Hà Nội: Người dân được hưởng lợi từ nghị quyết hỗ trợ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế

Bùi Tư
(TBTCO) - Hàng nghìn người dân tại TP. Hà Nội đã được cấp thẻ bảo hiểm y tế miễn phí, được hỗ trợ mức đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện theo Nghị quyết 03/2022/NQQ-HĐND, Nghị quyết số21/2023/NQ-HĐND, Nghị quyết số 12/2024/NQ-HĐND, Nghị quyết 13/2023/NQ-HĐND. Kết quả này cho thấy sự quyết tâm của TP. Hà Nội trong việc chăm lo sức khỏe, an sinh xã hội cho người dân, đặc biệt là người yếu thế.
aa

Người yếu thế, khó khăn dễ dàng tiếp cận chính sách về bảo hiểm

Con trai 8 tuổi của chị Chu Thị Dung (xã Thái Hòa, huyện Ba Vì) bị tâm thần nhẹ sau cơn co giật hồi 3 tuổi. Do kinh tế gia đình quá khó khăn, nên chị không thể mua bảo hiểm y tế (BHYT) để đưa con đi chữa bệnh. Sau khi TP. Hà Nội triển khai Nghị quyết 13/2023/NQ-HĐND, con trai chị thuộc diện trẻ em khuyết tật dưới 16 tuổi được hỗ trợ 100% mức đóng BHYT.

“Tấm thẻ BHYT thật sự rất quý giá với gia đình tôi. Trước đây, dù rất thương con, tôi cũng không thể đưa cháu đi chữa bệnh vì không đủ khả năng. Nay nhờ sự hỗ trợ từ Nghị quyết 13, con tôi đã có thẻ BHYT miễn phí. Điều này vừa là niềm hy vọng để con được chữa trị, vừa là động lực để gia đình tôi vượt qua giai đoạn khó khăn” - chị Dung cho biết.

Hà Nội: Người dân được hưởng lợi từ nghị quyết hỗ trợ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế
Cán bộ BHXH TP. Hà Nội thăm bà Phùng Thị Gấm. Ảnh: Tư Bùi

Bà Phùng Thị Gấm, hơn 70 tuổi, sinh sống tại huyện Ba Vì cũng thuộc diện được hỗ trợ 100% mức đóng BHYT. Từ khi được cấp thẻ BHYT miễn phí, mỗi tháng, bà đều đặn đến trạm y tế xã để khám và lấy thuốc điều trị bệnh. Tấm thẻ BHYT không chỉ là sự hỗ trợ tài chính, mà còn giúp bà tiết kiệm được khoản tiền thuốc men mỗi năm. Nhờ có tấm thẻ BHYT này, bà có thể chăm sóc bản thân tốt hơn, an tâm cho sức khỏe tuổi già.

Chị Đinh Thị Sáu, 40 tuổi ở Chương Mỹ, Hà Đông là đối tượng thuộc hộ cận nghèo được hỗ trợ mức đóng bảo hiểm xã hội (BHXH) tự nguyện. Năm 2021, sau khi chồng mất vì tai nạn, chị một mình nuôi 2 con ăn học. Không có nghề nghiệp ổn định, thu nhập hàng tháng của 3 mẹ con chỉ trông chờ vài sào ruộng và tiền công chị đi giúp việc.

“Cơn bão số 3 vừa qua làm vườn bưởi nhà chị rụng hết, lúa cũng đổ, dù khó khăn nhưng tôi vẫn cố gắng tham gia BHXH tự nguyện coi như một khoản tích lũy để sau này không phải dựa vào con cái” - chị Sáu tâm sự.

Chị Sáu đã tham gia BHXH tự nguyện được 3 năm, nhờ có sự hỗ trợ của Thành phố theo Nghị quyết 03, chị được hỗ trợ 50% mức đóng, mỗi tháng chị chỉ còn đóng 363.000 đồng để sau này có lương hưu khi về già.

Mở rộng vững chắc độ bao phủ

Trong những năm gần đây, TP. Hà Nội đã ban hành nhiều Nghị quyết hỗ trợ người dân tham gia BHXH, BHYT. Năm 2022, Thành phố đã ban hành Nghị quyết 03/2022/NQ-HĐND hỗ trợ mức đóng BHXH tự nguyện cho người dân trên địa bàn. Theo đó, ngoài mức hỗ trợ từ ngân sách trung ương, TP. Hà Nội hỗ trợ thêm tiền đóng BHXH tự nguyện cho người dân trên địa bàn bằng nguồn ngân sách địa phương, thời gian hỗ trợ từ 01/8/2022 đến 31/12/2025.

Cụ thể, hỗ trợ thêm 30% mức đóng BHXH tự nguyện đối với người thuộc hộ nghèo; hỗ trợ thêm 25% mức đóng BHXH tự nguyện đối với người thuộc hộ cận nghèo; hỗ trợ thêm 10% mức đóng BHXH tự nguyện đối với các đối tượng khác. Như vậy, tổng hỗ trợ người dân được hưởng là 60% đối với người thuộc hộ nghèo, 50% đối với người hộ cận nghèo, 20% đối với các đối tượng khác.

Hà Nội: Người dân được hưởng lợi từ nghị quyết hỗ trợ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế
Cán bộ BHXH TP. Hà Nội tuyên truyền chính sách BHXH, BHYT cho người dân. Ảnh: Tư Bùi

Ngày 06/12/2023, HĐND Thành phố ban hành Nghị quyết 13/2023/NQ-HĐND, từ ngày 01/01/2024 – 31/12/2025, người cao tuổi từ đủ 70 đến dưới 80 tuổi, người khuyết tật nhẹ trên 16 tuổi; học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn thuộc hộ gia đình nông, lâm, ngư nghiệp có mức sống trung bình được hỗ trợ 100% thẻ BHYT; người thuộc hộ gia đình làm nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp có mức sống trung bình được hỗ trợ 60% mức đóng BHYT hộ gia đình.

Ngày 08/12/2023, HĐND TP. Hà Nội ban hành Nghị quyết số 21/2023/NQ-HĐND, theo đó, từ năm 2024, TP. Hà Nội hỗ trợ 234.000đồng/tháng khi tham gia BHXH tự nguyện, 54.000 đồng/tháng khi tham gia BHYT hộ gia đình đối với công an xã bán chuyên trách.

Ngày 01/07/2024, HĐND TP. Hà Nội ban hành Nghị quyết số 12/2024/NQ-HĐND về hỗ trợ mức đóng BHXH, BHYT đối với người tham gia lực lượng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự ở cơ sở chưa tham gia BHXH, BHYT. Mức tiền hỗ trợ đóng BHXH tự nguyện là 234.000 đồng/ tháng, BHYT là 54.000 đồng/ tháng.

4 nghị quyết của Thành phố đã bao phủ rộng lớn các đối tượng tham gia BHXH, BHYT bao gồm người yếu thế (người già từ đủ 70 - dưới 80 tuổi; người khuyết tật nhẹ dưới 16 tuổi), người dân có hoàn cảnh khó khăn (học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn; hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ nông, lâm ngư nghiệp có mức sống trung bình), các đối tượng đặc thù (lực lượng công an xã bán chuyên trách, lực lượng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự cơ sở).

Từ sau khi các nghị quyết được ban hành, số người tham gia BHXH, BHYT tăng trưởng rõ rệt. Theo số liệu của BHXH TP. Hà Nội, đến tháng 9/2024, số người tham gia BHYT đạt trên 8 triệu người, tăng 218.474 người so với cùng kỳ năm 2023; tăng 59.939 người so với 31/12/2023; đạt 95,6% kế hoạch; tỷ lệ bao phủ BHYT đạt 94,42% dân số.

Kết quả thực hiện Nghị quyết 13, trong 9 tháng đầu năm 2024 đã hỗ trợ 62.600 người, số tiền 43,53 tỷ đồng. Trong đó: người cao tuổi từ 70 đến dưới 80 tuổi là 53.485 người, số tiền 39,2 tỷ đồng; người khuyết tật nhẹ là 1.139 người, số tiền 0,83 tỷ đồng; người thuộc hộ gia đình làm nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp có mức sống trung bình là 7.972 người, số tiền 3,5 tỷ đồng...

Thực hiện Nghị quyết 12 và Nghị quyết 21, đã có 1.003 người thuộc lực lượng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự ở cơ sở, 269 công an xã bán chuyên trách tham gia BHYT hộ gia đình.

Đối với tỷ lệ tham gia BHXH tự nguyện, năm 2022, tỷ lệ tham gia BHXH tự nguyện tăng 18,5% so với năm 2021 (thời điểm chưa ban hành Nghị quyết 03), năm 2023 tăng 41,76% so với năm 2022, tháng 9/2024, tăng 10.280 người so với năm 2023. Số người tham gia BHXH tự nguyện năm tính đến tháng 9/2024 tăng gấp 5 lần so với năm 2018. Có 5.453 người thuộc lực lượng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự ở cơ sở, 469 công an xã tham gia BHXH tự nguyện.

Thực hiện Nghị quyết số 28-NQ/TW và Chương trình số 08 – CTr/TU ngày 17/3/2021 về phát triển hệ thống an sinh xã hội, nâng cao phúc lợi xã hội, chất lượng cuộc sống của nhân dân Thủ đô giai đoạn 2021-2025, Hà Nội phấn đấu đến năm 2025 đạt khoảng 50% lực lượng lao động trong độ tuổi tham gia BHXH, trong đó nông dân và lao động khu vực phi chính thức tham gia BHXH tự nguyện chiếm khoảng 3% lực lượng lao động trong độ tuổi; tỷ lệ bao phủ y tế đạt 95%.

Để thực hiện mục tiêu này, TP. Hà Nội sẽ tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền, nâng cao nhận thức về chính sách BHXH, BHYT tạo sự đồng thuận trong cải cách chính sách BHXH; sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về BHXH; nâng cao năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện chính sách BHXH, BH thất nghiệp.

Bùi Tư

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (5/10): DXY áp sát 102 điểm, tâm điểm chuyển sang biên bản họp của Fed

Tỷ giá USD hôm nay (5/10): DXY áp sát 102 điểm, tâm điểm chuyển sang biên bản họp của Fed

(TBTCO) - Sáng 5/10, tỷ giá trung tâm tăng 7 đồng, lên 25.643 đồng/USD, trong khi chỉ số DXY lên 101,98 điểm. Trong tuần, lịch dữ liệu kinh tế Mỹ tương đối thưa, thị trường tập trung vào biên bản họp tháng 9 của Ủy ban Thị trường Mở Liên bang (FOMC) và chỉ số nhà quản trị mua hàng (PMI) dịch vụ, cùng các phát biểu của quan chức Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed).
Giá vàng hôm nay ngày 5/10: Giá vàng trong nước đi ngang quanh mức 143,5 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 5/10: Giá vàng trong nước đi ngang quanh mức 143,5 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước ít biến động. Vàng miếng giữ giá bán 143,5 triệu đồng/lượng, trong khi vàng nhẫn giảm nhẹ tại Bảo Tín Minh Châu.
Ngân hàng cam kết rót nghìn tỷ, tạo môi trường thử nghiệm mở cho startup

Ngân hàng cam kết rót nghìn tỷ, tạo môi trường thử nghiệm mở cho startup

(TBTCO) - Theo Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, lãnh đạo ngành ngân hàng cam kết sẵn sàng đầu tư 2.000 - 3.000 tỷ đồng mỗi năm cho khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Để khơi thông nguồn lực cho đổi mới sáng tạo, các ngân hàng cũng tìm cách mở rộng cơ chế cấp vốn, tạo môi trường thử nghiệm mở, đồng hành cùng startup phát triển.
Giá vàng hôm nay ngày 4/10: Vàng miếng, vàng nhẫn đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 4/10: Vàng miếng, vàng nhẫn đồng loạt giảm

(TBTCO) - Giá vàng trong nước đồng loạt giảm từ 200.000 đến 600.000 đồng/lượng, đưa giá bán vàng miếng về mức 143,5 triệu đồng/lượng.
Nới dư địa tín dụng để tạo thêm nguồn lực cho tăng trưởng

Nới dư địa tín dụng để tạo thêm nguồn lực cho tăng trưởng

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước đã hướng dẫn các ngân hàng thương mại không tính vào dư nợ tín dụng tăng thêm cho các công trình, dự án quy mô lớn, trọng điểm, thực hiện mục tiêu tăng trưởng hai con số.
Daiichi Life Việt Nam chính thức ra mắt nhận diện thương hiệu mới

Daiichi Life Việt Nam chính thức ra mắt nhận diện thương hiệu mới

(TBTCO) - Trong khuôn khổ chiến lược đồng bộ thương hiệu toàn cầu của Tập đoàn Daiichi Life, Công ty Bảo hiểm Nhân thọ Daiichi Việt Nam (Daiichi Life Việt Nam) chính thức giới thiệu nhận diện thương hiệu mới từ ngày 01/10/2026. Đây là cột mốc quan trọng, đánh dấu bước chuyển mình mới của công ty trên hành trình hơn 19 năm phát triển tại Việt Nam.
Thị trường tiền tệ tuần  28/9 - 2/10: Lãi suất trồi sụt mạnh giữa nhịp hút ròng hơn 53.000 tỷ đồng, tỷ giá vẫn “êm”

Thị trường tiền tệ tuần 28/9 - 2/10: Lãi suất trồi sụt mạnh giữa nhịp hút ròng hơn 53.000 tỷ đồng, tỷ giá vẫn “êm”

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần từ 28/9 - 2/10 ghi nhận Ngân hàng Nhà nước hút ròng 53.475,2 tỷ đồng qua kênh OMO, lãi suất qua đêm trồi sụt mạnh những phiên cuối tháng. Dù thanh khoản bị rút bớt, tỷ giá trong nước vẫn biến động hẹp, khi áp lực từ USD quốc tế hạ nhiệt vào cuối tuần sau dữ liệu việc làm Mỹ suy yếu.
Giá vàng hôm nay ngày 3/10: Vàng thế giới giảm, vàng trong nước trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 3/10: Vàng thế giới giảm, vàng trong nước trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm 32 USD/ounce, xuống 4.140,8 USD/ounce. Trong nước, giá vàng miếng bán ra đồng loạt giảm 200.000 đồng/lượng, trong khi vàng nhẫn tăng tại DOJI, Bảo Tín Minh Châu nhưng giảm tại PNJ và SJC.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 140,500 143,500
Hà Nội - PNJ 140,500 143,500
Đà Nẵng - PNJ 140,500 143,500
Miền Tây - PNJ 140,500 143,500
Tây Nguyên - PNJ 140,500 143,500
Đông Nam Bộ - PNJ 140,500 143,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,050 14,350
Miếng SJC Nghệ An 14,050 14,350
Miếng SJC Thái Bình 14,050 14,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,950 14,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,950 14,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,950 14,350
NL 99.99 13,300 ▼50K
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,200 ▼50K
Trang sức 99.9 13,660 14,260
Trang sức 99.99 13,670 14,270
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,405 14,352
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,405 14,353
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 140 143
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 140 1,431
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,375 142
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 133,594 140,594
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 96,861 106,661
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,692 9,672
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 76,979 86,779
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,144 82,944
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 4,957 5,937
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Cập nhật: 05/10/2026 13:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17500 17773 18350
CAD 17668 17942 18558
CHF 30672 31048 31695
CNY 0 3835 3930
EUR 28444 28660 29740
GBP 33531 33919 34863
HKD 0 3182 3384
JPY 157 161 168
KRW 0 18 20
NZD 0 14223 14808
SGD 19741 20022 20590
THB 687 750 803
USD (1,2) 25735 0 0
USD (5,10,20) 25774 0 0
USD (50,100) 25802 25816 26181
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,805 25,805 26,185
USD(1-2-5) 24,773 - -
USD(10-20) 24,773 - -
EUR 28,472 28,495 29,850
JPY 160 160.29 169.97
GBP 33,696 33,787 34,966
AUD 17,704 17,768 18,440
CAD 17,851 17,908 18,571
CHF 30,895 30,991 31,912
SGD 19,859 19,921 20,701
CNY - 3,802 3,948
HKD 3,245 3,255 3,392
KRW 17.81 18.57 20.24
THB 736.73 745.83 798.34
NZD 14,216 14,348 14,774
SEK - 2,531 2,622
DKK - 3,820 3,955
NOK - 2,642 2,737
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,943.52 - 6,708.57
TWD 738.92 - 895.23
SAR - 6,804.67 7,168.4
KWD - 82,113 87,375
AED - 6,821 7,350
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,770 25,800 26,180
EUR 28,696 28,811 30,022
GBP 33,799 33,935 34,967
HKD 3,244 3,257 3,374
CHF 30,835 30,959 31,908
JPY 160.92 161.57 169.55
AUD 17,744 17,815 18,412
SGD 19,963 20,043 20,638
THB 755 758 796
CAD 17,902 17,974 18,571
NZD 14,344 14,900
KRW 18.65 20.64
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25790 25820 26180
AUD 17688 17788 18713
CAD 17851 17951 18965
CHF 30894 30924 32505
CNY 3818.2 3843.2 3978.3
CZK 0 1170 0
DKK 0 3970 0
EUR 28623 28653 30378
GBP 33830 33880 35641
HKD 0 3315 0
JPY 161.12 161.62 172.15
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2745 0
NZD 0 14333 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2590 0
SGD 19909 20039 20760
THB 0 718.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14050000 14050000 14350000
SBJ 12500000 12500000 14350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,680 25,800 26,170
USD20 25,650 25,800 26,170
USD1 25,630 25,800 26,170
AUD 17,760 17,860 18,979
EUR 28,530 28,630 30,305
CAD 17,811 17,911 19,228
SGD 20,002 20,152 20,722
JPY 161.9 163.4 169.05
GBP 33,761 33,911 35,008
XAU 14,048,000 0 14,352,000
CNY 0 3,723 0
THB 0 754 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 05/10/2026 13:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30