghi nhận mức tăng 96% cùng kỳ, lên 527,7 tỷ đồng.

Lũy kế cả năm 2025, lợi nhuận trước thuế cả năm VietABank tăng 49,5%, lên 1.622,7 tỷ đồng, cao nhất trong lịch sử hoạt động; ngân hàng tăng mạnh chi phí dự phòng rủi ro tín dụng lên cao chưa từng có 1.168 tỷ đồng.

Lũy kế cả năm 2025, bức tranh tăng trưởng càng rõ nét hơn. Động lực lớn nhất đến từ thu nhập lãi thuần, tăng thêm 1.073 tỷ đồng, lên 3.401,9 tỷ đồng, tương ứng mức tăng 46,1%.

Đây là trụ cột chính kéo lợi nhuận VietABank đi lên trong năm qua, với tỷ trọng thu nhập lãi thuần trong tổng thu nhập hoạt động chiếm tới 89,8%; cao hơn con số 87,4% cùng kỳ.

Bên cạnh đó, thu nhập ngoài lãi gồm thu từ dịch vụ, ngoại hối, hoạt động khác và góp vốn mua cổ phần... cũng đóng góp tích cực 334 tỷ đồng.

Ở chiều ngược lại, chi phí dự phòng rủi ro tín dụng tăng lên 1.168 tỷ đồng, tăng 110,4% cùng kỳ. Tính chung lợi nhuận trước thuế cả năm VietABank tăng 49,5%, lên 1.622,7 tỷ đồng.

Đồ họa: Ánh Tuyết

Tính đến 31/12/2025, tổng tài sản VietABank đạt 140.486 tỷ đồng, tăng 17,2% so với đầu năm; dư nợ cho vay khách hàng tăng 11%. Tiền gửi khách hàng đạt 99.080 tỷ đồng, tăng 9,7%.

Về chất lượng tài sản, nợ xấu cuối quý IV/2025 VietABank ở mức 1.162 tỷ đồng, tăng 6,5%. Tuy nhiên, nhờ dư nợ cho vay tăng nhanh hơn, tỷ lệ nợ xấu giảm nhẹ; trong đó, nợ xấu tăng chủ yếu đến từ nợ nhóm 3, tăng 88,5% và nợ xấu có khả năng mất vốn.

Cũng trong năm qua, VietABank cũng ghi nhận bước tiến quan trọng trong chiến lược tăng cường năng lực tài chính. Cuối năm 2025, vốn điều lệ của VietABank đạt 8.163,7 tỷ đồng, tăng 51,2%. Động thái này không chỉ giúp VietABank củng cố nền tảng tài chính và cải thiện hệ số an toàn vốn (CAR), mà còn tạo dư địa cho ngân hàng đầu tư mạnh hơn vào hạ tầng số, phát triển sản phẩm mới và thúc đẩy tăng trưởng tín dụng có chọn lọc, hướng tới giai đoạn phát triển bền vững hơn.

Trước đó, ngày 17/10/2025, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã có văn bản chính thức chấp thuận cho VietABank tăng vốn điều lệ đợt 2/2025, thông qua hình thức phát hành cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu và chương trình ESOP cho người lao động. Sau khi hoàn tất, vốn điều lệ của ngân hàng dự kiến đạt 11.495 tỷ đồng, tăng hơn 3.331 tỷ đồng so với cuối năm 2025./.

Năm 2025, VietABank ghi nhận kết quả thực hiện kế hoạch vượt kỳ vọng trên hầu hết các chỉ tiêu trọng yếu. Lợi nhuận trước thuế đạt 1.623 tỷ đồng, vượt hơn 24% kế hoạch được Đại hội đồng cổ đông thông qua.

Quy mô hoạt động của VietABank cũng mở rộng nhanh hơn dự kiến, với tổng tài sản đạt 140.486 tỷ đồng, tăng 17,2% và cao hơn đáng kể mục tiêu (128.381 tỷ đồng, tăng 7,1%). Dư nợ cho vay khách hàng tăng khoảng 11%, cao hơn kế hoạch (tăng 10,3%)./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 19/9: Giá vàng thế giới và trong nước đồng loạt tăng

Giá vàng hôm nay ngày 19/9: Giá vàng thế giới và trong nước đồng loạt tăng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới phục hồi lên 4.379 USD/ounce, mức cao nhất trong một tuần. Trong nước, vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt tăng mạnh, với mức tăng tới 1,8 triệu đồng/lượng.
DBV ra mắt bảo hiểm ô tô điện, bảo vệ chuyên biệt cho pin và rủi ro sạc

DBV ra mắt bảo hiểm ô tô điện, bảo vệ chuyên biệt cho pin và rủi ro sạc

(TBTCO) - Tập đoàn Bảo hiểm DBV chính thức giới thiệu sản phẩm Bảo hiểm Ô tô điện, giải pháp chuyên biệt dành cho phương tiện sử dụng năng lượng xanh, hướng tới mở rộng phạm vi bảo vệ và đồng hành với khách hàng suốt quá trình sở hữu, vận hành xe.
Hơn 267 triệu cổ phiếu sắp chào bán, PGBank tiến gần mốc vốn điều lệ 10.000 tỷ đồng

Hơn 267 triệu cổ phiếu sắp chào bán, PGBank tiến gần mốc vốn điều lệ 10.000 tỷ đồng

(TBTCO) - PGBank vừa được chấp thuận chào bán thêm gần 267,3 triệu cổ phiếu ra công chúng, tổng giá trị hơn 2.672,9 tỷ đồng, chia thành 2 đợt. Nếu hoàn tất kế hoạch, vốn điều lệ ngân hàng sẽ cán mốc 10.000 tỷ đồng, tạo dư địa cho PGBank mở rộng hoạt động kinh doanh và thực hiện các kế hoạch đầu tư giai đoạn tới.
TPBank hoàn tất nền tảng triển khai IRB, tự tin bước vào giai đoạn chuyển đổi theo Thông tư 14

TPBank hoàn tất nền tảng triển khai IRB, tự tin bước vào giai đoạn chuyển đổi theo Thông tư 14

(TBTCO) - Sở hữu các chỉ số tài chính mạnh là bệ phóng vững chắc để TPBank mở rộng quy mô một cách an toàn, hiệu quả và tối ưu hóa việc sử dụng vốn. Sau khi sớm hoàn tất phương pháp Tiêu chuẩn (SA), TPBank đã hoàn thiện các nền tảng trọng yếu về vốn, dữ liệu, mô hình đo lường rủi ro, công nghệ và quản trị để sẵn sàng trở thành một trong những ngân hàng đầu tiên tại Việt Nam hoàn thành Giai đoạn chuyển đổi sang phương pháp Xếp hạng nội bộ (IRB) vào năm 2027 theo quy định Thông tư 14 của Ngân hàng Nhà nước (NHNN).
Nhóm Ngân hàng Thế giới huy động vốn tư nhân ở mức kỷ lục cho các nước đang phát triển

Nhóm Ngân hàng Thế giới huy động vốn tư nhân ở mức kỷ lục cho các nước đang phát triển

(TBTCO) - Trong năm tài khóa 2026, Nhóm Ngân hàng Thế giới đã huy động được nguồn vốn tư nhân cao nhất từ trước đến nay, đồng thời phát hành bảo lãnh ở mức cao kỷ lục để hỗ trợ các nền kinh tế đang phát triển.
Bảo Việt Nhân thọ ra mắt phiên bản mới “An sinh giáo dục” – tiếp nối 30 năm đồng hành cùng tương lai các thế hệ Việt

Bảo Việt Nhân thọ ra mắt phiên bản mới “An sinh giáo dục” – tiếp nối 30 năm đồng hành cùng tương lai các thế hệ Việt

(TBTCO) - Nhân dịp kỷ niệm 30 năm thành lập, Tổng Công ty Bảo Việt Nhân thọ chính thức ra mắt phiên bản mới của sản phẩm “An Sinh Giáo Dục”. Đây là giải pháp bảo hiểm liên kết chung chuyên biệt dành cho trẻ em, kết hợp giữa tích lũy dài hạn và bảo vệ kép cho cả con và cha/mẹ, giúp các bậc phụ huynh chủ động chuẩn bị từ sớm cho tương lai con trẻ.
Fed tăng lãi suất lần đầu sau 3 năm, bài toán tỷ giá USD/VND và lãi suất cuối năm

Fed tăng lãi suất lần đầu sau 3 năm, bài toán tỷ giá USD/VND và lãi suất cuối năm

(TBTCO) - Fed tăng lãi suất lần đầu kể từ tháng 7/2023 hỗ trợ đồng USD. Tuy nhiên, áp lực tỷ giá USD/VND còn đến từ cung - cầu ngoại tệ trong nước, khi cán cân thương mại nhập siêu, nhà đầu tư nước ngoài mua 3,77 tỷ USD để rút vốn, chuyển lợi nhuận trong 7 tháng. Dư địa dự trữ ngoại hối hạn chế cũng đặt ra bài toán cân bằng tỷ giá và lãi suất.
Vietcombank trao tặng 500 triệu đồng cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn tại chương trình “Nghĩa tình Phương Nam - Cùng con đi tiếp cuộc đời” năm 2026

Vietcombank trao tặng 500 triệu đồng cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn tại chương trình “Nghĩa tình Phương Nam - Cùng con đi tiếp cuộc đời” năm 2026

(TBTCO) - Ngày 16/9/2026, tại Thành phố Hồ Chí Minh, chương trình nghệ thuật chính luận “Nghĩa tình Phương Nam - Cùng con đi tiếp cuộc đời” năm 2026 đã được tổ chức, đánh dấu chặng đường 5 năm chương trình “Cùng con đi tiếp cuộc đời” đồng hành, bảo trợ trẻ em mồ côi do đại dịch Covid-19.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 144,600 147,600
Hà Nội - PNJ 144,600 147,600
Đà Nẵng - PNJ 144,600 147,600
Miền Tây - PNJ 144,600 147,600
Tây Nguyên - PNJ 144,600 147,600
Đông Nam Bộ - PNJ 144,600 147,600
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,460 14,760
Miếng SJC Nghệ An 14,460 14,760
Miếng SJC Thái Bình 14,460 14,760
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,410 14,760
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,410 14,760
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,410 14,760
NL 99.99 13,600
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,500
Trang sức 99.9 14,070 14,670
Trang sức 99.99 14,080 14,680
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,446 14,762
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,446 14,763
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,441 1,471
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,441 1,472
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,416 1,461
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 137,653 144,653
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,936 109,736
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 89,708 99,508
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 7,948 8,928
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 75,535 85,335
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 5,128 6,108
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Cập nhật: 20/09/2026 09:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17982 18257 18841
CAD 18064 18339 18961
CHF 30990 31368 32030
CNY 0 3842 3938
EUR 29245 29465 30548
GBP 34044 34434 35374
HKD 0 3185 3388
JPY 159 162 169
KRW 0 18 20
NZD 0 14575 15165
SGD 19843 20125 20706
THB 696 759 813
USD (1,2) 25754 0 0
USD (5,10,20) 25793 0 0
USD (50,100) 25821 25835 26205
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,810 25,810 26,190
USD(1-2-5) 24,778 - -
USD(10-20) 24,778 - -
EUR 29,263 29,286 30,675
JPY 160.57 160.86 170.59
GBP 34,119 34,211 35,399
AUD 18,172 18,238 18,935
CAD 18,222 18,280 18,952
CHF 31,129 31,226 32,146
SGD 19,944 20,006 20,791
CNY - 3,807 3,953
HKD 3,247 3,257 3,394
KRW 17.31 18.05 19.65
THB 744.84 754.04 806.89
NZD 14,542 14,677 15,113
SEK - 2,603 2,697
DKK - 3,925 4,064
NOK - 2,707 2,802
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,947.58 - 6,714.78
TWD 737.16 - 892.54
SAR - 6,802.55 7,165.57
KWD - 82,316 87,591
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,790 25,820 26,200
EUR 29,305 29,423 30,618
GBP 34,129 34,266 35,290
HKD 3,247 3,260 3,378
CHF 31,017 31,142 32,082
JPY 162.53 163.18 171.16
AUD 18,165 18,238 18,831
SGD 20,035 20,115 20,705
THB 762 765 803
CAD 18,259 18,332 18,922
NZD 14,637 15,180
KRW 17.99 19.93
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25830 25830 26200
AUD 18186 18286 19208
CAD 18231 18331 19342
CHF 31126 31156 32741
CNY 3824.1 3849.1 3984.3
CZK 0 1190 0
DKK 0 4010 0
EUR 29420 29450 31176
GBP 34274 34324 36077
HKD 0 3305 0
JPY 161.19 161.69 172.2
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2820 0
NZD 0 14665 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2660 0
SGD 19984 20114 20836
THB 0 725.5 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14460000 14460000 14760000
SBJ 13000000 13000000 14760000
Cập nhật: 20/09/2026 09:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30