Giải pháp nào để xây dựng hệ thống an sinh xã hội bền vững?

Mai Lâm
(TBTCVN) - Theo các chuyên gia, Bảo hiểm Xã hội (BHXH) Việt Nam đang đối mặt với không ít khó khăn, thách thức trong phát triển hệ thống an sinh xã hội (ASXH) bền vững nhằm ứng phó tốt hơn trước những tác động mạnh mẽ của quá trình toàn cầu hóa, già hóa dân số và cách mạng công nghiệp 4.0.
aa

bhxh

Đại lý thu vận động tham gia BHXH tự nguyện tại Hà Nội.

Khó khăn trong xây dựng chính sách

Tại hội thảo quốc tế “Phát triển hệ thống ASXH bền vững - Hàm ý và cơ hội đối với Việt Nam” diễn ra mới đây, Phó Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam Đào Việt Ánh cho biết, BHXH Việt Nam đang đối mặt với thách thức về mặt quản lý, xây dựng chính sách. Theo ông Ánh, tại Việt Nam diện bao phủ BHXH khu vực phi chính thức tăng nhanh qua từng năm, nhưng cũng mới chỉ đạt 32% người dân tham gia BHXH và vẫn còn 10% người dân chưa có bảo hiểm y tế (BHYT). Tiếp đó là thách thức về quản lý chi phí khám chữa bệnh BHYT. Phương thức thanh toán đang áp dụng là thanh toán theo dịch vụ. Tuy nhiên, trong điều kiện chi phí ngày càng nâng cao, cơ sở khám chữa bệnh thực hiện cơ chế tự chủ, Chính phủ áp dụng không tăng mức đóng thì việc quản lý chi phí khám chữa bệnh BHYT thực sự là một thách thức. Một thách thức nữa là vấn đề thiết kế tổ chức thực hiện các chính sách ASXH trong bối cảnh già hóa dân số và cuộc cách mạng công nghiệp 4.0. Việt Nam là nước có độ mở kinh tế cao, nên việc dịch chuyển lao động trong bối cảnh này là rất lớn. Cuộc cách mạng 4.0 không chỉ tác động về thị trường lao động mà còn tác động trực tiếp đến phương thức tổ chức cung cấp dịch vụ đối với người dân của chính sách BHXH. Thách thức nữa là nhận thức và tính tuân thủ pháp luật của người dân và doanh nghiệp; thách thức yêu cầu ngày càng cao của Chính phủ và người dân đối với BHXH Việt Nam.

Cho ý kiến về vấn đề này, ông Marcelo Caetano, Tổng Thư ký Hiệp hội ASXH quốc tế (ISSA) cho rằng, với khu vực châu Á - Thái Bình Dương, trong đó có Việt Nam, hiện có 4 thách thức lớn nhất mà các cơ quan ASXH cần quan tâm giải quyết. Thách thức đầu tiên là khoảng cách bất bình đẳng về tiếp cận ASXH giữa các nhóm đối tượng còn lớn khi độ bao phủ BHXH với người già mới đạt trên 50%, người dễ bị tổn thương 16,4% và người khuyết tật nặng mới đạt dưới 10%. Thách thức thứ 2 là nhu cầu chăm sóc sức khỏe của các bệnh mãn tính. Hiện tỷ lệ chi từ tiền túi cho y tế của người dân khu vực này vẫn ở mức cao, trong khi các bệnh mãn tính, không lây nhiễm như đái tháo đường, huyết áp cao có sự gia tăng nhanh chóng. Thứ ba là thách thức từ kỳ vọng ngày càng cao của người dân về chất lượng dịch vụ. Theo nghiên cứu 38% người dân Châu Á - Thái Bình Dương thích sử dụng công nghệ số trong thụ hưởng các chính sách ASXH (cao hơn mức 25% toàn cầu). Thách thức thứ tư là vấn đề già hóa dân số với tốc độ già hóa ngày càng tăng nhanh.

Tăng cường diện bao phủ với một hệ thống ASXH đa tầng

Để giải quyết vấn đề trên, Tổng Thư ký ISSA khuyến nghị, các tổ chức ASXH cần đổi mới, sáng tạo trong thiết kế và thực hiện các chế độ, chính sách; tìm kiếm giải pháp tăng cường khả năng tiếp cận cho người lao động chính thức; ứng dụng công nghệ thông tin, tăng cường truyền thông. Bên cạnh đó, cần tăng cường hỗ trợ chăm sóc ban đầu, chăm sóc tại cộng đồng; giảm gánh nặng về tài chính và các rào cản khác về chăm sóc y tế; tăng cường các mô hình chăm sóc dài hạn. Ngoài ra, cần tăng đối tượng hưởng hưu trí và dịch vụ chăm sóc dài hạn; hỗ trợ khả năng hoạt động, làm việc của người cao tuổi; bên cạnh đó cần đảm bảo bền vững quỹ BHXH trên nguyên tắc đóng - hưởng; tăng cường ứng dụng công nghệ điện tử, di động để nâng cao hiệu quả phục vụ…

Về phía BHXH Việt Nam, ông Đào Việt Ánh cũng nêu ra các giải pháp của BHXH Việt Nam trong thời gian tới. Đó là tiếp tục cải cách chính sách BHXH, BHYT linh hoạt, đa dạng, đa tầng, hiện đại, hội nhập, đóng - hưởng công bằng, bình đẳng, chia sẻ, bền vững. Song song với đó là tập trung phát triển BHXH tự nguyện, BHYT hộ gia đình; tăng cường truyền thông, thanh tra kiểm tra, xử lý vi phạm. Đồng thời, tăng cường đào tạo, hợp tác quốc tế; nâng cao năng lực tổ chức thực hiện, bao gồm cả ứng dụng công nghệ thông tin, cải cách thủ tục hành chính.

Chia sẻ kinh nghiệm quốc tế, đại diện Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) khuyến nghị, Chính phủ, BHXH Việt Nam cần tiếp tục thực hiện đồng bộ các giải pháp để xây dựng một hệ thống ASXH bền vững. Trong đó, cần tăng cường diện bao phủ BHXH, BHYT với một hệ thống ASXH đa tầng, đặc biệt là nhóm lao động phi chính thức; tăng cường kết nối giữa chế độ hưu trí BHXH và hưu trí xã hội phi đóng góp (trợ giúp xã hội); tăng cường sự tuân thủ pháp luật thông qua thanh tra ASXH và điều phối; cải cách thủ tục và quy định thân thiện với người tham gia; đảm bảo dịch vụ y tế có chất lượng có thể tiếp cận được và sẵn sàng ở mọi cấp, kể cả y tế cơ sở; tăng cường, đổi mới công tác truyền thông hướng đến mọi người tham gia…

Theo ông Chang Hee Lee - Giám đốc Văn phòng ILO Việt Nam, để bao phủ BHXH tới mọi NLĐ như Nghị quyết số 28-NQ/TW đã đề ra, cần tăng cường sự phù hợp và tuân thủ, vai trò của thanh tra ASXH, điều phối ASXH, tính đầy đủ của các dịch vụ thông qua sự kết hợp các hoạt động khác nhau. Cụ thể như: triển khai thực thi luật phải xác định kê khai thu nhập, công thức tính lương hưu từ tính trung bình lương cơ sở theo chỉ số CPI, giảm hưởng BHXH 1 lần... Ông Lee cho rằng, BHXH Việt Nam đã đổi mới công nghệ để tăng cường tính tuân thủ pháp luật, song cần nâng cao hơn nữa năng lực quản lý, nỗ lực hơn nữa đảm bảo BHXH đến mọi người lao động…

Mai Lâm

Mai Lâm

Đọc thêm

VietinBank ghi dấu ấn quốc tế với hai giải thưởng ngân hàng doanh nghiệp

VietinBank ghi dấu ấn quốc tế với hai giải thưởng ngân hàng doanh nghiệp

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam (VietinBank) tiếp tục khẳng định vị thế trên thị trường quốc tế khi đồng thời được vinh danh tại hai giải thưởng quốc tế quan trọng: “Ngân hàng dành cho Khách hàng doanh nghiệp tốt nhất Việt Nam” và “Nền tảng số dành cho đơn vị chấp nhận thanh toán tốt nhất Việt Nam” trong khuôn khổ International Finance Awards 2025.
Bảo hiểm PTI hạ mục tiêu lợi nhuận, "để ngỏ" phương án chia cổ tức tiền mặt 10%

Bảo hiểm PTI hạ mục tiêu lợi nhuận, "để ngỏ" phương án chia cổ tức tiền mặt 10%

Bảo hiểm PTI dự kiến trình Đại hội đồng cổ đông kế hoạch kinh doanh năm 2026 với doanh thu bảo hiểm 4.139 tỷ đồng và lợi nhuận trước thuế 320 tỷ đồng, giảm 14,2%. Doanh nghiệp tiếp tục định hướng tăng trưởng thận trọng, tối ưu hiệu quả. Đồng thời, PTI dự kiến phát hành cổ phiếu tăng vốn theo tỷ lệ 2:1 và "để ngỏ" phương án chia cổ tức tiền mặt 10%.
Vững đà tăng trưởng, VietCredit tiếp tục mở rộng mảng vay tiêu dùng cá nhân

Vững đà tăng trưởng, VietCredit tiếp tục mở rộng mảng vay tiêu dùng cá nhân

(TBTCO) - Trong bối cảnh nhu cầu tài chính cá nhân gia tăng và hành vi người dùng dịch chuyển mạnh sang môi trường số, VietCredit đẩy mạnh hệ sinh thái Tin Vay - giải pháp vay tiêu dùng cá nhân tích giúp người Việt tiếp cận khoản vay nhanh chóng và thuận tiện.
Manulife Việt Nam chi trả hơn 9.000 tỷ đồng quyền lợi bảo hiểm cho khách hàng trong năm 2025

Manulife Việt Nam chi trả hơn 9.000 tỷ đồng quyền lợi bảo hiểm cho khách hàng trong năm 2025

(TBTCO) - Manulife Việt Nam vừa công bố báo cáo tài chính năm 2025 với kết quả kinh doanh tích cực, tiếp tục khẳng định định hướng lấy khách hàng làm trọng tâm trong hoạt động vận hành và phát triển sản phẩm và dịch vụ.
Những 'mảnh ghép' nào định hình câu chuyện tăng trưởng VPBankS năm 2026

Những 'mảnh ghép' nào định hình câu chuyện tăng trưởng VPBankS năm 2026

(TBTCO) - Với mục tiêu lợi nhuận trước thuế hơn 6.450 tỷ đồng năm 2026, VPBankS đang bước vào giai đoạn tăng tốc mới, nơi các cấu phần kinh doanh cốt lõi được định vị rõ ràng hơn. Trong bối cảnh đó, việc thị trường chứng khoán Việt Nam vừa chính thức được nâng hạng kỳ vọng sẽ trở thành “lực đẩy” quan trọng.
Tỷ giá USD hôm nay (8/4): Tỷ giá trung tâm giảm nhẹ, USD suy yếu sau thông tin Mỹ - Iran đàm phán ngừng bắn

Tỷ giá USD hôm nay (8/4): Tỷ giá trung tâm giảm nhẹ, USD suy yếu sau thông tin Mỹ - Iran đàm phán ngừng bắn

(TBTCO) - Sáng ngày 8/4, tỷ giá trung tâm giảm 2 đồng xuống 25.106 VND/USD; tỷ giá ngân hàng dao động trong biên độ 23.850,7 - 26.361,3 VND/USD, còn thị trường tự do đi ngang. Trên thị trường quốc tế, DXY giảm 0,88% xuống 98,98 điểm, mất mốc quan trọng 100 điểm sau khi thông tin Mỹ - Iran đàm phán ngừng bắn.
SHB nâng cao nền tảng vốn, tạo đà kế hoạch kinh doanh bứt phá năm 2026

SHB nâng cao nền tảng vốn, tạo đà kế hoạch kinh doanh bứt phá năm 2026

(TBTCO) - Trong lộ trình tăng tốc năm 2026, SHB đang đồng thời triển khai hai trụ cột quan trọng: nâng cao nền tảng vốn, nâng chuẩn quản trị theo thông lệ quốc tế; song song với đó là thúc đẩy kế hoạch kinh doanh bứt phá trên nền tảng chuyển đổi mạnh mẽ, toàn diện và định hướng phát triển bám sát các chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước. Đây là bước đi quan trọng để Ngân hàng nâng cao năng lực cạnh tranh, mở rộng cơ hội tiếp cận dòng vốn quốc tế và tiếp tục gia tăng giá trị bền vững cho cổ đông.
Giá vàng hôm nay ngày 8/4: Giá vàng trong nước lùi về vùng 169 - 172,5 triệu đồng

Giá vàng hôm nay ngày 8/4: Giá vàng trong nước lùi về vùng 169 - 172,5 triệu đồng

(TBTCO) - Sáng ngày 8/4, giá vàng trong nước tiếp tục giảm tại nhiều doanh nghiệp lớn, đưa mặt bằng giao dịch vàng miếng và vàng nhẫn lùi về quanh vùng 169 - 172,5 triệu đồng/lượng.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,100 ▲150K 17,500 ▲250K
Kim TT/AVPL 17,110 ▲170K 17,510 ▲260K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,080 ▲150K 17,480 ▲240K
Nguyên Liệu 99.99 15,890 ▲390K 16,090 ▲390K
Nguyên Liệu 99.9 15,840 ▲390K 16,040 ▲390K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,860 ▲240K 17,260 ▲240K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,810 ▲240K 17,210 ▲240K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,740 ▲240K 17,190 ▲240K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 171,000 ▲2000K 174,500 ▲2500K
Hà Nội - PNJ 171,000 ▲2000K 174,500 ▲2500K
Đà Nẵng - PNJ 171,000 ▲2000K 174,500 ▲2500K
Miền Tây - PNJ 171,000 ▲2000K 174,500 ▲2500K
Tây Nguyên - PNJ 171,000 ▲2000K 174,500 ▲2500K
Đông Nam Bộ - PNJ 171,000 ▲2000K 174,500 ▲2500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,100 ▲150K 17,500 ▲250K
Miếng SJC Nghệ An 17,100 ▲150K 17,500 ▲250K
Miếng SJC Thái Bình 17,100 ▲150K 17,500 ▲250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,100 ▲200K 17,400 ▲200K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,100 ▲200K 17,400 ▲200K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,100 ▲200K 17,400 ▲200K
NL 99.90 15,620 ▲120K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,650 ▲120K
Trang sức 99.9 16,590 ▲200K 17,290 ▲200K
Trang sức 99.99 16,600 ▲200K 17,300 ▲200K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 171 ▼1524K 175 ▼1550K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 171 ▼1524K 17,502 ▲250K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 171 ▼1524K 17,503 ▲250K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,705 ▲1536K 1,745 ▲1573K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,705 ▲1536K 1,746 ▲25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,685 ▲1518K 173 ▼1532K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 164,787 ▲2475K 171,287 ▲2475K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 121,013 ▲1875K 129,913 ▲1875K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 108,902 ▲1700K 117,802 ▲1700K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 96,791 ▲1526K 105,691 ▲1526K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 92,119 ▲1458K 101,019 ▲1458K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 63,398 ▲1042K 72,298 ▲1042K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 171 ▼1524K 175 ▼1550K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 171 ▼1524K 175 ▼1550K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 171 ▼1524K 175 ▼1550K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 171 ▼1524K 175 ▼1550K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 171 ▼1524K 175 ▼1550K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 171 ▼1524K 175 ▼1550K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 171 ▼1524K 175 ▼1550K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 171 ▼1524K 175 ▼1550K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 171 ▼1524K 175 ▼1550K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 171 ▼1524K 175 ▼1550K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 171 ▼1524K 175 ▼1550K
Cập nhật: 08/04/2026 22:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17992 18266 18839
CAD 18448 18725 19343
CHF 32718 33103 33747
CNY 0 3800 3870
EUR 30121 30395 31423
GBP 34550 34942 35876
HKD 0 3231 3433
JPY 159 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 15004 15594
SGD 20109 20392 20909
THB 737 800 855
USD (1,2) 26068 0 0
USD (5,10,20) 26109 0 0
USD (50,100) 26137 26157 26361
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,141 26,141 26,361
USD(1-2-5) 25,096 - -
USD(10-20) 25,096 - -
EUR 30,391 30,415 31,672
JPY 162.51 162.8 171.58
GBP 34,854 34,948 35,934
AUD 18,350 18,416 18,998
CAD 18,724 18,784 19,358
CHF 33,123 33,226 33,987
SGD 20,314 20,377 21,056
CNY - 3,795 3,916
HKD 3,304 3,314 3,432
KRW 16.55 17.26 18.66
THB 786.48 796.19 847.21
NZD 15,102 15,242 15,599
SEK - 2,799 2,880
DKK - 4,067 4,184
NOK - 2,710 2,794
LAK - 0.91 1.26
MYR 6,206.3 - 6,966.87
TWD 751.33 - 904.58
SAR - 6,915.29 7,238.87
KWD - 83,845 88,661
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,111 26,141 26,361
EUR 30,167 30,288 31,468
GBP 34,634 34,773 35,777
HKD 3,292 3,305 3,420
CHF 32,701 32,832 33,759
JPY 162.18 162.83 170.17
AUD 18,226 18,299 18,889
SGD 20,274 20,355 20,937
THB 799 802 838
CAD 18,668 18,743 19,308
NZD 14,997 15,526
KRW 17.06 18.74
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26219 26219 26361
AUD 18184 18284 19207
CAD 18636 18736 19751
CHF 32977 33007 34590
CNY 3795.5 3820.5 3956.7
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 30310 30340 32065
GBP 34849 34899 36663
HKD 0 3355 0
JPY 162.67 163.17 173.71
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.2 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15122 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2790 0
SGD 20272 20402 21125
THB 0 767.3 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17100000 17100000 17500000
SBJ 15000000 15000000 17500000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,155 26,205 26,361
USD20 26,155 26,205 26,361
USD1 26,155 26,205 26,361
AUD 18,296 18,396 19,502
EUR 30,469 30,469 31,877
CAD 18,614 18,714 20,019
SGD 20,355 20,505 21,450
JPY 163.27 164.77 169.31
GBP 34,739 35,089 36,220
XAU 17,198,000 0 17,552,000
CNY 0 3,705 0
THB 0 802 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 08/04/2026 22:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80