VietABank dự kiến tăng vốn gấp đôi, tăng tốc hoàn thành mục tiêu dang dở khi tái cơ cấu

Ánh Tuyết
(TBTCO) - VietABank tăng tốc triển khai hàng loạt kế hoạch lớn năm 2025. Nổi bật là tăng vốn điều lệ gấp đôi lên 11.582,4 tỷ đồng, đây là mức tăng cao nhất toàn ngành. Ngân hàng cũng dự kiến niêm yết cổ phiếu trên HoSE, hoặc HNX nhằm củng cố nền tảng tài chính, đồng thời, mở rộng hệ sinh thái tài chính.
aa
VietABank sắp đưa gần 445 triệu cổ phiếu chào sàn HNX Những ngân hàng "bé hạt tiêu" kinh doanh ra sao năm 2024?
Saigonbank đẩy mạnh tăng vốn, tham vọng lãi lớn 2025 nhưng nợ xấu đang tăng

Ngân hàng TMCP Việt Á (VietABank - Mã ck: VAB) dự kiến tổ chức Đại hội đồng cổ đông thường niên ngày 26/4 tại Hà Nội.

Tăng vốn lên gần 11.600 tỷ đồng, niêm yết cổ phiếu trên HoSE hoặc HNX

Đại hội sẽ thảo luận và xem xét những nội dung quan trọng như: kế hoạch kinh doanh 2025, phương án tăng vốn điều lệ năm 2025; tờ trình về việc phân phối lợi nhuận năm 2024; thông qua chủ trương đầu tư góp vốn, mua cổ phần và các vấn đề khác.

Trong năm 2025, Hội đồng Quản trị ngân hàng đề xuất kế hoạch lợi nhuận 1.306 tỷ đồng, tăng 20,3% so với kết quả thực hiện năm 2024. Về các chỉ tiêu khác, VietABank đặt mục tiêu tổng tài sản tăng 7,1% lên gần 128.381 tỷ đồng.

Trong đó, dư nợ tín dụng tăng 10,3% lên 88.110 tỷ đồng, ngân hàng định hướng tập trung phân khúc khách hàng cá nhân, hộ kinh doanh, doanh nghiệp siêu nhỏ và doanh nghiệp vừa và nhỏ; cấp tín dụng theo chuỗi dự án. Cùng với đó, tiền gửi khách hàng và phát hành giấy tờ có giá dự kiến sẽ tăng 9,3% lên 101.007 tỷ đồng. Tỷ lệ nợ xấu sẽ được kiểm soát dưới 3%.

Tại đại hội năm nay, ngân hàng VietABank dự kiến trình cổ đông phương án tăng vốn điều lệ nhằm nâng cao năng lực tài chính, quy mô và chất lượng tài sản sinh lời, tăng cường năng lực cạnh tranh.

Tại đại hội năm nay, VietABank trình cổ đông phương án tăng vốn điều lệ từ 5.399,6 tỷ đồng lên 11.582,4 tỷ đồng, tăng 115%, tương ứng tăng thêm 6.182,8 tỷ đồng thông qua ba hình thức.

Một là, phát hành cổ phiếu để tăng vốn cổ phần từ nguồn vốn chủ sở hữu và lợi nhuận còn lại chưa phân phối. Ngân hàng dự kiến phát hành tối đa hơn 285,1 triệu cổ phiếu, tương ứng tỷ lệ tối đa 52,8% (cổ đông sở hữu 100 cổ phiếu sẽ nhận được thêm 52,8 cổ phiếu mới). Tổng giá trị phát hành theo mệnh giá gần 2.851 tỷ đồng.

Hai là, phát hành cổ phiếu chào bán cho người lao động ESOP. Ngân hàng dự kiến phát hành 20 triệu cổ phiếu, tỷ lệ phát hành 3,7% với tổng giá trị 200 tỷ đồng. Thời gian hạn chế chuyển nhượng tối thiểu 01 năm kể từ ngày kết thúc đợt phát hành.

Ba là, phát hành cổ phiếu chào bán cho cổ đông hiện hữu thông qua phát hành hơn 313 triệu cổ phiếu, với tỷ lệ thực hiện quyền là 58%, tổng giá trị phát hành dự kiến là 3.131,8 tỷ đồng. Thời gian dự kiến phát hành trong năm 2025.

Tăng tốc năm 2025, VietABank dự kiến tăng vốn gấp đôi và hoàn thành ba mục tiêu dang dở tái cơ cấu
Nguồn: Báo Tài chính - Đầu tư tổng hợp.

Về tỷ lệ nắm giữ của một số cổ đông lớn, cuối năm 2024, Công ty cổ phần Tập đoàn Đầu tư Việt Phương là cổ đông tổ chức nắm giữ số lượng cổ phần cao nhất với gần 66 triệu cổ phiếu, chiếm tỷ lệ 12,21% vốn điều lệ của VAB. Công ty cổ phần Đầu tư phát triển Công nghiệp - Thương mại Củ Chi sở hữu gần 6,5 triệu cổ phần, chiếm tỷ lệ 1,2% VietABank…

Các cổ đông cá nhân sở hữu từ 1% vốn điều lệ VietABank gồm: ông Phương Hữu Việt (cựu Chủ tịch VietABank đồng thời là người sáng lập Việt Phương Group) nắm giữ 24,5 triệu cổ phiếu, tương ứng 4,55% vốn…

Bên cạnh đó, ngân hàng đặt mục tiêu niêm yết cổ phiếu trên Sở Giao dịch Chứng khoán TP. HCM (HoSE) hay Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX). Nhờ đó, nâng cao uy tín, vị thế, thương hiệu của VAB; tạo thuận lợi cho việc giao dịch cổ phiếu VAB của các cổ đông; đồng thời tranh thủ cơ hội thu hút nguồn vốn đầu tư thúc đẩy hoạt động của ngân hàng cũng như đẩy mạnh hình ảnh của VAB tới các nhà đầu tư chiến lược nước ngoài, tổ chức tài chính quốc tế.

Ba mục tiêu còn lại trong lộ trình tái cơ cấu

Kết quả hoạt động năm 2024 của VietABank có sự tăng trưởng tốt về hiệu quả hoạt động và quy mô. Các chỉ số tài chính cải thiện so với năm trước, hoàn thành 5/6 chỉ tiêu tài chính do Đại hội đồng cổ đông giao.

VietABank dự kiến tăng vốn gấp đôi, tăng tốc hoàn thành mục tiêu dang dở khi tái cơ cấu
Nguồn: VietABank.

Theo đó, lợi nhuận trước thuế đạt 1.086 tỷ đồng tăng 18,4%, đạt 103% kế hoạch được giao. Tổng tài sản đạt 119.832 tỷ đồng, đạt 102% so kế hoạch và tăng 6,8% so với năm 2023; tiền gửi khách hàng và phát hành giấy tờ có giá đạt 92.434 tỷ đồng, đạt 100% kế hoạch, tăng 6% so năm trước. Dư nợ tín dụng đạt 79.916 tỷ đồng, tăng 15,5% so năm trước, sử dụng 100% hạn mức tín dụng do Ngân hàng Nhà nước (NHNN) giao.

Nợ xấu tại VietABank được kiểm soát ở mức 1.091 tỷ đồng, giảm nhẹ 0,22% và chiếm 1,37% dư nợ cho vay, đảm bảo tỷ lệ nợ xấu nội bảng dưới 3% theo quy định của NHNN.

Riêng chỉ tiêu vốn điều lệ chưa đạt kế hoạch đề ra do VietABank chưa thực hiện tăng vốn điều lệ trong năm tài chính 2024 vì thị trường chứng khoán diễn biến chưa thuận lợi, thanh khoản và giá trị giao dịch bình quân cổ phiếu chưa cao.

Trong năm 2024, VAB cũng chủ động tổ chức triển khai, thực hiện phương án cơ cấu lại và tuân thủ chế độ báo cáo kết quả thực hiện hàng quý, hàng năm theo đúng chỉ đạo của NHNN. Đến cuối năm 2024, VAB hoàn thành 7/10 mục tiêu cơ cấu lại và còn 3/10 chỉ tiêu tài chính tiếp tục tập trung thực hiện bao gồm: tăng vốn điều lệ; tăng tỷ trọng thu nhập từ hoạt động phi tín dụng/tổng thu nhập và tăng trưởng hệ số an toàn vốn CAR.

Năm 2025, VAB tiếp tục triển khai quyết liệt các giải pháp để hoàn thành các mục tiêu đã xây dựng tại phương án cơ cấu lại giai đoạn 2021 - 2025.

Định hướng phát triển hệ sinh thái tài chính

Đại hội dự kiến trình cổ đông thông qua chủ trương đầu tư góp vốn/mua cổ phần, thành lập, mua lại công ty con, công ty liên kết để thực hiện hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực: bảo lãnh phát hành chứng khoán, môi giới chứng khoán, quản lý, phân phối chứng chỉ quỹ đầu tư chứng khoán; bảo hiểm, quản lý nợ, kiều hối, vàng, tín dụng tiêu dùng, dịch vụ thanh toán và thông tin tín dụng.

Dự kiến giá trị góp vốn, mua cổ phần từ 20% trở lên so với vốn điều lệ của ngân hàng ghi trong báo cáo tài chính đã được kiểm toán gần nhất nhưng tổng mức góp vốn, mua cổ phần của VAB vào các doanh nghiệp, kể cả các công ty con, công ty liên kết của VietABank không được vượt quá 40% vốn điều lệ và quỹ dự trữ của VietABank.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Cho vay trung, dài hạn mở thêm dư địa 1 triệu tỷ đồng, lợi thế thuộc về ngân hàng nào?

Cho vay trung, dài hạn mở thêm dư địa 1 triệu tỷ đồng, lợi thế thuộc về ngân hàng nào?

Việc nâng tỷ lệ tối đa sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn từ 30% lên 40% được kỳ vọng mở thêm khoảng 1 triệu tỷ đồng dư địa tín dụng cho nền kinh tế. VCBS dự báo dư nợ cho vay trung và dài hạn có thể tăng khoảng 23% kể từ đầu năm, nâng tỷ trọng lên 48 - 49%. Tuy nhiên, mức độ hưởng lợi sẽ phân hóa giữa các nhóm ngân hàng.
Nới trần vốn ngắn hạn, mở rộng dư địa cho vay trung và dài hạn

Nới trần vốn ngắn hạn, mở rộng dư địa cho vay trung và dài hạn

(TBTCO) - Thông tư 25/2026/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước được kỳ vọng giúp giảm áp lực huy động vốn, mở rộng dư địa cho vay trung và dài hạn, qua đó tăng khả năng cung ứng tín dụng cho các dự án hạ tầng, đầu tư quy mô lớn và hỗ trợ thanh khoản hệ thống.
TPBank và Tinh Hà “Say Hi”: Cuộc gặp gỡ của những thương hiệu tiên phong trải nghiệm và phong cách sống

TPBank và Tinh Hà “Say Hi”: Cuộc gặp gỡ của những thương hiệu tiên phong trải nghiệm và phong cách sống

(TBTCO) - Đồng hành cùng Tinh Hà Say Hi với vai trò Nhà tài trợ Kim cương là Ngân hàng TMCP Tiên Phong (TPBank) - luôn được biết đến với hình ảnh “ngân hàng dành cho giới trẻ” và chiến lược “lifestyle banking” - đưa banking đồng hành trong từng hơi thở của nhịp sống hiện đại.
Giá vàng hôm nay ngày 24/6: Vàng thế giới mất hơn 73 USD/ounce, vàng trong nước đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 24/6: Vàng thế giới mất hơn 73 USD/ounce, vàng trong nước đồng loạt giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm 73,41 USD/ounce xuống còn khoảng 4.110 USD/ounce. Bên cạnh đó, vàng miếng và vàng nhẫn trong nước đồng loạt đi xuống tại nhiều doanh nghiệp kinh doanh vàng lớn.
Prudential Việt Nam tiên phong nâng chuẩn đội ngũ tư vấn viên, góp phần xây dựng niềm tin bền vững ngành bảo hiểm

Prudential Việt Nam tiên phong nâng chuẩn đội ngũ tư vấn viên, góp phần xây dựng niềm tin bền vững ngành bảo hiểm

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Prudential Việt Nam (Prudential) chính thức triển khai chiến dịch Be The One - Start As One | Khởi đầu từ vị thế Tiên phong, chương trình tuyển dụng và phát triển thế hệ tư vấn viên mới, nhằm góp phần nâng cao chuẩn mực nghề tư vấn viên tài chính và hướng đến trải nghiệm khách hàng toàn diện hơn.
BVBank trước thềm niêm yết HOSE: Lợi nhuận bứt phá, nợ xấu còn "nặng gánh"

BVBank trước thềm niêm yết HOSE: Lợi nhuận bứt phá, nợ xấu còn "nặng gánh"

(TBTCO) - HOSE vừa chấp thuận niêm yết hơn 640,8 triệu cổ phiếu BVB của ngân hàng BVBank, mở đường cho kế hoạch chuyển sàn từ UPCoM sang HOSE sau nhiều năm chuẩn bị. Trong bối cảnh đó, BVBank ghi nhận lợi nhuận quý I/2026 tăng 168,8%, nhưng áp lực chất lượng tài sản vẫn hiện hữu khi quy mô nợ xấu gia tăng và nợ có khả năng mất vốn chiếm tỷ trọng cao.
Thông báo về việc khai trương hoạt động Chi nhánh Sở giao dịch 2 trực thuộc Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại

Thông báo về việc khai trương hoạt động Chi nhánh Sở giao dịch 2 trực thuộc Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc đặt trụ sở và chính thức khai trương hoạt động Chi nhánh Sở giao dịch 2.
Nới trần vốn ngắn hạn mở thêm dư địa tái định giá cổ phiếu ngân hàng

Nới trần vốn ngắn hạn mở thêm dư địa tái định giá cổ phiếu ngân hàng

(TBTCO) - Theo ông Lương Duy Phước - Giám đốc Phân tích, Công ty Chứng khoán Kafi, việc nâng tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung và dài hạn từ 30% lên 40% sẽ tạo thêm dư địa tăng trưởng tín dụng, hỗ trợ cải thiện kết quả kinh doanh và mở ra cơ hội tái định giá đối với nhóm cổ phiếu ngân hàng trong giai đoạn tới.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,300 ▼100K 14,600 ▼100K
Kim TT/AVPL 14,300 ▼100K 14,600 ▼100K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,300 ▼100K 14,600 ▼100K
Nguyên Liệu 99.99 13,100 ▼200K 13,300 ▼200K
Nguyên Liệu 99.9 13,050 ▼200K 13,250 ▼200K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,700 ▼200K 14,200 ▼200K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,650 ▼200K 14,150 ▼200K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,580 ▼200K 14,130 ▼200K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Hà Nội - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Đà Nẵng - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Miền Tây - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Tây Nguyên - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Đông Nam Bộ - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,250 ▼150K 14,620 ▼80K
Miếng SJC Nghệ An 14,250 ▼150K 14,620 ▼80K
Miếng SJC Thái Bình 14,250 ▼150K 14,620 ▼80K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,200 ▼50K 14,550 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,200 ▼50K 14,550 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,200 ▼50K 14,550 ▼50K
NL 99.90 12,900 ▼50K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 12,950 ▼50K
Trang sức 99.9 13,740 ▼50K 14,440 ▼50K
Trang sức 99.99 13,750 ▼50K 14,450 ▼50K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,432 ▲1288K 14,622 ▼80K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,432 ▲1288K 14,623 ▼80K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,431 ▼8K 1,461 ▼8K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,431 ▼8K 1,462 ▲1315K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,411 ▼8K 1,446 ▼8K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,168 ▲122472K 143,168 ▲128772K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,111 ▼600K 108,611 ▼600K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 88,988 ▼544K 98,488 ▼544K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,865 ▼488K 88,365 ▼488K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 7,496 ▼67931K 8,446 ▼76481K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,954 ▼334K 60,454 ▼334K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Cập nhật: 25/06/2026 16:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17645 17918 18491
CAD 17972 18247 18862
CHF 31822 32203 32842
CNY 0 3831 3924
EUR 29298 29518 30596
GBP 33930 34320 35253
HKD 0 3227 3429
JPY 155 160 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14561 15146
SGD 19769 20051 20618
THB 705 768 821
USD (1,2) 26059 0 0
USD (5,10,20) 26100 0 0
USD (50,100) 26129 26143 26456
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,136 26,136 26,456
USD(1-2-5) 25,091 - -
USD(10-20) 25,091 - -
EUR 29,435 29,459 30,794
JPY 158.56 158.85 168.05
GBP 34,096 34,188 35,284
AUD 17,842 17,906 18,537
CAD 18,173 18,231 18,856
CHF 32,067 32,167 33,029
SGD 19,906 19,968 20,699
CNY - 3,797 3,932
HKD 3,295 3,305 3,436
KRW 15.71 16.38 17.77
THB 752.21 761.5 813.84
NZD 14,557 14,692 15,096
SEK - 2,657 2,745
DKK - 3,938 4,067
NOK - 2,629 2,716
LAK - 0.9 1.25
MYR 5,979.03 - 6,738.5
TWD 748.34 - 904.41
SAR - 6,902.61 7,253.07
KWD - 83,317 88,439
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,116 26,136 26,456
EUR 29,333 29,451 30,630
GBP 34,037 34,174 35,183
HKD 3,290 3,303 3,419
CHF 31,856 31,984 32,893
JPY 158.69 159.33 167.11
AUD 17,806 17,878 18,464
SGD 19,942 20,022 20,598
THB 768 771 806
CAD 18,162 18,235 18,794
NZD 14,615 15,144
KRW 16.30 17.91
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26140 26140 26456
AUD 17803 17903 18828
CAD 18148 18248 19261
CHF 32032 32062 33644
CNY 3805.5 3830.5 3966
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29459 29489 31211
GBP 34178 34228 35996
HKD 0 3355 0
JPY 159.32 159.82 170.34
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14650 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19918 20048 20781
THB 0 732.8 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14320000 14320000 14620000
SBJ 13000000 13000000 14620000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,101 26,101 26,456
USD20 26,101 26,101 26,456
USD1 26,101 26,101 26,456
AUD 17,845 17,945 19,058
EUR 29,617 29,617 31,023
CAD 18,087 18,187 19,495
SGD 19,991 20,141 20,706
JPY 159.67 161.17 165.74
GBP 34,090 34,440 35,584
XAU 14,318,000 0 14,622,000
CNY 0 3,718 0
THB 0 768 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 25/06/2026 16:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80