Hoạt động tín dụng có thể tiếp tục tăng trưởng vào cuối năm

Yến Lynh
(TBTCO) - Các chuyên gia dự báo trong 6 tháng cuối năm 2024, hoạt động kinh tế vĩ mô sẽ được cân đối, kéo theo hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp cũng sẽ rầm rộ. Vì vậy các ngân hàng cho vay nhiều hơn và buộc họ phải huy động vốn nhiều hơn để cho vay. Phóng viên TBTCVN đã có cuộc trò chuyện cùng TS. Nguyễn Trí Hiếu - chuyên gia tài chính ngân hàng, xung quanh nội dung tăng trưởng tín dụng những tháng cuối năm.
aa
Hoạt động tín dụng có thể tiếp tục tăng trưởng vào cuối năm
Tăng trưởng tín dụng đang đi theo những mục tiêu đặt ra. Ảnh tư liệu minh họa.

PV: Lãi suất huy động tại một số ngân hàng đã tăng trở lại, thậm chí có nơi tăng lãi suất tới gần 1%/năm so với trước đó, theo ông nguyên nhân nào khiến lãi suất tăng như vậy?

TS. Nguyễn Trí Hiếu: Nguyên nhân khiến cho lãi suất huy động tăng do trong thời gian gần đây có thể do hoạt động tín dụng được khơi thông trở lại. Trong 4 tháng đầu năm 2024, tăng trưởng tín dụng rất thấp, thậm chí âm trong tháng đầu. Đến đầu tháng 5/2024, có thể ngân hàng nhận thấy đầu ra của tín dụng đã trở nên khả quan hơn, vì vậy các ngân hàng cho vay nhiều hơn và buộc họ phải huy động vốn nhiều hơn để cho vay.

Thêm nữa, có thể khách hàng đang không hài lòng với các mức lãi suất tiết kiệm như thời gian trước, trong khi những kênh đầu tư khác như vàng đang tăng cao, trở nên hấp dẫn hơn. Chính vì thế, để giữ chân khách hàng, các ngân hàng buộc phải nâng lãi suất.

Hoạt động tín dụng có thể tiếp tục tăng trưởng vào cuối năm
TS. Nguyễn Trí Hiếu

PV: Theo ông từ nay đến cuối năm 2024, lãi suất huy động liệu có tiếp tục tăng không, thưa ông?

TS. Nguyễn Trí Hiếu: Theo tôi, hoạt động tín dụng có thể sẽ tăng trưởng vào cuối năm 2024. Bởi đây là thời điểm các ngân hàng cần huy động vốn để cho vay, họ sẽ tăng lãi suất huy động để có thể hấp dẫn người dân gửi tiền tại các ngân hàng.

Bên cạnh đó, chúng ta biết rằng, thị trường tài chính và tất cả các hoạt động sản xuất kinh doanh có vẻ như vẫn trầm lắng trong nửa đầu năm 2024, trừ thị trường chứng khoán. Tuy nhiên, trong 6 tháng cuối năm 2024, hoạt động kinh tế vĩ mô sẽ được cân đối kéo theo hoạt động về xuất nhập khẩu cũng sẽ rầm rộ hơn. Do vậy, lãi suất của các ngân hàng cho vay sẽ tăng lên, khiến cho lãi suất huy động tăng theo.

Về tình hình thế giới, việc Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) có thể sẽ giảm lãi suất trong những tháng cuối năm 2024. Điều này có thể sẽ tác động đến mặt bằng lãi suất của Việt Nam. Từ đó các nhà kinh doanh tại Việt Nam có thể sẽ nhập khẩu nhiều hơn, kéo theo cầu tín dụng cũng sẽ mạnh mẽ hơn trong những tháng cuối năm.

Tóm lại, áp lực nâng lãi suất với các ngân hàng Việt Nam trong nửa sau của năm 2024 sẽ giảm đi so với nửa năm đầu. Với khoảng thời gian còn lại của năm 2024, dự báo lãi suất huy động sẽ tăng tối đa 1% tùy kỳ hạn.

PV: Vậy để thúc đẩy tăng trưởng tín dụng đáp ứng nhu cầu tín dụng, đưa dòng tiền vào sản xuất kinh doanh thì cần phải giải pháp gì, thưa ông?

TS. Nguyễn Trí Hiếu: Chắc chắn để tăng trưởng tín dụng thì các ngân hàng cần phải có vốn và họ sẽ phải huy động vốn với lãi suất cao hơn để đáp ứng nhu cầu về tín dụng. Nhưng đồng thời với việc lãi suất của huy động tăng cao hơn, có thể lãi suất cho vay cũng sẽ tăng chứ không giảm. Dòng tiền có thể sẽ lại đổ vào sản xuất kinh doanh nhiều hơn so với nửa đầu của 2024.

Với các nhà sản xuất kinh doanh khi có đơn đặt hàng thì họ cũng sẵn sàng trả lãi suất cao hơn, để mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh.

Doanh nghiệp cần có phương án kinh doanh ứng biến với những kịch bản khác nhau

Theo ông Nguyễn Trí Hiếu, các doanh nghiệp cần có những kế hoạch, phương án kinh doanh cụ thể ứng biến với những kịch bản khác nhau, kịch bản đó dựa trên những giả định về lãi suất, về tình hình kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Những giả định đó dựa trên những thay đổi về tỷ giá và những thay đổi về vấn đề nguồn vốn, trong đó có nguồn vốn ngân hàng, nguồn vốn từ thị trường chứng khoán.

Vấn đề chính ở đây là rất nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ không đủ khả năng để vay tiền ngân hàng. Họ không thể tiếp cận được với ngân hàng, thành ra để giải quyết vấn đề vốn cho các doanh nghiệp cần phải phát triển quỹ bảo lãnh tín dụng. Chúng ta đã có quỹ bảo lãnh tín dụng địa phương, nhưng những quỹ này còn nhỏ, giới hạn. Theo tôi cần phải thành lập một quỹ tín dụng quốc gia, với số vốn điều lệ lớn hơn.

Một điều mà tôi muốn nhấn mạnh nữa cho hoạt động tín dụng cũng như hoạt động sản xuất kinh doanh của cả nước trong năm nay, đây là năm có rất nhiều biến động về địa chính trị trên toàn cầu, cũng như là những thay đổi về chính sách tiền tệ của các quốc gia. Đặc biệt, những biến cố quân sự tại Ukraine, tại Trung Đông và những chính sách tiền tệ của Mỹ, của các nước Tây Âu sẽ tạo nên những khủng hoảng, thay đổi về chính trị cũng như tình hình kinh tế thế giới.

Chính vì thế, Việt Nam cần phải có những phương án. Thứ nhất, Chính phủ Việt Nam cần phải có một kế hoạch để đối phó với những chuyển biến những khủng hoảng trên thế giới.

Thứ hai, các doanh nghiệp cần phải có những kế hoạch, phương án kinh doanh cụ thể ứng biến với những kịch bản khác nhau, kịch bản đó dựa trên những giả định về lãi suất, về tình hình kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Những giả định đó dựa trên những thay đổi về tỷ giá và những thay đổi về vấn đề nguồn vốn, trong đó có nguồn vốn ngân hàng, nguồn vốn từ thị trường chứng khoán. Tôi lấy ví dụ, thói quen truyền thống của các doanh nghiệp ở Mỹ luôn luôn có 2 kịch bản. Nếu kịch bản A không thực hiện được, họ sẽ rút kịch bản B để thực hiện kế hoạch kinh doanh.

PV: Xin cảm ơn ông!

Nhiều ngân hàng tăng lãi suất huy động

Từ đầu tháng 5 đến nay đã có khoảng 20 ngân hàng tăng lãi suất huy động, mức tăng cao nhất lên đến 0,5%/năm. Có ngân hàng tăng lãi suất 2 - 3 lần chỉ trong một tháng.

Cụ thể, HDBank vừa tăng lãi suất các kỳ hạn với mức tăng 0,3%/năm, áp dụng với các khoản tiền gửi cá nhân kỳ hạn 1 - 18 tháng.

Tại Nam A Bank, khi gửi online 18 tháng có lãi suất cao nhất 6,3%/năm cho kỳ hạn 36 tháng. Tuy nhiên, số tiền gửi phải từ 500 tỷ đồng trở lên và cần được tổng giám đốc ngân hàng phê duyệt. Còn kỳ hạn từ 18 đến 36 tháng sẽ được hưởng lãi suất là 5,4%/năm. Lãi suất tiết kiệm khi gửi tiền tại quầy, lĩnh lãi cuối kỳ trong tháng 5 dao động khoảng 0,5 - 5,4%/năm.

VIB cũng vừa tăng lãi suất huy động lần thứ 3 liên tiếp kể từ đầu tháng. Theo đó, lãi suất huy động tiền gửi online kỳ hạn 1 tháng của ngân hàng này đã tăng 0,3 %, lên 2,8%/năm. Trong khi lãi suất huy động kỳ hạn 3 - 5 tháng tăng 0,1%/năm, lên mức 3,1%/năm.

Techcombank cũng tăng lãi suất tiết kiệm 2 lần liên tiếp ngay đầu tháng 5. Hiện lãi suất huy động cao nhất ngân hàng này áp dụng cho kỳ hạn 12 - 36 tháng là 4,7%/năm.

MB cũng tăng lãi suất huy động kỳ hạn 1 - 15 tháng thêm 0,1 - 0,2%/năm. Sau khi điều chỉnh lãi suất cao nhất là 4,6%/năm, áp dụng cho kỳ hạn từ 12 - 15 tháng.

Các chuyên gia kinh tế cho rằng, việc tăng lãi suất huy động của các ngân hàng là theo xu hướng của các thị trường quốc tế và nhằm cân bằng so với lợi suất của các kênh đầu tư khác trên thị trường.

Ngoài ra, lãi suất huy động cần phải tăng lên để bảo vệ tiền đồng. Hiện Việt Nam đang áp dụng chính sách tiền tệ ngược với xu hướng chung của thế giới. Công cụ cuối cùng của Ngân hàng Nhà nước là lãi suất điều hành vẫn chưa tăng. Trong khi đó, áp lực tỷ giá được nhận định sẽ còn tăng lên.

Yến Lynh

Đọc thêm

Cảnh báo lừa đảo mạo danh cơ quan Bảo hiểm xã hội yêu cầu cài đặt “thẻ BHXH điện tử”

Cảnh báo lừa đảo mạo danh cơ quan Bảo hiểm xã hội yêu cầu cài đặt “thẻ BHXH điện tử”

(TBTCO) - Bảo hiểm xã hội Việt Nam khẳng định: Cơ quan Bảo hiểm xã hội không có chủ trương gọi điện, nhắn tin yêu cầu người dân cài đặt “thẻ bảo hiểm xã hội điện tử” hoặc cung cấp thông tin cá nhân để cập nhật dữ liệu trên ứng dụng VssID - Bảo hiểm xã hội số.
Bảo Tín Mạnh Hải xác nhận kế hoạch IPO, chờ được cấp phép sản xuất vàng miếng

Bảo Tín Mạnh Hải xác nhận kế hoạch IPO, chờ được cấp phép sản xuất vàng miếng

(TBTCO) - Chiều ngày 18/5, đại diện Công ty Cổ phần Vàng bạc Đá quý Bảo Tín Mạnh Hải xác nhận thông tin về việc lên kế hoạch chào bán cổ phiếu lần đầu ra công chúng (IPO) vào quý IV/2026. Ngoài ra, công ty đã nộp hồ sơ xin cấp phép sản xuất vàng miếng và đã chuẩn bị sẵn sàng sản xuất ngay khi được cấp phép.
Quỹ Bảo hiểm xe cơ giới trao hỗ trợ nhân đạo cho gia đình nạn nhân tai nạn giao thông tại Lạng Sơn

Quỹ Bảo hiểm xe cơ giới trao hỗ trợ nhân đạo cho gia đình nạn nhân tai nạn giao thông tại Lạng Sơn

(TBTCO) - Quỹ Bảo hiểm xe cơ giới - Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam vừa phối hợp với chính quyền địa phương và doanh nghiệp bảo hiểm tổ chức trao hỗ trợ nhân đạo cho gia đình nạn nhân tử vong do tai nạn giao thông tại tỉnh Lạng Sơn.
Generali Việt Nam khẳng định vị thế trong đổi mới sản phẩm bảo hiểm tại Giải thưởng Rồng Vàng 2026

Generali Việt Nam khẳng định vị thế trong đổi mới sản phẩm bảo hiểm tại Giải thưởng Rồng Vàng 2026

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Generali Việt Nam vừa được vinh danh tại Giải thưởng Rồng Vàng 2026 - Golden Dragon Awards 2026, với danh hiệu “Tiên phong trong đổi mới sản phẩm bảo hiểm” (Pioneer in Innovation of Insurance Products).
Giá vàng hôm nay ngày 18/5: Giá vàng trong nước giữ mốc 160,5 - 163,5 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 18/5: Giá vàng trong nước giữ mốc 160,5 - 163,5 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước tiếp tục đi ngang tại nhiều doanh nghiệp lớn, với vàng miếng phổ biến ở mức 160,5 - 163,5 triệu đồng/lượng.
Ngân hàng Phương Đông khẳng định không liên quan đến tiền điện tử OCB

Ngân hàng Phương Đông khẳng định không liên quan đến tiền điện tử OCB

(TBTCO) - Ngân hàng Phương Đông (OCB) khẳng định, không phát hành, tham gia hay liên kết với bất kỳ dự án tiền điện tử, tiền ảo, token hay blockchain nào mang tên “OCB token”.
Tỷ giá USD hôm nay (16/5): USD mạnh lên đẩy DXY lên đỉnh 5 tuần, EUR và GBP đồng loạt lao dốc

Tỷ giá USD hôm nay (16/5): USD mạnh lên đẩy DXY lên đỉnh 5 tuần, EUR và GBP đồng loạt lao dốc

(TBTCO) - Sáng ngày 16/5, tỷ giá trung tâm chốt tuần ở mức 25.131 đồng, cao nhất trong khoảng 4 tháng và ghi nhận tuần tăng mạnh nhất gần hai tháng qua. Trong khi USD tự do giảm nhẹ về quanh 26.360 - 26.390 VND/USD, tương đương mặt bằng ngân hàng thương mại; nhiều nhà băng đồng loạt hạ tỷ giá EUR và GBP. Chỉ số DXY chốt tuần tại 99,3 điểm, tăng mạnh 1,43% và lên mức cao nhất trong 5 tuần gần đây.
Thị trường tiền tệ tuần 11 - 15/5: Tỷ giá trung tâm chạm đỉnh 4 tháng, lãi suất liên ngân hàng neo vùng cao 6 - 7%

Thị trường tiền tệ tuần 11 - 15/5: Tỷ giá trung tâm chạm đỉnh 4 tháng, lãi suất liên ngân hàng neo vùng cao 6 - 7%

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua, từ ngày 11 - 15/5 cho thấy, mặt bằng lãi suất liên ngân hàng tiếp tục neo cao vùng 6 - 7%/năm, trong khi nhà điều hành duy trì trạng thái hút ròng nhẹ 5.873 tỷ đồng qua kênh OMO. Tuần qua, tỷ giá trung tâm tăng mạnh nhất trong 2 tháng trở lại đây, trong bối cảnh DXY bật tăng lên trên 99 điểm.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,100 ▼30K 16,350 ▼30K
Kim TT/AVPL 16,100 ▼30K 16,350 ▼30K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,050 ▼30K 16,350 ▼30K
Nguyên Liệu 99.99 15,000 ▼30K 15,200 ▼30K
Nguyên Liệu 99.9 14,950 ▼30K 15,150 ▼30K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,800 16,200
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,750 16,150
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,680 16,130
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 161,000 ▲200K 163,500 ▼300K
Hà Nội - PNJ 161,000 ▲200K 163,500 ▼300K
Đà Nẵng - PNJ 161,000 ▲200K 163,500 ▼300K
Miền Tây - PNJ 161,000 ▲200K 163,500 ▼300K
Tây Nguyên - PNJ 161,000 ▲200K 163,500 ▼300K
Đông Nam Bộ - PNJ 161,000 ▲200K 163,500 ▼300K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,100 ▼30K 16,350 ▼30K
Miếng SJC Nghệ An 16,100 ▼30K 16,350 ▼30K
Miếng SJC Thái Bình 16,100 ▼30K 16,350 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,050 16,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,050 16,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,050 16,350
NL 99.90 14,550
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,600
Trang sức 99.9 15,540 16,240
Trang sức 99.99 15,550 16,250
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1452K 1,635 ▼3K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 161 ▼1452K 16,352 ▼30K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 161 ▼1452K 16,353 ▼30K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,603 1,633
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,603 1,634
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,583 1,618
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 153,698 160,198
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 112,612 121,512
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 101,285 110,185
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 89,958 98,858
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 85,589 94,489
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 58,727 67,627
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1452K 1,635 ▼3K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1452K 1,635 ▼3K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1452K 1,635 ▼3K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1452K 1,635 ▼3K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1452K 1,635 ▼3K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1452K 1,635 ▼3K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1452K 1,635 ▼3K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1452K 1,635 ▼3K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1452K 1,635 ▼3K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1452K 1,635 ▼3K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1452K 1,635 ▼3K
Cập nhật: 19/05/2026 12:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18272 18548 19120
CAD 18636 18914 19529
CHF 32881 33266 33914
CNY 0 3834 3926
EUR 30044 30318 31344
GBP 34543 34935 35865
HKD 0 3234 3437
JPY 159 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 15117 15701
SGD 20049 20332 20848
THB 723 786 840
USD (1,2) 26089 0 0
USD (5,10,20) 26131 0 0
USD (50,100) 26159 26179 26389
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,139 26,139 26,389
USD(1-2-5) 25,094 - -
USD(10-20) 25,094 - -
EUR 30,240 30,264 31,548
JPY 161.64 161.93 170.83
GBP 34,814 34,908 35,931
AUD 18,543 18,610 19,214
CAD 18,856 18,917 19,516
CHF 33,223 33,326 34,137
SGD 20,214 20,277 20,975
CNY - 3,811 3,936
HKD 3,306 3,316 3,437
KRW 16.23 16.93 18.33
THB 772.98 782.53 833.61
NZD 15,137 15,278 15,654
SEK - 2,761 2,845
DKK - 4,047 4,168
NOK - 2,802 2,887
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,211.55 - 6,977.15
TWD 754.53 - 908.9
SAR - 6,919.88 7,252.25
KWD - 83,792 88,705
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,129 26,149 26,389
EUR 30,105 30,226 31,405
GBP 34,720 34,859 35,865
HKD 3,295 3,308 3,423
CHF 32,960 33,092 34,024
JPY 161.76 162.41 169.73
AUD 18,480 18,554 19,143
SGD 20,230 20,311 20,891
THB 789 792 826
CAD 18,811 18,887 19,458
NZD 15,182 15,714
KRW 16.84 18.48
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26389
AUD 18469 18569 19495
CAD 18818 18918 19932
CHF 33146 33176 34751
CNY 3816.3 3841.3 3976.4
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30231 30261 31987
GBP 34849 34899 36659
HKD 0 3355 0
JPY 162.27 162.77 173.28
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15230 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20207 20337 21070
THB 0 753.2 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16130000 16130000 16380000
SBJ 14000000 14000000 16380000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,180 26,230 26,389
USD20 26,180 26,230 26,389
USD1 23,877 26,230 26,389
AUD 18,543 18,643 19,759
EUR 30,387 30,387 31,810
CAD 18,764 18,864 20,180
SGD 20,289 20,439 21,265
JPY 162.73 164.23 168.87
GBP 34,759 35,109 35,987
XAU 16,128,000 0 16,382,000
CNY 0 3,725 0
THB 0 790 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 19/05/2026 12:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80