Hà Nội: Người dân được hưởng lợi từ nghị quyết hỗ trợ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế

Bùi Tư
(TBTCO) - Hàng nghìn người dân tại TP. Hà Nội đã được cấp thẻ bảo hiểm y tế miễn phí, được hỗ trợ mức đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện theo Nghị quyết 03/2022/NQQ-HĐND, Nghị quyết số21/2023/NQ-HĐND, Nghị quyết số 12/2024/NQ-HĐND, Nghị quyết 13/2023/NQ-HĐND. Kết quả này cho thấy sự quyết tâm của TP. Hà Nội trong việc chăm lo sức khỏe, an sinh xã hội cho người dân, đặc biệt là người yếu thế.
aa

Người yếu thế, khó khăn dễ dàng tiếp cận chính sách về bảo hiểm

Con trai 8 tuổi của chị Chu Thị Dung (xã Thái Hòa, huyện Ba Vì) bị tâm thần nhẹ sau cơn co giật hồi 3 tuổi. Do kinh tế gia đình quá khó khăn, nên chị không thể mua bảo hiểm y tế (BHYT) để đưa con đi chữa bệnh. Sau khi TP. Hà Nội triển khai Nghị quyết 13/2023/NQ-HĐND, con trai chị thuộc diện trẻ em khuyết tật dưới 16 tuổi được hỗ trợ 100% mức đóng BHYT.

“Tấm thẻ BHYT thật sự rất quý giá với gia đình tôi. Trước đây, dù rất thương con, tôi cũng không thể đưa cháu đi chữa bệnh vì không đủ khả năng. Nay nhờ sự hỗ trợ từ Nghị quyết 13, con tôi đã có thẻ BHYT miễn phí. Điều này vừa là niềm hy vọng để con được chữa trị, vừa là động lực để gia đình tôi vượt qua giai đoạn khó khăn” - chị Dung cho biết.

Hà Nội: Người dân được hưởng lợi từ nghị quyết hỗ trợ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế
Cán bộ BHXH TP. Hà Nội thăm bà Phùng Thị Gấm. Ảnh: Tư Bùi

Bà Phùng Thị Gấm, hơn 70 tuổi, sinh sống tại huyện Ba Vì cũng thuộc diện được hỗ trợ 100% mức đóng BHYT. Từ khi được cấp thẻ BHYT miễn phí, mỗi tháng, bà đều đặn đến trạm y tế xã để khám và lấy thuốc điều trị bệnh. Tấm thẻ BHYT không chỉ là sự hỗ trợ tài chính, mà còn giúp bà tiết kiệm được khoản tiền thuốc men mỗi năm. Nhờ có tấm thẻ BHYT này, bà có thể chăm sóc bản thân tốt hơn, an tâm cho sức khỏe tuổi già.

Chị Đinh Thị Sáu, 40 tuổi ở Chương Mỹ, Hà Đông là đối tượng thuộc hộ cận nghèo được hỗ trợ mức đóng bảo hiểm xã hội (BHXH) tự nguyện. Năm 2021, sau khi chồng mất vì tai nạn, chị một mình nuôi 2 con ăn học. Không có nghề nghiệp ổn định, thu nhập hàng tháng của 3 mẹ con chỉ trông chờ vài sào ruộng và tiền công chị đi giúp việc.

“Cơn bão số 3 vừa qua làm vườn bưởi nhà chị rụng hết, lúa cũng đổ, dù khó khăn nhưng tôi vẫn cố gắng tham gia BHXH tự nguyện coi như một khoản tích lũy để sau này không phải dựa vào con cái” - chị Sáu tâm sự.

Chị Sáu đã tham gia BHXH tự nguyện được 3 năm, nhờ có sự hỗ trợ của Thành phố theo Nghị quyết 03, chị được hỗ trợ 50% mức đóng, mỗi tháng chị chỉ còn đóng 363.000 đồng để sau này có lương hưu khi về già.

Mở rộng vững chắc độ bao phủ

Trong những năm gần đây, TP. Hà Nội đã ban hành nhiều Nghị quyết hỗ trợ người dân tham gia BHXH, BHYT. Năm 2022, Thành phố đã ban hành Nghị quyết 03/2022/NQ-HĐND hỗ trợ mức đóng BHXH tự nguyện cho người dân trên địa bàn. Theo đó, ngoài mức hỗ trợ từ ngân sách trung ương, TP. Hà Nội hỗ trợ thêm tiền đóng BHXH tự nguyện cho người dân trên địa bàn bằng nguồn ngân sách địa phương, thời gian hỗ trợ từ 01/8/2022 đến 31/12/2025.

Cụ thể, hỗ trợ thêm 30% mức đóng BHXH tự nguyện đối với người thuộc hộ nghèo; hỗ trợ thêm 25% mức đóng BHXH tự nguyện đối với người thuộc hộ cận nghèo; hỗ trợ thêm 10% mức đóng BHXH tự nguyện đối với các đối tượng khác. Như vậy, tổng hỗ trợ người dân được hưởng là 60% đối với người thuộc hộ nghèo, 50% đối với người hộ cận nghèo, 20% đối với các đối tượng khác.

Hà Nội: Người dân được hưởng lợi từ nghị quyết hỗ trợ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế
Cán bộ BHXH TP. Hà Nội tuyên truyền chính sách BHXH, BHYT cho người dân. Ảnh: Tư Bùi

Ngày 06/12/2023, HĐND Thành phố ban hành Nghị quyết 13/2023/NQ-HĐND, từ ngày 01/01/2024 – 31/12/2025, người cao tuổi từ đủ 70 đến dưới 80 tuổi, người khuyết tật nhẹ trên 16 tuổi; học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn thuộc hộ gia đình nông, lâm, ngư nghiệp có mức sống trung bình được hỗ trợ 100% thẻ BHYT; người thuộc hộ gia đình làm nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp có mức sống trung bình được hỗ trợ 60% mức đóng BHYT hộ gia đình.

Ngày 08/12/2023, HĐND TP. Hà Nội ban hành Nghị quyết số 21/2023/NQ-HĐND, theo đó, từ năm 2024, TP. Hà Nội hỗ trợ 234.000đồng/tháng khi tham gia BHXH tự nguyện, 54.000 đồng/tháng khi tham gia BHYT hộ gia đình đối với công an xã bán chuyên trách.

Ngày 01/07/2024, HĐND TP. Hà Nội ban hành Nghị quyết số 12/2024/NQ-HĐND về hỗ trợ mức đóng BHXH, BHYT đối với người tham gia lực lượng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự ở cơ sở chưa tham gia BHXH, BHYT. Mức tiền hỗ trợ đóng BHXH tự nguyện là 234.000 đồng/ tháng, BHYT là 54.000 đồng/ tháng.

4 nghị quyết của Thành phố đã bao phủ rộng lớn các đối tượng tham gia BHXH, BHYT bao gồm người yếu thế (người già từ đủ 70 - dưới 80 tuổi; người khuyết tật nhẹ dưới 16 tuổi), người dân có hoàn cảnh khó khăn (học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn; hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ nông, lâm ngư nghiệp có mức sống trung bình), các đối tượng đặc thù (lực lượng công an xã bán chuyên trách, lực lượng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự cơ sở).

Từ sau khi các nghị quyết được ban hành, số người tham gia BHXH, BHYT tăng trưởng rõ rệt. Theo số liệu của BHXH TP. Hà Nội, đến tháng 9/2024, số người tham gia BHYT đạt trên 8 triệu người, tăng 218.474 người so với cùng kỳ năm 2023; tăng 59.939 người so với 31/12/2023; đạt 95,6% kế hoạch; tỷ lệ bao phủ BHYT đạt 94,42% dân số.

Kết quả thực hiện Nghị quyết 13, trong 9 tháng đầu năm 2024 đã hỗ trợ 62.600 người, số tiền 43,53 tỷ đồng. Trong đó: người cao tuổi từ 70 đến dưới 80 tuổi là 53.485 người, số tiền 39,2 tỷ đồng; người khuyết tật nhẹ là 1.139 người, số tiền 0,83 tỷ đồng; người thuộc hộ gia đình làm nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp có mức sống trung bình là 7.972 người, số tiền 3,5 tỷ đồng...

Thực hiện Nghị quyết 12 và Nghị quyết 21, đã có 1.003 người thuộc lực lượng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự ở cơ sở, 269 công an xã bán chuyên trách tham gia BHYT hộ gia đình.

Đối với tỷ lệ tham gia BHXH tự nguyện, năm 2022, tỷ lệ tham gia BHXH tự nguyện tăng 18,5% so với năm 2021 (thời điểm chưa ban hành Nghị quyết 03), năm 2023 tăng 41,76% so với năm 2022, tháng 9/2024, tăng 10.280 người so với năm 2023. Số người tham gia BHXH tự nguyện năm tính đến tháng 9/2024 tăng gấp 5 lần so với năm 2018. Có 5.453 người thuộc lực lượng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự ở cơ sở, 469 công an xã tham gia BHXH tự nguyện.

Thực hiện Nghị quyết số 28-NQ/TW và Chương trình số 08 – CTr/TU ngày 17/3/2021 về phát triển hệ thống an sinh xã hội, nâng cao phúc lợi xã hội, chất lượng cuộc sống của nhân dân Thủ đô giai đoạn 2021-2025, Hà Nội phấn đấu đến năm 2025 đạt khoảng 50% lực lượng lao động trong độ tuổi tham gia BHXH, trong đó nông dân và lao động khu vực phi chính thức tham gia BHXH tự nguyện chiếm khoảng 3% lực lượng lao động trong độ tuổi; tỷ lệ bao phủ y tế đạt 95%.

Để thực hiện mục tiêu này, TP. Hà Nội sẽ tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền, nâng cao nhận thức về chính sách BHXH, BHYT tạo sự đồng thuận trong cải cách chính sách BHXH; sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về BHXH; nâng cao năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện chính sách BHXH, BH thất nghiệp.

Bùi Tư

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 8/4: Giá vàng trong nước lùi về vùng 169 - 172,5 triệu đồng

Giá vàng hôm nay ngày 8/4: Giá vàng trong nước lùi về vùng 169 - 172,5 triệu đồng

(TBTCO) - Sáng ngày 8/4, giá vàng trong nước tiếp tục giảm tại nhiều doanh nghiệp lớn, đưa mặt bằng giao dịch vàng miếng và vàng nhẫn lùi về quanh vùng 169 - 172,5 triệu đồng/lượng.
TPBank đạt chuẩn quốc tế ICXS2019 về trải nghiệm khách hàng

TPBank đạt chuẩn quốc tế ICXS2019 về trải nghiệm khách hàng

(TBTCO) - Mới đây, TPBank trở thành ngân hàng đầu tiên tại Việt Nam được Viện Tiêu chuẩn Anh Quốc (BSI) cấp chứng chỉ International Customer Experience Standard 2019 (ICXS2019), đồng thời đạt bậc xếp hạng cao nhất “International Excellence”. Kết quả này phản ánh hành trình chuyển đổi toàn diện của ngân hàng, nơi trải nghiệm khách hàng được đặt vào trung tâm trong mọi hoạt động vận hành.
Ngân hàng dồn lực tăng vốn điều lệ mùa đại hội, gia cố "bộ đệm" đón tăng trưởng

Ngân hàng dồn lực tăng vốn điều lệ mùa đại hội, gia cố "bộ đệm" đón tăng trưởng

(TBTCO) - Mùa Đại hội đồng cổ đông 2026, các ngân hàng đồng loạt ưu tiên chia cổ tức bằng cổ phiếu và đẩy mạnh chào bán cổ phiếu để tăng vốn, với kế hoạch tăng 25 - 50%, đưa vốn điều lệ nhiều nhà băng hướng tới mốc 100.000 tỷ đồng dẫn đầu hệ thống. Xu hướng này nhằm củng cố hệ số CAR, đáp ứng nhu cầu tăng trưởng tín dụng và tạo “bộ đệm” vững chắc mở rộng quy mô.
MBV thông báo về việc khai trương đi vào hoạt động Chi nhánh Dĩ An

MBV thông báo về việc khai trương đi vào hoạt động Chi nhánh Dĩ An

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc chính thức khai trương và đi vào hoạt động Chi nhánh Dĩ An.
SHB: Dấu ấn một định chế tư nhân trong 40 năm đổi mới

SHB: Dấu ấn một định chế tư nhân trong 40 năm đổi mới

(TBTCO) - Từ hành trình 40 năm Đổi mới bền bỉ và kiên định, Việt Nam hôm nay đã hội tụ đủ thế, lực và tâm thế để bước vào một giai đoạn phát triển mới – tăng tốc mạnh mẽ và bứt phá toàn diện. Trong dòng chảy ấy, mỗi định chế kinh tế trụ cột từ khối tư nhân và Nhà nước đều mang trên mình sứ mệnh đồng hành cùng đất nước, chuyển hóa khát vọng dân tộc thành sức mạnh quốc gia. Trong khối ngân hàng tư nhân, SHB là một điển hình rõ nét về một tổ chức tích cực, chủ động bám sát và triển khai các định hướng của Đảng, Nhà nước, đóng góp vào sự phát triển của kinh tế đất nước nói chung và khu vực kinh tế Nhà nước nói riêng.
Tổ chức tín dụng chuẩn hóa thu hồi nợ, cấm đe dọa, gọi điện đòi nợ quá mức

Tổ chức tín dụng chuẩn hóa thu hồi nợ, cấm đe dọa, gọi điện đòi nợ quá mức

(TBTCO) - Chủ tịch Hội đồng Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam vừa ký ban hành Bộ Quy tắc ứng xử trong thu hồi nợ áp dụng cho các tổ chức tín dụng hội viên, nhằm chuẩn hóa hoạt động toàn hệ thống. Bộ Quy tắc nghiêm cấm nhân viên thu hồi nợ sử dụng vũ lực, đe dọa, quấy rối, xúc phạm khách hàng và người có liên quan.
VietABank đặt mục tiêu lãi gần 2.000 tỷ đồng, tiếp nối kế hoạch tăng vốn 55% còn dang dở

VietABank đặt mục tiêu lãi gần 2.000 tỷ đồng, tiếp nối kế hoạch tăng vốn 55% còn dang dở

(TBTCO) - VietABank đặt mục tiêu lãi trước thuế năm 2026 đạt 1.945 tỷ đồng, tăng 18%; dự kiến tăng vốn điều lệ thêm 55% lên 12.688 tỷ đồng thông qua ba phương án phát hành cổ phiếu, tiếp nối tiến độ tăng vốn năm 2025. Ngân hàng cũng chủ động mở rộng sang các lĩnh vực như: chứng khoán, bảo hiểm..., hướng tới đa dạng hóa hoạt động.
Techcombank vạch hai kịch bản kinh doanh, dự kiến tăng trưởng tín dụng 12%

Techcombank vạch hai kịch bản kinh doanh, dự kiến tăng trưởng tín dụng 12%

(TBTCO) - Techcombank xây dựng kế hoạch kinh doanh năm 2026 theo hai kịch bản nhằm chủ động ứng phó với bối cảnh nhiều biến động, với mục tiêu lợi nhuận trước thuế đạt 35.000 tỷ đồng hoặc 37.500 tỷ đồng, tương ứng tăng 7,6 - 15%. Ngân hàng dự kiến dư nợ tín dụng đạt 849.000 tỷ đồng, tăng 12% và kiểm soát tỷ lệ nợ xấu 1,5 - 2% theo hai kịch bản.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,200 ▲250K 17,550 ▲300K
Kim TT/AVPL 17,210 ▲270K 17,560 ▲310K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,200 ▲270K 17,550 ▲310K
Nguyên Liệu 99.99 15,890 ▲390K 16,090 ▲390K
Nguyên Liệu 99.9 15,840 ▲390K 16,040 ▲390K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,930 ▲310K 17,330 ▲310K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,880 ▲310K 17,280 ▲310K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,810 ▲310K 17,260 ▲310K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 171,500 ▲2500K 175,000 ▲3000K
Hà Nội - PNJ 171,500 ▲2500K 175,000 ▲3000K
Đà Nẵng - PNJ 171,500 ▲2500K 175,000 ▲3000K
Miền Tây - PNJ 171,500 ▲2500K 175,000 ▲3000K
Tây Nguyên - PNJ 171,500 ▲2500K 175,000 ▲3000K
Đông Nam Bộ - PNJ 171,500 ▲2500K 175,000 ▲3000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,200 ▲250K 17,550 ▲300K
Miếng SJC Nghệ An 17,200 ▲250K 17,550 ▲300K
Miếng SJC Thái Bình 17,200 ▲250K 17,550 ▲300K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,150 ▲250K 17,500 ▲300K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,150 ▲250K 17,500 ▲300K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,150 ▲250K 17,500 ▲300K
NL 99.90 15,570 ▲70K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,600 ▲70K
Trang sức 99.9 16,690 ▲300K 17,390 ▲300K
Trang sức 99.99 16,700 ▲300K 17,400 ▲300K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 ▲20K 1,755 ▲30K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,715 ▲20K 17,552 ▲300K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,715 ▲20K 17,553 ▲300K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,715 ▲1546K 175 ▲3K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,715 ▲1546K 1,751 ▲30K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,695 ▲1528K 1,735 ▲30K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 165,282 ▲2970K 171,782 ▲2970K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 121,388 ▲2250K 130,288 ▲2250K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 109,242 ▲2040K 118,142 ▲2040K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 97,096 ▲1831K 105,996 ▲1831K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 92,411 ▲1750K 101,311 ▲1750K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 63,607 ▲1251K 72,507 ▲1251K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 ▲20K 1,755 ▲30K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 ▲20K 1,755 ▲30K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 ▲20K 1,755 ▲30K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 ▲20K 1,755 ▲30K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 ▲20K 1,755 ▲30K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 ▲20K 1,755 ▲30K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 ▲20K 1,755 ▲30K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 ▲20K 1,755 ▲30K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 ▲20K 1,755 ▲30K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 ▲20K 1,755 ▲30K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 ▲20K 1,755 ▲30K
Cập nhật: 08/04/2026 12:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18066 18340 18918
CAD 18494 18771 19390
CHF 32685 33069 33717
CNY 0 3800 3870
EUR 30103 30376 31407
GBP 34512 34904 35841
HKD 0 3230 3432
JPY 159 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 15036 15624
SGD 20110 20393 20921
THB 735 799 852
USD (1,2) 26061 0 0
USD (5,10,20) 26102 0 0
USD (50,100) 26131 26150 26361
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,141 26,141 26,361
USD(1-2-5) 25,096 - -
USD(10-20) 25,096 - -
EUR 30,289 30,313 31,569
JPY 162.16 162.45 171.22
GBP 34,733 34,827 35,817
AUD 18,265 18,331 18,907
CAD 18,722 18,782 19,351
CHF 32,997 33,100 33,871
SGD 20,272 20,335 21,009
CNY - 3,791 3,912
HKD 3,303 3,313 3,431
KRW 16.47 17.18 18.58
THB 784.92 794.61 845.79
NZD 15,027 15,167 15,522
SEK - 2,781 2,862
DKK - 4,054 4,171
NOK - 2,705 2,784
LAK - 0.91 1.26
MYR 6,180.73 - 6,934.66
TWD 750.22 - 903.26
SAR - 6,912.47 7,236.31
KWD - 83,726 88,536
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,111 26,141 26,361
EUR 30,167 30,288 31,468
GBP 34,634 34,773 35,777
HKD 3,292 3,305 3,420
CHF 32,701 32,832 33,759
JPY 162.18 162.83 170.17
AUD 18,226 18,299 18,889
SGD 20,274 20,355 20,937
THB 799 802 838
CAD 18,668 18,743 19,308
NZD 14,997 15,526
KRW 17.06 18.74
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26130 26130 26361
AUD 18194 18294 19219
CAD 18668 18768 19785
CHF 32900 32930 34516
CNY 3792.9 3817.9 3954
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 30267 30297 32022
GBP 34759 34809 36569
HKD 0 3355 0
JPY 162.69 163.19 173.7
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15103 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2790 0
SGD 20260 20390 21111
THB 0 764.7 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17320000 17320000 17620000
SBJ 16000000 16000000 17620000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,159 26,209 26,361
USD20 26,159 26,209 26,361
USD1 26,159 26,209 26,361
AUD 18,267 18,367 19,479
EUR 30,434 30,434 31,842
CAD 18,624 18,724 20,029
SGD 20,331 20,481 21,048
JPY 163.06 164.56 169.1
GBP 34,673 35,023 36,150
XAU 17,398,000 0 17,702,000
CNY 0 3,703 0
THB 0 800 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 08/04/2026 12:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80