SHB nâng cao nền tảng vốn, tạo đà kế hoạch kinh doanh bứt phá năm 2026

(TBTCO) - Trong lộ trình tăng tốc năm 2026, SHB đang đồng thời triển khai hai trụ cột quan trọng: nâng cao nền tảng vốn, nâng chuẩn quản trị theo thông lệ quốc tế; song song với đó là thúc đẩy kế hoạch kinh doanh bứt phá trên nền tảng chuyển đổi mạnh mẽ, toàn diện và định hướng phát triển bám sát các chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước. Đây là bước đi quan trọng để Ngân hàng nâng cao năng lực cạnh tranh, mở rộng cơ hội tiếp cận dòng vốn quốc tế và tiếp tục gia tăng giá trị bền vững cho cổ đông.
aa

Tăng sức hút với nhà đầu tư và các tổ chức tài chính quốc tế

SHB đang tích cực triển khai phương án tăng vốn điều lệ lên 53.442 tỷ đồng, qua đó không chỉ gia tăng năng lực tài chính mà còn nâng cao các chỉ tiêu an toàn hoạt động, tạo nền tảng để đáp ứng tốt hơn các chuẩn mực quốc tế trong quản trị ngân hàng. Theo kế hoạch, Ngân hàng phát hành tổng cộng 750 triệu cổ phiếu, bao gồm phát hành riêng lẻ, chào bán cho cổ đông hiện hữu và ESOP cho người lao động. Nếu hoàn tất thành công, SHB dự kiến bổ sung hơn 10.000 tỷ đồng nguồn vốn, bao gồm cả thặng dư vốn, qua đó vươn lên nhóm TOP 4 ngân hàng TMCP tư nhân lớn nhất Việt Nam.

SHB nâng cao nền tảng vốn, tạo đà kế hoạch kinh doanh bứt phá năm 2026
SHB nâng cao nền tảng vốn, tạo đà kế hoạch kinh doanh bứt phá năm 2026

Việc tăng vốn không chỉ mang ý nghĩa mở rộng quy mô, mà quan trọng hơn là giúp SHB nâng cao các chỉ số an toàn vốn, tăng năng lực chống chịu và đáp ứng tốt hơn yêu cầu quản trị rủi ro theo chuẩn mực quốc tế. Đây là những yếu tố đặc biệt được nhà đầu tư nước ngoài, các định chế tài chính lớn và các tổ chức xếp hạng, tín dụng quốc tế quan tâm khi đánh giá một ngân hàng. Trong lĩnh vực tài chính – ngân hàng, nền tảng vốn, hệ số an toàn vốn (CAR), quản trị rủi ro, khả năng tuân thủ Basel và chất lượng tài sản không chỉ phản ánh sức khỏe tài chính, mà còn gắn trực tiếp với uy tín, khả năng huy động vốn và mức độ tín nhiệm trên thị trường quốc tế.

Thực tế, SHB hiện có tỷ lệ an toàn vốn CAR đạt gần 12,6%, vượt khá xa mức tối thiểu theo quy định của Ngân hàng Nhà nước và nằm trong nhóm cao trong hệ thống. Từ năm 2023, SHB cũng là một trong số ít ngân hàng sớm áp dụng các tiêu chuẩn Basel III trong quản lý rủi ro thanh khoản với sự đánh giá tuân thủ của đơn vị tư vấn quốc tế. Đây là nền tảng quan trọng để ngân hàng không chỉ củng cố nội lực, mà còn nâng cao sức hấp dẫn với dòng vốn ngoại trong bối cảnh thị trường tài chính toàn cầu ngày càng đề cao các chuẩn mực minh bạch, an toàn và quản trị hiện đại.

Sức hút của SHB đã được phản ánh phần nào qua phương án phát hành riêng lẻ, với sự quan tâm đăng ký từ nhiều định chế tài chính và quỹ đầu tư lớn như Dragon Capital, KIM, VinaCapital, PVI, FPT Capital…

Trong năm 2025, SHB liên tiếp huy động thành công hai khoản vay hợp vốn trung hạn bằng USD theo tiêu chí ESG (môi trường – xã hội – quản trị) với tổng quy mô 600 triệu USD. Cả hai giao dịch đều ghi nhận mức quan tâm cao từ thị trường quốc tế: khối lượng đăng ký tham gia vượt hạn mức chào mời ban đầu, qua đó SHB thực hiện quyền chọn tăng quy mô huy động (greenshoe) để tối ưu hóa cơ cấu nguồn vốn và đáp ứng nhu cầu tài trợ các dự án xanh. Chuỗi giao dịch thu hút tổng cộng 26 định chế tài chính quốc tế tham gia, phản ánh sức hấp dẫn và uy tín của SHB đối với cộng đồng các nhà đầu tư/định chế cho vay quốc tế, đồng thời cho thấy xu hướng dịch chuyển mạnh của dòng vốn toàn cầu vào các giao dịch đáp ứng tiêu chí ESG tại Việt Nam.

SHB đã và đang thực hiện các kế hoạch huy động vốn nước ngoài với hạn mức tổng giá trị thực hiện và đang đàm phán lên đến 1 tỷ USD. Theo thông tin từ báo cáo của ABS, ngân hàng dự kiến nhận khoản vay 350 triệu USD kỳ hạn 3 năm từ tổ chức nước ngoài trong quý I/2026 và tiếp tục đàm phán khoản vay 500 triệu USD với kỳ hạn 3–5 năm.

Những diễn biến này cho thấy việc nâng cao năng lực vốn, chuẩn hóa quản trị và kiểm soát rủi ro không chỉ là yêu cầu nội tại, mà đang trực tiếp mở rộng dư địa huy động vốn và hợp tác quốc tế cho SHB.

Kế hoạch kinh doanh bứt phá, chuyển đổi toàn diện và tiếp tục gia tăng giá trị cho cổ đông

Trên nền tảng vốn được củng cố, SHB bước vào năm 2026 với kế hoạch kinh doanh mang tính bứt phá. Cùng với đó, tiến trình chuyển nhượng 50% vốn còn lại tại SHB Finance cho Krungsri, thành viên thuộc Tập đoàn MUFG (Nhật Bản), dự kiến hoàn tất sớm nhất trong quý II/2026, được kỳ vọng mang lại nguồn thặng dư vốn đáng kể và giúp SHB tập trung nguồn lực cho các mảng kinh doanh cốt lõi.

SHB nâng cao nền tảng vốn, tạo đà kế hoạch kinh doanh bứt phá năm 2026
SHB nâng cao nền tảng vốn, tạo đà kế hoạch kinh doanh bứt phá năm 2026

Điểm đáng chú ý là kế hoạch bứt phá của SHB không chỉ dựa vào mở rộng quy mô tín dụng, mà được đặt trên nền tảng chiến lược dài hạn và mô hình tăng trưởng mới. Ngân hàng kiên định vai trò ngân hàng dẫn vốn, cung cấp các dịch vụ giải pháp tài chính gắn sự phát triển của mình với các trụ cột then chốt của nền kinh tế, đồng thời tiếp tục chiến lược hợp tác sâu với các tập đoàn, tổng công ty, doanh nghiệp lớn trong và ngoài nước để mở rộng hệ sinh thái khách hàng, phát triển nhóm SME trong chuỗi giá trị và tiếp cận khách hàng cá nhân. Mô hình này không chỉ giúp mở rộng tín dụng theo hệ sinh thái, tối ưu khả năng bán chéo và gia tăng chất lượng khách hàng, mà còn góp phần kiểm soát rủi ro tốt hơn nhờ bám sát dòng tiền toàn chuỗi.

Bên cạnh đó, SHB đang thực hiện quá trình chuyển đổi mạnh mẽ và toàn diện từ trong ra ngoài. Từ góc độ khách hàng, SHB đẩy mạnh hệ sinh thái ưu đãi, tích điểm, gia tăng trải nghiệm và mở rộng nguồn thu phí dịch vụ, qua đó từng bước dịch chuyển cơ cấu thu nhập theo hướng bền vững hơn, giảm phụ thuộc vào tín dụng. Đặc biệt, chuyển đổi số tiếp tục được xác định là trụ cột chiến lược với định hướng Future SHB dựa trên 5 yếu tố: Data + AI First, People First, Cloud First, Security First và Mobile First, tích hợp công nghệ vào toàn bộ quy trình kinh doanh từ thẩm định tín dụng, quản trị rủi ro đến cá nhân hóa sản phẩm và chăm sóc khách hàng. Các sản phẩm như SHB SAHA, SHB Corporate cũng cho thấy bước tiến cụ thể trong mở rộng năng lực phục vụ và gia tăng doanh thu ngoài lãi.

Ở góc độ rộng hơn, chiến lược phát triển của SHB cho thấy sự đồng điệu với các định hướng lớn của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế Nhà nước, kinh tế tư nhân, thúc đẩy chuyển đổi số, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, phát triển xanh và hội nhập quốc tế. Việc ngân hàng tăng vốn, nâng chuẩn quản trị, mở rộng hợp tác với các định chế quốc tế, phát triển tài trợ chuỗi cung ứng, đồng hành cùng doanh nghiệp lớn, SME và khách hàng bán lẻ trong hệ sinh thái… phản ánh một cách tiếp cận phát triển không chỉ phục vụ tăng trưởng nội tại, mà còn đặt SHB trong dòng chảy lớn hơn của nền kinh tế.

Với nền tảng tăng trưởng bền vững và kết quả kinh doanh liên tục ghi chinh phục những cột mốc mới, SHB tiếp tục duy trì chính sách cổ đông ổn định và hấp dẫn trong nhiều năm liên tiếp. Ngân hàng liên tục duy trì tỷ lệ chi trả cổ tức ở mức 16–18% nhiều năm liền, trong đó tỷ lệ cổ tức tiền mặt 5%. Riêng năm 2024, SHB trả cổ tức tỷ lệ 18% gồm 13% bằng cổ phiếu và 5% bằng tiền mặt. Ngân hàng vừa đảm bảo nguồn lực cho tăng trưởng dài hạn, vừa tiếp tục mang lại lợi ích thiết thực, đều đặn cho cổ đông. Điều này cho thấy SHB không chỉ theo đuổi mục tiêu tăng trưởng quy mô, mà còn chú trọng cân bằng giữa mở rộng đầu tư, nâng cao năng lực cạnh tranh và bảo đảm hiệu quả sinh lời bền vững cho nhà đầu tư. Tỷ lệ cổ tức năm 2025-2026, SHB dự kiến sẽ tiếp tục duy trì ở mức 16-18%. Trong đó, tỷ lệ cổ tức 2025 dự kiến 16% gồm 6% bằng tiền mặt và 10% bằng cổ phiếu.

Từ nền tảng vốn ngày càng vững chắc đến chiến lược kinh doanh bứt phá, từ quản trị theo chuẩn mực quốc tế đến chuyển đổi toàn diện trên mọi mặt hoạt động, SHB đang từng bước xây dựng tư thế mới cho giai đoạn phát triển 2026 và xa hơn. Đây không chỉ là quá trình nâng cao năng lực tài chính của một ngân hàng thương mại, mà còn là hành trình khẳng định vị thế của một định chế tài chính hiện đại, chủ động hội nhập, có khả năng thu hút dòng vốn lớn, đồng hành cùng nền kinh tế và tiếp tục tạo dựng giá trị dài hạn cho cổ đông.

Nhung Hồng

Đọc thêm

Các ngân hàng niêm yết lãi hơn 310.000 tỷ đồng sau 9 tháng, kịch tính những màn bứt tốc và đổi ngôi

Các ngân hàng niêm yết lãi hơn 310.000 tỷ đồng sau 9 tháng, kịch tính những màn bứt tốc và đổi ngôi

(TBTCO) - Lợi nhuận trước thuế của 28 ngân hàng niêm yết đạt gần 312.000 tỷ đồng sau 9 tháng năm 2026, tăng 19,8% cùng kỳ. Đằng sau đà tăng trưởng là cuộc đua thứ hạng sôi động, với những màn bứt tốc, đổi ngôi ngay trong nhóm dẫn đầu. Tuy nhiên, bức tranh lợi nhuận vẫn phân hóa rõ nét khi 24 ngân hàng tăng lãi, 4 nhà băng đi lùi.
Mức hưởng bảo hiểm y tế 100% vẫn có thể phát sinh khoản tự chi trả

Mức hưởng bảo hiểm y tế 100% vẫn có thể phát sinh khoản tự chi trả

Mức hưởng bảo hiểm y tế (BHYT) 80%, 95% hoặc 100% được áp dụng đối với chi phí trong phạm vi được hưởng và theo điều kiện thanh toán của pháp luật BHYT, không mặc nhiên tính trên toàn bộ hóa đơn viện phí. Quyền lợi thực tế phụ thuộc vào phạm vi chi trả, danh mục thuốc, vật tư y tế, điều kiện thanh toán và hình thức khám, chữa bệnh.
SACOMBANK bổ nhiệm Quyền Tổng Giám đốc mới, đẩy nhanh tiến độ hoàn thành Đề án tái cơ cấu

SACOMBANK bổ nhiệm Quyền Tổng Giám đốc mới, đẩy nhanh tiến độ hoàn thành Đề án tái cơ cấu

(TBTCO) - SACOMBANK vừa bổ nhiệm bà Nguyễn Thị Kiều Anh giữ chức Quyền Tổng Giám đốc từ ngày 2/11/2026, thay ông Loic Faussier. Việc kiện toàn nhân sự cấp cao đặt trong bối cảnh ngân hàng đang đẩy nhanh tiến độ, sớm hoàn tất Đề án tái cơ cấu, nâng cao hiệu quả hoạt động.
Daiichi Life Việt Nam khai trương văn phòng và ra mắt nhận diện thương hiệu mới

Daiichi Life Việt Nam khai trương văn phòng và ra mắt nhận diện thương hiệu mới

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Daiichi Việt Nam (Daiichi Life Việt Nam) vừa chính thức ra mắt nhận diện thương hiệu mới tại Trụ sở chính TP. Hồ Chí Minh và khai trương Văn phòng Chi nhánh Hà Nội mới tại tòa nhà BRG Diamond Park Plaza.
Vạn dặm gắn kết: Khi yêu thương được gửi trao bằng hành động thiết thực

Vạn dặm gắn kết: Khi yêu thương được gửi trao bằng hành động thiết thực

(TBTCO) - Trên hành trình đồng hành cùng cộng đồng, những giá trị bền vững thường được tạo nên từ sự thấu hiểu nhu cầu địa phương và những hành động thiết thực.
Giá vàng hôm nay ngày 2/11: Giá vàng trong nước bật tăng 1 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 2/11: Giá vàng trong nước bật tăng 1 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Sáng ngày 2/11, giá vàng trong nước tăng ở cả phân khúc vàng miếng và vàng nhẫn. Cụ thể, đối với phân khúc vàng miếng, giá vàng miếng tại DOJI, SJC và PNJ tăng 1 triệu đồng/lượng, giao dịch ở mức 137 - 140 triệu đồng/lượng.
Đầu tư tài chính giữ nhịp lợi nhuận MVI Life trước khi đổi chủ, “khoác áo” Asahi Life

Đầu tư tài chính giữ nhịp lợi nhuận MVI Life trước khi đổi chủ, “khoác áo” Asahi Life

Asahi Mutual Life (Nhật Bản) vừa hoàn tất mua lại 100% vốn MVI Life, đồng thời đổi tên doanh nghiệp thành Asahi Life. Thương vụ đánh dấu bước ngoặt mới trong hành trình nhiều lần thay đổi chủ sở hữu và thương hiệu của doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ này. Nửa đầu năm 2026, doanh nghiệp lãi trước thuế 191,2 tỷ đồng, với danh mục đầu tư hơn 16.300 tỷ đồng.
Dư nợ cho vay BIDV tăng gần 8% sau 9 tháng, tổng tài sản tiến sát 3,5 triệu tỷ đồng

Dư nợ cho vay BIDV tăng gần 8% sau 9 tháng, tổng tài sản tiến sát 3,5 triệu tỷ đồng

(TBTCO) - Lũy kế 9 tháng 2026, BIDV lãi trước thuế 29.483,5 tỷ đồng, tăng 24,8% cùng kỳ, nhờ tăng trưởng thu nhập lãi thuần và đẩy mạnh thu hồi nợ đã xử lý rủi ro. Trong bối cảnh tổng tài sản đạt 3,49 triệu tỷ đồng; dư nợ cho vay đạt 2,56 triệu tỷ đồng, tăng gần 8%, ngân hàng tiếp tục chú trọng kiểm soát chất lượng tài sản.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 135,500 ▲1500K 139,500 ▲1500K
Hà Nội - PNJ 135,500 ▲1500K 139,500 ▲1500K
Đà Nẵng - PNJ 135,500 ▲1500K 139,500 ▲1500K
Miền Tây - PNJ 135,500 ▲1500K 139,500 ▲1500K
Tây Nguyên - PNJ 135,500 ▲1500K 139,500 ▲1500K
Đông Nam Bộ - PNJ 135,500 ▲1500K 139,500 ▲1500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,820 ▲120K 14,120 ▲120K
Miếng SJC Nghệ An 13,820 ▲120K 14,120 ▲120K
Miếng SJC Thái Bình 13,820 ▲120K 14,120 ▲120K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,620 ▲120K 14,020 ▲120K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,620 ▲120K 14,020 ▲120K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,620 ▲120K 14,020 ▲120K
Trang sức 99.9 13,300 ▲120K 13,900 ▲120K
Trang sức 99.99 13,310 ▲120K 13,910 ▲120K
Vàng 99.9 12,750 ▲100K
Vàng 99.99 12,900 ▲100K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,382 ▲1245K 1,412 ▲1272K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,382 ▲1245K 14,122 ▲120K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,382 ▲1245K 14,123 ▲120K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 134 ▼1194K 138 ▼1230K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 134 ▼1194K 1,381 ▲12K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 132 ▼1176K 137 ▼1221K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 128,644 ▲1189K 135,644 ▲1189K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 9,311 ▲90K 10,291 ▲90K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 83,519 ▲816K 93,319 ▲816K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 73,928 ▲732K 83,728 ▲732K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 70,229 ▲700K 80,029 ▲700K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 47,485 ▲501K 57,285 ▲501K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,382 ▲1245K 1,412 ▲1272K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,382 ▲1245K 1,412 ▲1272K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,382 ▲1245K 1,412 ▲1272K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,382 ▲1245K 1,412 ▲1272K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,382 ▲1245K 1,412 ▲1272K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,382 ▲1245K 1,412 ▲1272K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,382 ▲1245K 1,412 ▲1272K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,382 ▲1245K 1,412 ▲1272K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,382 ▲1245K 1,412 ▲1272K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,382 ▲1245K 1,412 ▲1272K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,382 ▲1245K 1,412 ▲1272K
Cập nhật: 03/11/2026 09:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17490 17762 18337
CAD 17887 18162 18777
CHF 30796 31173 31820
CNY 0 3823 3918
EUR 28203 28419 29492
GBP 33741 34130 35060
HKD 0 3154 3356
JPY 156 160 167
KRW 0 18 20
NZD 0 14140 14724
SGD 19594 19875 20440
THB 680 743 796
USD (1,2) 25514 0 0
USD (5,10,20) 25552 0 0
USD (50,100) 25579 25593 25957
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,590 25,590 25,970
USD(1-2-5) 24,567 - -
USD(10-20) 24,567 - -
EUR 28,265 28,288 29,631
JPY 158.75 159.04 168.67
GBP 33,921 34,013 35,207
AUD 17,698 17,762 18,444
CAD 18,081 18,139 18,809
CHF 31,071 31,168 32,102
SGD 19,720 19,781 20,565
CNY - 3,803 3,949
HKD 3,218 3,228 3,364
KRW 17.69 18.45 20.08
THB 728 736.99 789.44
NZD 14,143 14,274 14,700
SEK - 2,587 2,680
DKK - 3,792 3,926
NOK - 2,721 2,819
LAK - 0.87 1.21
MYR 5,909.9 - 6,673.09
TWD 712.42 - 863.22
SAR - 6,750.5 7,112.2
KWD - 81,402 86,630
AED - 6,765 7,290
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,560 25,590 25,970
EUR 28,249 28,391 29,619
GBP 33,915 34,085 35,120
HKD 3,212 3,231 3,349
CHF 30,918 31,073 32,022
JPY 158.43 160.03 168.01
AUD 17,663 17,788 18,384
SGD 19,698 19,877 20,473
THB 733 748 785
CAD 18,042 18,169 18,766
NZD 14,220 14,774
KRW 18.53 20.50
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25560 25590 25960
AUD 17690 17790 18715
CAD 18075 18175 19189
CHF 31079 31109 32691
CNY 3816.8 3841.8 3977.1
CZK 0 1130 0
DKK 0 3845 0
EUR 28384 28414 30140
GBP 34057 34107 35864
HKD 0 3300 0
JPY 159.75 160.25 170.76
KHR 0 6.097 0
KRW 0 19 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6450 0
NOK 0 2778 0
NZD 0 14270 0
PHP 0 373 0
SEK 0 2605 0
SGD 19761 19891 20616
THB 0 708.7 0
TWD 0 785 0
SJC 9999 13900000 13900000 14200000
SBJ 12000000 12000000 14200000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,475 25,595 25,910
USD20 25,445 25,595 25,910
USD1 25,425 25,595 25,910
AUD 17,610 17,760 18,947
EUR 28,173 28,273 29,948
CAD 18,015 18,115 19,434
SGD 19,827 19,977 20,801
JPY 160.11 161.61 167.28
GBP 33,933 34,083 35,167
XAU 13,698,000 0 14,002,000
CNY 0 3,795 0
THB 0 743 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 03/11/2026 09:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30