Giá vàng hôm nay 21/3: Tăng giá phiên cuối tuần, vàng đang trở lại đường đua

Theo baoquocte.vn
Vàng đang trở lại trong tầm ngắm của các nhà đầu tư khi kim loại quý kết thúc tuần kết thúc tuần sát mốc 1.750 USD/ounce, dù lợi suất trái phiếu tăng đột biến.
aa

Giá vàng thế giới tăng nhờ hứng khoán toàn cầu liên tục lao dốc.

Giá vàng thế giới tăng nhờ hứng khoán toàn cầu liên tục lao dốc.

Thị trường vàng thế giới đã khép lại tuần giao dịch giữa tháng 3 với phiên phục hồi trở lại. Kết thúc phiên giao dịch tuần này, giá vàng thế giới hiện giao dịch tại mức giá 1.744,9-1.745,9 USD/ounce, tăng 9 USD/ounce so với phiên giao dịch liền kề.

Dù chưa lấy lại được đỉnh giá hơn 1.750 USD đạt được trong phiên giao dịch ngày 17/3 nhưng giá kim quý hiện vẫn cao hơn gần 20 USD so với cuối tuần trước, tương đương mức tăng gần 1%.

Trong nước, tại TP. Hồ Chí Minh, trong phiên mở cửa buổi sáng, Công ty Vàng bạc đá quý Sài Gòn điều chỉnh giá vàng SJC tăng 100.000 đồng ở chiều bán ra, giữ nguyên chiều mua vào so với phiên giao dịch trước đó, niêm yết giá vàng SJC ở 55,1 - 55,6 triệu đồng/lượng.

Tại Hà Nội, hệ thống Bảo tín Minh Châu điều chỉnh tăng ở cả hai chiều với giá vàng SJC, hiện niêm yết tại 55,18 - 55,59 (mua vào - bán ra). Giá vàng 999,9, thương hiệu vàng Rồng Thăng Long cũng được điều chỉnh tăng ở chiều bán, niêm yết ở 51,61 - 52,21 triệu đồng/lượng. Giá vàng trang sức giao dịch tại 50,95 - 52,05 triệu đồng/lượng.

Quy đổi giá vàng thế giới theo tỷ giá USD tại Vietcombank ở thời điểm tham chiếu (1 USD = 23.120 VND), giá vàng thế giới tương đương 48,58 triệu đồng/lượng, thấp hơn 6,92 triệu đồng/lượng so với giá bán ra của vàng SJC ở cùng thời điểm.

Xuất hiện yếu tố tích cực trên thị trường

Theo các tổ chức quốc tế, xu hướng đi lên bất ngờ của vàng xuất hiện trong phiên cuối tuần đến từ việc chứng khoán toàn cầu liên tục lao dốc. Phố Wall đã rời đỉnh kỉ lục ngày 19/3 và đa số các chỉ số chính tại châu Á cũng giảm điểm.

Thêm vào đó, đồng USD yếu đi so với các đồng tiền chính cũng là một yếu tố quan trọng giúp cho các nhà đầu tư vàng bằng tiền tệ khác có lợi thế. Hiện chỉ số USD neo quanh mức 91,743 điểm, giảm 0,14%.

Vàng cũng đang được hưởng lợi khi các Ngân hàng trung ương hàng đầu thế giới như Mỹ, Nhật Bản hay Anh đều giữ lãi suất thấp kỷ lục sau các cuộc họp chính sách tiền tệ tháng 3.

Ngoài ra, việc các quỹ đầu tư vàng hàng đầu thế giới ngừng bán vàng cũng là một động lực thúc đẩy giá vàng đi lên. Trong đó, lượng vàng nắm giữ của SPDR trong phiên hôm qua vẫn giữ nguyên ở mức 1.048,28 tấn.

Lợi suất trái phiếu chính phủ Mỹ kỳ hạn 10 năm đã vượt 1,75% trong phiên đêm 19/3, đạt mức cao nhất trong 14 tháng. Lợi suất trái phiếu chính phủ Mỹ kỳ hạn 30 năm cũng đã có thời điểm tăng 6 điểm cơ sở, vượt mốc 2,5% lần đầu tiên kể từ tháng 8/2019.

Tuần này, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) tiếp tục giữ mức lãi suất chủ chốt gần bằng 0% và dự báo sẽ không tăng lãi suất cho đến năm 2023 cũng như cam kết duy trì biện pháp mua trái phiếu.

Fed cho biết: “Các chỉ số về hoạt động kinh tế và việc làm đã tăng lên trong thời gian gần đây, mặc dù các ngành bị ảnh hưởng tiêu cực nhất bởi đại dịch Covid-19 vẫn còn yếu". Fed cũng đưa ra dự báo kinh tế khả quan hơn, dự đoán mức tăng trưởng kinh tế Mỹ trong năm nay là 6,5% do tỷ lệ thất nghiệp giảm.

Bên cạnh đó, Fed đã "ném một tia hy vọng" vào các thị trường vàng, khi họ thông báo sẽ không gia hạn quy định về đòn bẩy cho các ngân hàng lớn và sẽ cho phép nó hết hạn vào cuối tháng 3 theo lịch trình. Đáp lại, lợi suất trái phiếu tiếp tục tăng và thị trường chứng khoán lại ồ ạt bán tháo.

Chiến lược gia thị trường Phillip Streible của Blue Line Futures nhận định, trong khi chứng khoán và giá dầu đua nhau giảm giá, vàng vẫn giữ trên 1.730 USD/ounce.

"Giới đầu tư đã 'ngó lơ' vàng trong những tuần qua và chú ý tới chứng khoán. Nhưng bây giờ, khi kim loại quý đang tăng giá trở lại, một số nhà đầu tư đang bắt đầu xem xét vàng trong bối cảnh thị trường chứng khoán đang biến động'', ông Phillip Streible nói.

Charlie Nedoss, chiến lược gia thị trường cấp cao của LaSalle Futures Group cho biết, vàng đã được giao dịch tốt so với các mặt hàng khác, bao gồm cả bạc và đồng. Đây là những dấu hiệu tuyệt vời cho vàng thời gian tới.

Các nhà phân tích cũng chỉ ra rằng, căng thẳng địa chính trị cũng góp phần đưa vàng trở lại trong tầm ngắm của các nhà đầu tư. Tuần này, các quan chức hàng đầu của Mỹ và Trung Quốc đã có cuộc gặp lần đầu tiên kể từ khi ông Joe Biden nhậm chức. Hai bên đều chỉ trích nặng nề chính sách của nhau.

Theo Chiến lược gia Streible, sự không chắc chắn về địa chính trị sẽ tác động đến vàng. ''Nếu căng thẳng địa chính trị giữa các quốc gia leo thang, vàng có thể tiếp tục được coi là hàng rào trú ẩn an toàn và giới đầu tư sẽ tiếp tục quan tâm đến kim loại quý'', ông Streible nhấn mạnh.

Tuần này, trong 13 nhà phân tích đã tham gia cuộc khảo sát hàng tuần của Kitco News, 6 người (tương đương 46%) dự báo giá vàng tăng vào tuần tới; 4 người (31%) dự báo vàng sẽ giảm; 3 nhà phân tích (23%) cho rằng, giá vàng sẽ đi ngang.

Trong 1.698 phiếu khảo sát mà Kitco News nhận được, có tới 1.101 phiếu (tương đương 65%) tin giá vàng sẽ tăng vào tuần tới; 355 người khác (21%) dự báo giá vàng giảm; trong khi, 242 người (14%) cho ý kiến trung lập.

Theo baoquocte.vn

Theo baoquocte.vn

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 15/9: Giá vàng trong nước và thế giới cùng giảm

Giá vàng hôm nay ngày 15/9: Giá vàng trong nước và thế giới cùng giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm hơn 20 USD/ounce, xuống dưới mốc 4.300 USD/ounce. Trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt giảm, mức cao nhất 600.000 đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 14/9: Vàng thế giới lùi về 4.333 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 14/9: Vàng thế giới lùi về 4.333 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm 34 USD/ounce, xuống 4.333 USD/ounce. Trong nước, giá vàng giao dịch trong khoảng 142,5 - 147 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 13/9: Vàng trong nước đồng loạt tăng

Giá vàng hôm nay ngày 13/9: Vàng trong nước đồng loạt tăng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước tăng trở lại ở cả vàng miếng và vàng nhẫn, với mức điều chỉnh cao nhất 600.000 đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 12/9: Vàng trong nước giảm tới 1,4 triệu đồng

Giá vàng hôm nay ngày 12/9: Vàng trong nước giảm tới 1,4 triệu đồng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng 29 USD, giao dịch quanh mức 4.349 USD/ounce. Trong khi đó, thị trường trong nước ghi nhận mức giảm cao nhất 1,4 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 11/9: Vàng thế giới đảo chiều giảm mạnh

Giá vàng hôm nay ngày 11/9: Vàng thế giới đảo chiều giảm mạnh

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm 95 USD/ounce, xuống còn 4.320 USD/ounce. Trong nước, giá vàng giữ ổn định ở cả phân khúc vàng miếng và vàng nhẫn.
Giá vàng hôm nay ngày 10/9: Vàng thế giới tăng hơn 50 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 10/9: Vàng thế giới tăng hơn 50 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng hơn 50 USD, lên ngưỡng 4.403 USD/ounce. Trong nước, vàng miếng ổn định, trong khi vàng nhẫn biến động trái chiều.
Giá vàng hôm nay ngày 9/9: Vàng thế giới giảm mạnh, vàng trong nước quay đầu giảm

Giá vàng hôm nay ngày 9/9: Vàng thế giới giảm mạnh, vàng trong nước quay đầu giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm 55 USD, xuống còn 4.356 USD/ounce. Trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn cũng quay đầu giảm từ 1,1 - 1,2 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 8/9: Giá vàng thế giới và trong nước đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 8/9: Giá vàng thế giới và trong nước đồng loạt giảm

(TBTCO) - Vàng thế giới giảm hơn 10 USD/ounce, xuống còn 4.414 USD/ounce. Trong nước, vàng miếng giảm 1,1 triệu đồng, còn vàng nhẫn giảm tới 1,2 triệu đồng/lượng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,500 146,500
Hà Nội - PNJ 143,500 146,500
Đà Nẵng - PNJ 143,500 146,500
Miền Tây - PNJ 143,500 146,500
Tây Nguyên - PNJ 143,500 146,500
Đông Nam Bộ - PNJ 143,500 146,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,350 14,650
Miếng SJC Nghệ An 14,350 14,650
Miếng SJC Thái Bình 14,350 14,650
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,300 14,650
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,300 14,650
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,300 14,650
NL 99.99 13,600
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,500
Trang sức 99.9 13,960 14,560
Trang sức 99.99 13,970 14,570
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 1,465
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,435 14,652
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,435 14,653
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 143 146
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 143 1,461
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,405 145
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,564 143,564
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,111 108,911
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,896 9,876
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,809 88,609
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 74,893 84,693
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,821 60,621
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 1,465
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 1,465
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 1,465
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 1,465
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 1,465
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 1,465
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 1,465
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 1,465
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 1,465
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 1,465
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 1,465
Cập nhật: 17/09/2026 08:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18002 18276 18855
CAD 18131 18406 19025
CHF 31089 31467 32114
CNY 0 3833 3929
EUR 29359 29580 30663
GBP 34216 34607 35545
HKD 0 3183 3386
JPY 160 164 171
KRW 0 18 20
NZD 0 14665 15250
SGD 19875 20157 20729
THB 697 760 813
USD (1,2) 25734 0 0
USD (5,10,20) 25773 0 0
USD (50,100) 25801 25815 26185
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,795 25,795 26,175
USD(1-2-5) 24,764 - -
USD(10-20) 24,764 - -
EUR 29,416 29,440 30,834
JPY 163.06 163.35 173.25
GBP 34,397 34,490 35,683
AUD 18,184 18,250 18,942
CAD 18,296 18,355 19,034
CHF 31,351 31,448 32,379
SGD 19,987 20,049 20,836
CNY - 3,799 3,945
HKD 3,245 3,255 3,392
KRW 17.51 18.26 19.87
THB 744.86 754.06 807.4
NZD 14,630 14,766 15,207
SEK - 2,613 2,706
DKK - 3,945 4,085
NOK - 2,732 2,832
LAK - 0.89 1.23
MYR 5,937.59 - 6,710.11
TWD 738.52 - 894.19
SAR - 6,798.41 7,161.28
KWD - 82,348 87,627
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,750 25,780 26,160
EUR 29,398 29,516 30,712
GBP 34,354 34,492 35,521
HKD 3,243 3,256 3,373
CHF 31,158 31,283 32,218
JPY 163.09 163.74 171.72
AUD 18,168 18,241 18,834
SGD 20,038 20,118 20,709
THB 760 763 800
CAD 18,306 18,380 18,970
NZD 14,678 15,221
KRW 18.12 20.06
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25820 25820 26180
AUD 18185 18285 19207
CAD 18314 18414 19429
CHF 31333 31363 32945
CNY 3816.2 3841.2 3976.2
CZK 0 1190 0
DKK 0 4010 0
EUR 29553 29583 31305
GBP 34518 34568 36326
HKD 0 3305 0
JPY 164.12 164.62 175.14
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2820 0
NZD 0 14765 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2660 0
SGD 20037 20167 20890
THB 0 725.8 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14350000 14350000 14650000
SBJ 13000000 13000000 14650000
Cập nhật: 17/09/2026 08:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30